Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

"Lê máy chém đi khắp miền Nam"... _ Luật 10/59 của Ngô Đình Diệm


ap_20101105081549571.jpg

Máy chém trong bảo tàng chứng tích tội ác chiến tranh

Trong buổi truyền hình trực tiếp của VTV về nhạc sỹ Văn Ký tối thứ 7 (ngày 13/11/2011) vừa rồi, khi giới thiệu về hoàn cảnh ra đời của bài hát “bài ca hy vọng” của nhạc sỹ Văn Ký, cô MC cho biết, thời điểm mà bài hát này ra đời là lúc phong trào cách mạng ở miền Nam bị đàn áp rất khốc liệt, Mỹ - Ngụy “…lê máy chém đi khắp miền nam giết hại các chiến sỹ cộng sản, người dân yêu nước”.
Theo tôi biết, khi miền Nam được giải phóng chỉ có một máy chém nặng cả tấn để ở nhà lao Chí Hòa (Sài Gòn), thực chất mang tính chất dọa dẫm, biểu thị quyền lực, luật pháp của một chế độ chứ nó không hề dùng để chặt đầu người. Tôi được biết, dưới chế độ của ông Ngô Đình Diệm, duy nhất có một lần dùng máy chém để chém đầu ông Hoàng Lệ Kha, một nhân sỹ yêu nước ở Tây Ninh (xin lỗi nếu tôi nhớ nhầm họ tên ông này, vì tôi nghe chuyện này lâu lắm rồi, qua một nhà sử học nổi tiếng). Về sau, thấy dã man, ông Ngô Đình Diệm yêu cầu không sử dụng biện pháp tử hình này nữa.

Lịch sử cần tôn trọng sự thật. Bây giờ nhiều sự thật đã sáng tỏ và đang sáng tỏ, không thể tô hồng hay bóp méo, xuyên tạc.

Lòng dân chỉ hòa hợp, đoàn kết khi mọi hiểu lầm qua đi, mọi khúc mắc của lịch sử được giải đáp, những điều không đúng được sửa sai.

“… Lê máy chém đi khắp miền nam…” phải khẳng định, điều này trước năm 1975 ở miền Nam là không có!
Đã không có thì không nên nhắc lại.
Nhắc lại là sự xuyên tạc, cố chấp, không thật lòng.
Nên không?


Trần Kỳ Trung



Luật 10/59 của Ngô Đình Diệm


Ở Việt Nam, từ nhỏ chúng ta đã được học về sự tàn bạo của Luật 10/59 mà Ngô Đình Diệm đã dựa vào nó để "lê máy chém" đi khắp miền Nam. Tuy nhiên, có rất ít tài liệu đề cập đến vấn đề này và cũng ít người được đọc nguyên văn luật này. Tôi xin đưa lên đây bài này (trích từ talawas) và nguyên văn Luật 10/59 (chỉ có bản tiếng Anh) để mọi người tham khảo)


Frank Nguyen - Sự thật về Luật 10/59?

Trong bài trả lời ông Lê Xuân Khoa, ông Nguyễn Hòa có viết: "Chẳng lẽ Giáo sư đã quên Luật 10/59 và những "cỗ máy chém" lê khắp miền Nam?... "Phục hồi sự thật" mà quên các sự kiện này thì "phục hồi" sao được!"

Từ một cuộc thảo luận về luật 10/59 thời Ngô Ðình Diệm tại một diễn đàn khác mà tôi có tham gia, tôi ghi nhận như sau:

Luật 10/59 là một đạo luật trị an, không nhắm vào hoặc kỳ thị bất cứ thành phần nào trong xã hội miền Nam thời đó, nhưng bây giờ nó cứ bị bắt buộc phải hiểu là để "trừng trị" cộng sản.

Thông tin về luật 10/59 từ trang:http://vietnam.vassar.edu/doc6.html có thể còn thiếu sót, nhưng ở đây tôi không thấy đề cập gì đến cộng sản cả.

Không có một con số thống kê chính xác hoặc có thể tin tưởng được về con số người "bị chém". Có một con số do ông William Duiker đưa ra là vào khoảng "hơn hai nghìn người bị chém" trong vòng hai năm 57 tới 59, và thông tin này lấy từ nguồn là ông Trần Bạch Ðằng viết vào năm 69. Câu nói "lê máy chém" dường như cũng từ ông Trần Bạch Ðằng (?). Cho đến ngày nay có ai dám hỏi ông Trần Bạch Ðằng về những "sự thật" này không? Sau đây là phần trích từ cuốn Ho Chi Minh: A Life, p. 510 của ông William Duiker:

Between 1957 and 1959, more than two thousand suspected Communists were executed, often by guillotine after being convicted by roving tribunals that circulated throughout the rural regions of the RVN; thousands more who were suspected of sympathy with the revolutionary cause were arrested and placed in prison.

Trong cuốn Việc từng ngày của mình, tác giả Ðoàn Thêm ghi nhận rằng vào năm 59 chỉ có MỘT người bị xử tử bằng máy chém. Tôi có thấy qua cái máy chém này được trưng bày tại "Phòng trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy" trên đường Võ Văn Tần (Trần Quý Cáp cũ).

Sau đây là một vài nhận xét của tôi viết từ một diễn đàn khác:

Có ai đọc được bất cứ thống kê nào từ sách giáo khoa hồi đó cho tới bây giờ là có bao nhiêu người đã bị đưa lên máy chém không? Tại sao phải "kéo lê"? Nếu ông Diệm tàn ác như vậy thì mỗi tỉnh, mỗi quận phải có một máy chém chứ, đâu cần phải kéo từ nơi này qua nơi kia. Máy chém trưng bày ở "phòng trưng bày tội ác Mỹ-Ngụy" đâu có khó làm. Tui nghĩ đây là hình thức răn đe nhiều hơn là trừng phạt thật sự.

Theo thông tin của ông Duiker đưa ra thì chiến dịch "tố cộng" thời ông Diệm kéo dài khoảng hai năm. Cứ làm một con tính đơn giản: hơn hai nghìn người bị chém trong hai năm trời, liên tục không nghỉ lễ và chủ nhật thì trung bình máy phải chém ba người một ngày, và với nhịp độ chém như vậy thì chắc không có thời giờ để "kéo lê" nó từ chỗ này sang chỗ khác được, trừ phi phải chém bù.

Nếu số lượng bị chém cao như vậy mà báo chí miền Nam không hó hé một tí gì thì mật vụ thời đó làm việc quá hiệu quả. Trong khi đó chỉ một vài vụ tra tấn, đánh Phật tử thì báo chí miền Nam và ngoại quốc đã làm ầm lên rồi. Tại sao vậy?

Mật vụ miền Nam thời Ngô Đình Diệm - do ông Trần Kim Tuyến phụ trách - làm việc quá hiệu quả, không có sơ sót gì, tới độ cả báo chí miền Nam lẫn báo chi ngoại quốc không biết, rồi CIA cũng mù tịt không biết gì luôn. Cho tới nay tất cả bí mật thời Ngô Đình Diệm đều đã được phanh phui trước công luận, kể cả việc ám sát ông Diệm do Mỹ điều khiển ra sao, phản ứng của Kennedy ra sao sau khi nghe tin ông Diệm bị giết..., mọi người đều rõ. Vậy mà việc chém đầu bằng máy chém vẫn không được tiết lộ. Tại sao vậy?

Tại sao vậy?
Tại sao vậy?Tại sao vậy?
Tại sao vậy?Tại sao vậy?Tại sao vậy?

Excerpts from Law 10/59, May 6,1959.


Article 1
Sentence of death, and confiscation of the whole or part of his property, will be imposed on whoever commits or attempts to commit one of the following crimes with the aim of sabotage, or upon infringing upon the security of the State, or injuring the lives or property of the people:
1. Deliberate murder, food poisoning, or kidnapping.
2. Destruction, or total or partial damaging, of one of the following categories of objects by means of explosives, fire, or other means:
(a) Dwelling-houses, whether inhabited or not, churches, pagodas, temples, warehouses, workshops, farms and all outbuildings belonging to private persons;
(b) Public buildings, residences, offices, workshops, depots, and, in a more general way, all constructions of any kind belonging to the State, and any other property, movable or unmovable, belonging to, or controlled by the State, or which is under the system of concession, or of public management;
(c) All means of transport, all kinds of vehicles;
(d) Mines, with machines and equipment;
(e) Weapons, military material and equipment, posts, buildings, offices, depots, workshops, and constructions of any kind relating to defense or police work;
(f) crops, draft animals and farm equipment...;
(g) Installations for telecommunications, postal service, broadcasting, the production and distribution of electricity and water...;
(h) Dikes, dams, roads, railways, airfields, seaports, bridges, channels, or works relating to them;
(i) Waterways, large or small, and canals....

Article 3
Whoever belongs to an organization designed to help to prepare or to perpetuate crimes enumerated in Article I, or takes pledges to do so, will be subject to the sentences provided for....

Article 6
Three special military courts are set up and based in Saigon, Ban Me Thuot, and Hue.... As the need arises, other special military courts may be set up, by decree,...

Article 16
The decisions of the special military court are not subject to appeal....

Article 20
All legal provisions which are contrary to the present law are hereby repealed...
Ngo Dinh Diem
Sai gon, May 6 1959

Lấy ý kiến nhân dân và trưng cầu dân ý


Nguyễn Quang A

Ngày 2-1-2013 Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 được công bố để lấy ý kiến nhân dân trong ba tháng. Nhiều người lẫn giữa việc lấy ý kiến của nhân dân và việc trưng cầu dân ý. Hãy thử làm rõ sự khác biệt này.
Hiến pháp là của ai? Ai là người quyết định về Hiến pháp và họ quyết định thế nào? Đáng tiếc những vấn đề cơ bản như vậy từ rất lâu vẫn bị hiểu nhầm.
Từ điển Tiếng Việt (NXB Đà Nẵng 2011 và các từ điển trước đó khá lâu) vẫn định nghĩa hiến pháp là “đạo luật cơ bản của nhà nước, quy định chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, quyền và nghĩa vụ công dân, tổ chức bộ máy nhà nước”. Có lẽ những người soạn dự thảo lần này cũng vẫn hiểu lầm như thế.
Nếu muốn xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân, thì mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân. Hiến pháp không phải là của nhà nước, mà là của nhân dân. Trong Hiến pháp nhân dân là chủ thể, là người quyết định, là những người trao quyền cho nhà nước (phân quyền cho các nhánh nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp) đến mức nào và như thế nào để bảo vệ các quyền tự do và sự hạnh phúc của người dân. Đấy là quyền tối cao của nhân dân. Như thế nhân dân là người quyết định Hiến pháp. Đối tượng của Hiến pháp (đối tượng phải thi hành, phải tuân thủ Hiến pháp và bị hạn chế quyền lực bởi Hiến pháp) chính là nhà nước chứ không phải người dân.
Tất nhiên, việc đòi hỏi tất cả nhân dân cùng tham gia vào soạn ra Hiến pháp là việc bất khả thi.
Nhân dân có thể ủy thác cho các nhóm không quá đông người (có thể là một Quốc hội lập hiến hay các nhóm có chức năng như vậy) để soạn ra (các) dự thảo Hiến pháp.
(Các) dự thảo đó phải được công bố công khai để nhân dân góp ý và thảo luận trong một thời gian đủ dài.
Trên cơ sở góp ý và thảo luận công khai đó (các) dự thảo cuối cùng được hoàn thiện (tốt nhất là: (a) chỉ có 2 dự thảo hoàn chỉnh cuối cùng; hay (b) có 1 dự thảo với một số điều cốt lõi mà mỗi điều có 2 lựa chọn khác nhau; hoặc (c) có 1 dự thảo hoàn chỉnh duy nhất) để đưa ra trưng cầu dân ý.
Trong trưng cầu dân ý tất cả các công dân bằng lá phiếu của mình đều có quyền lựa chọn: (a) tán thành (một trong 2) bản dự thảo; hoặc (b) tán thành từng lựa chọn của các điều cơ bản của một dự thảo; hay (c) tán thành hoặc bác bỏ một dự thảo hoàn chỉnh duy nhất.
Việc bỏ phiếu phải được diễn ra một cách tự do và việc kiểm phiếu phải được giám sát chặt chẽ (bởi người dân, báo chí, đại diện của các tổ chức quốc tế) để tránh sự gian lận. Kết quả Hiến pháp được thông qua sẽ là: (a) bản dự thảo nào được đa số cử tri tán thành; hay (b) dự thảo Hiến pháp với các điều khoản cơ bản theo đúng lựa chọn của đa số; hoặc (c) dự thảo duy nhất được đa số cử tri tán thành hay Hiến pháp cũ (nếu dự thảo duy nhất này bị đa số bác bỏ).
Chỉ với việc quyết định của nhân dân, thông qua trưng cầu dân ý như trên, thì Hiến pháp mới thực sự là Hiến pháp.
Như thế có thể thấy hai khâu “lấy ý kiến của dân” và “trưng cầu dân ý” là 2 khâu tách biệt và đều rất quan trọng.
Không có lấy ý kiến của nhân dân, không có thảo luận công khai hay không có đủ thời gian để thảo luận công khai về (các) dự thảo, để hình thành (các) dự thảo cuối cùng sẽ dẫn đến một Hiến pháp không tốt, không tạo ra sự đồng thuận trong nhân dân và như thế có thể gây chia rẽ, có hại cho sự phát triển của đất nước.
Việc thông qua Hiến pháp bằng trưng cầu dân ý ở Ai cập vừa qua là một thí dụ như vậy. Tại Ai Cập đã có trưng cầu dân ý, nhưng đã không có sự tham gia, lấy ý kiến, thảo luận của nhân dân (hay các nhóm khác nhau) để hình thành bản dự thảo cuối cùng đưa ra trưng cầu dân ý. Khi không có sự thảo luận công khai để cho các ý kiến khác nhau đối chọi với nhau, thì người dân thiếu thông tin và rất dễ nhầm trong lựa chọn (tán thành hay bác bỏ) của mình.
Chúng ta để 3 tháng lấy ý kiến nhân dân. Để cho việc lấy ý kiến được hiệu quả thì việc khuyến khích thảo luận, tranh luận công khai về nội dung của dự thảo là hết sức quan trọng.
Nếu không có thảo luận, tranh luận mà mỗi người chỉ viết ra ý kiến của mình và gửi cho ban soạn thảo thì việc lấy ý kiến rất dễ biến thành hình thức. Không có sự cọ xát, thậm chí sự đối đầu kịch liệt của các ý kiến khác nhau thì không thể hình thành các nhóm ý kiến chính được phản ánh trong 2 lựa chọn của bản dự thảo cuối cùng, khiến cho việc tiếp thu ý kiến là không thể. Ban soạn thảo dẫu có 5 đầu 6 tai cũng không thể đánh giá, phân loại ý kiến của hàng triệu người. Thiếu thảo luận, thiếu tranh luận tự do và công khai hay cản trở việc hình thành các nhóm khác nhau có các ý kiến khác nhau để giúp cho quá trình lấy ý kiến được hiệu quả thể hiện trong các dự thảo cuối cùng, thì việc lấy ý kiến của nhân dân dễ trở thành hình thức, tốn tiền của, công sức và vô ích.
Sau khi đã có thảo luận, tranh luận để hình thành (các) dự thảo cuối cùng mà nhân dân không được quyết định thông qua lá phiếu của mình, thì Hiến pháp, dẫu có được 100% “đại biểu” thông qua, cũng không phải là Hiến pháp thực sự để tạo ra một nhà nước của dân, do dân, vì dân nhằm hạn chế quyền lực của nhà nước và bảo vệ các quyền tự do của người dân.
Việc khuyến khích nhân dân góp ý, thảo luận, tranh luận là rất đáng hoan nghênh. Sau ba tháng nên hoàn chỉnh (các) dự thảo và đưa ra cho toàn dân quyết định. Làm được vậy là một bước tiến lớn để xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân và góp phần hết sức quan trọng để làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
Ghi chú: Bài đã được đăng trên Lao động Cuối tuần, Số 1, thứ Năm, 3/1/2013, hầu như không thay đổi với bản gốc dưới đây.

Ơ-rê-ka! 5 giải pháp “thần kì” cho nền kinh tế Việt


T/S Alan Phan

Đầu năm, các chuyên gia, dù được trả lương hay không, thi nhau nhào nắn các số liệu để kê đơn tìm thuốc cho nền kinh tế Việt. Tôi thì đã nói rõ là khi một chiếc xe bị mắc kẹt giữa đầm lầy thì giải pháp trước mắt là kéo chiếc xe ra khỏi đó bằng bất cứ phương tiện nào chấp nhận được với các chính trị gia, rồi sau đó mới chẩn bệnh và sửa xe (hoặc mô tơ, hoặc hệ thống điện hoặc bộ thắng…).
Tuy nhiên, giới truyền thông Việt Nam rất kiên cường. Họ quả quyết là các chuyên gia phải suy nghĩ cho ra khía cạnh thuần túy kinh tế của các giải pháp hay dự đoán (vì định hướng của chúng ta là có thể làm kinh tế mà không cần đến chánh trị). Hơn nữa, bài viết phải bầy tỏ sự “lạc quan, tích cực” của tình hình 2013 như Bộ Tuyên Truyền vừa chỉ thị (bất cứ gì xẩy ra ở Việt Nam phải tuân theo các đầu óc đang mơ màng sau hậu trường).
Nể bạn bè, đây là bài viết “không” phải do suy nghĩ của mấy năm học kinh tế hay 43 năm làm ăn; mà từ tư duy đơn giản của một anh già vừa ốm dậy, cơ thể đang còn lâng lâng với thuốc trụ sinh và những chuyện cổ tích thần kỳ về một thiên đường trong mơ tại quê nhà.
Trên căn bản, đây là 5 giải pháp thần kỳ, quá đơn giản và quá dễ thực hiện, cho nền kinh tế xứ này với một bảo đảm rất “sơn đông mãi võ” là bệnh nhân sẽ khỏi bệnh trong vòng 3 tháng.

1. Đóng cửa hết các báo chí truyền thông

Cuối năm, Thống Đốc NHNN có tiết lộ là 40 đến 50% các vấn đề về hệ thống tài chánh xứ này là do báo chí tạo ra. UREKA. Một em học sinh lớp 3 cũng biết rằng dập tắt nguyên nhân gây bệnh sẽ là giải pháp hợp lý nhất. Chỉ với một nghị định nửa trang giấy, chánh phủ có thể quyết định đóng cửa tất cả báo chí, các cơ quan truyền thanh, truyền hình, cơ sở xuất bản, nhà in… Chỉ một sáng một chiều, nền tài chánh sẽ cải thiện ít nhất là 40% mà không cần một động thái nào khác.
Nếu dân có phản đối về nhu cầu giải trí thì đã có cả chục ngàn phim bộ từ Trung Quốc, Hàn Quốc… tha hồ chiếu 24/7; cộng với các diễn văn, lễ ban huân chương, tiếp kiến các ông mọi Phi Châu…từ vài chục năm qua của các quan chức (vẫn hợp thời và chưa cần hiệu đính). Dân hoàn toàn mù tịt về kinh tế tài chánh thì các quan chức khỏi mất thì giờ giải thích, tự phê hay sợ bị …bắt gặp…Thế giới thanh bình, xã hội lạc quan, người người nhà nhà thoải mái ăn nhậu…Thời Nghiêu Thuấn, Mao Mác …lên ngôi, thật tuyệt vời.

2. Không còn nợ xấu ngân hàng

Nợ trở thành nợ xấu vì người vay không trả nổi. Chỉ cần ông Thống Đốc ra một thông tư là tất cả nợ tại Viêt Nam không cần phải hoàn trả và được tái ký vô thời hạn thì tỷ lệ nợ xấu sẽ thành zero trong vài giây. Từ nợ ngân hàng đến nợ công hay tín dụng đen, mọi món nợ sẽ thành nợ tốt. Và mọi người, từ chủ nợ đến người vay, sẽ hoan hỉ xếp lại vấn đề đã tốn không biết bao nhiêu thì giờ của các chuyên viên kinh tế Việt và Tây ba lô.
Nếu có ai thắc mắc là cuối cùng rồi ai sẽ đi dọn đống rác chất núi này thì… ta cứ cười hề hề, tôi đã hết nhiệm kỳ lâu rồi, sao lại hỏi tôi?

3. Giải quyết hết nạn hàng tồn kho

Một vấn đề thiên hạ bàn loạn khá sôi nổi là số lượng hàng tồn kho không thanh lý nổi, nhất là bất động sản. Đề xuất của tôi rất đơn giản: chánh phủ mua lại hết tất cả hàng tồn kho, với số tiền vay (không lo hoàn trả) từ các ngân hàng. Sau đó, theo cách làm xin/cho của cơ chế từ mấy chục năm qua, đem ra ban phát cho những thành phần có công trạng với đất nước. Các bác lãnh đạo lớn phải có các biệt thự căn hộ cao cấp xứng tầm. Các cấp thừa hành được việc (cho ai nhỉ?) sẽ trưng dụng các món hàng rẻ hơn. Tóm lại, chỉ cần 1 tháng là không còn hàng gì để tồn kho nữa.
Nếu sáng tạo hơn, thì giao cho Cục Xổ Số nhiệm vụ bán vé số khắp nước với các lô độc đắc mỗi ngày là hàng ngàn căn BDS hay các hàng phải thanh lý như ô tô nhập khẩu, nước hoa hàng hiệu. Cả nước sẽ lên cơn sốt “lô tô” không ai còn thì giờ suy nghĩ, đặt câu hỏi về các vấn nạn khó ưa như… giáo dục, y tế, biển đảo, cướp bóc hay tham nhũng lãng phí. Một giải pháp lý tưởng cho sự ổn định của xã hội.

4. Bắt GDP phải tăng trưởng 15% mỗi năm

Để tạo ấn tượng cho toàn dân, toàn thế giới… ghi rõ trong Hiến Pháp là GDP của Việt Nam sẽ phải tăng trưởng ít nhất là 15% mỗi năm. Việc này cũng dễ thôi: bắt buộc mọi người từ quan chức đến doanh nhân đến phó thường dân phải gia tăng chi tiêu 15% mỗi năm, dùng tiền vay của các ngân hàng, của ngân sách hay của mẹ đĩ… Ban huân chương lao động hay nhân dân gì đó cho anh chị nào tiêu xài “sang” nhất nước. Đặt ra các giải thưởng như “vì Việt Nam, tăng GDP”, “ăn nhậu để xây dựng một quê hương quang vinh”…
Với sách lược tuyệt vời này, chúng ta có 90 triệu quả “đấm thép” làm sửng sốt nhân loại và không ai còn dám cười nhạo Việt Nam về việc “đi tắt đón đầu”.

5. Không còn lạm phát hay bất ổn tỷ giá

Một trong những bất cập lớn nhất của chánh phù là vấn đề lạm phát, tạo áp lực về tỷ giá hay dự trữ quốc gia. Giá trị thực sự của VN Đồng luôn bị các chuyên viên quốc tế thẩm định và soi mói. Do đó, lấy độc trị độc, chánh phủ nên bỏ VN Đồng, mà bắt đầu in “tem, phiếu” về thực phẩm, xăng dầu, hàng hóa… và trả lương cho thành phần trung kiên của chế độ bằng các tem, phiếu này. Lạm phát sẽ hoàn toàn chấm dứt và quyền ban phát tem, phiếu sẽ gia tăng quyền lực của các quan chức trở thành tuyệt đối. Đàn cừu sẽ phải vâng lệnh 100% và giải pháp siêu việt này sẽ làm Obama xấu hổ về cách giải quyết “vách đá tài chánh” (fiscal cliff) của tư bản Mỹ.
Dĩ nhiên là nếu triển khai, 5 giải pháp trên sẽ đòi hỏi nhiều chi tiết điều hành khó khăn với nhiều nghịch lý. Tuy nhiên, Việt Nam có 22 ngàn tiến sĩ và tất cả lãnh đạo đều xứng đáng nhận lãnh một nửa giải Nobel nên chúng ta có “dư” trí tuệ để giải quyết chuyện quá nhỏ này.
Sau cùng, một lãnh đạo tư tưởng của chánh phủ tuyên bố gần đây là “chúng ta phải nhớ ơn Trung Quốc vì họ đã nhường cơm xẻ áo cho Việt Nam trong các trận chiến vừa qua”. Cách trả ơn hay nhất là chúng ta đang dư thừa chất xám, nên việc xuất khẩu các nhân tài ưu việt này qua Bắc Kinh giúp cho Trung Quốc điều hành kinh tế một cách bền vững như Việt Nam là một món quà hy hữu vô cùng quý giá. 16 chữ vàng cần những đóng góp cụ thể và đắc lực.
Alan Phan

Hàng chục tướng Đài Loan làm gián điệp cho Trung cộng


tuong dai loanĐài Loan vừa phát giác có tới 87 sĩ quan thuộc lực lượng phòng vệ đảo này làm gián điệp cho Trung Quốc đại lục.
Tờ Hoàn Cầu thời báo ngày 01/01 dẫn nguồn từ tờ Apple Daily (Đài Loan) cho hay Đài Loan vừa phanh phui vụ án gián điệp lớn nhất tại đảo này từ trước đến nay.
Theo đó, Ủy ban Giám sát Đài Loan vừa yêu cầu cơ quan phòng vệ cung cấp nội dung điều tra liên quan đến vụ việc, được cho là có dính dáng đến cựu thiếu tướng La Hiền Triết. Từng đứng đầu bộ phận thông tin của cơ quan chỉ huy lực lượng phòng vệ mặt đất của Đài Loan, ông này hồi năm ngoái bị tuyên án chung thân bởi tội danh làm gián điệp cho Trung Quốc.
Trong số 87 sĩ quan nói trên có đến 5 thượng tướng, 18 trung tướng, 16 thiếu tướng, 25 đại tá, 14 trung tá, 4 thiếu tá. Nằm trong số này, ông Hoắc Thủ Nghiệp, từng đứng đầu cơ quan tham mưu lực lượng phòng vệ Đài Loan, và ông Lâm Trấn Di đang đứng đầu cơ quan tham mưu lực lượng phòng vệ Đài Loan. Bên cạnh đó, 4 nhân vật bị xem là phạm tội nghiêm trọng nhất gồm: trung tướng Kim Nãi Kiệt, từng đứng đầu cơ quan tình báo Đài Loan; Hác Bảo Tài, lãnh đạo số 2 của cơ quan tình báo Đài Loan; ông Dương Thiên Tiếu, đứng đầu lực lượng phòng vệ mặt đất Đài Loan, và thượng tướng Triệu Thế Chương.
Đến nay, phía Trung Quốc chưa đưa ra tuyên bố chính thức nào về vụ này.

Phụ nữ đòi quyền sống


  • Phụ nữ đòi quyền sống
  • Một thiếu nữ Ba Tây bán đấu giá trinh tiết, để có tiền thuốc thang cho mẹ

Phụ nữ đòi quyền sống


Vị Nhân

Đầu năm 2013 trên thế giới, ngoài vấn đề chung của toàn cầu, nơi nào cũng có lo âu và rắc rối riêng. Ở Mỹ thì tranh cãi về “vách đá tài chính” (fiscal cliff), Châu Âu khu vực đồng euro có dấu hiệu tiếp tục bấp bênh, Tây tạng lan tràn những vụ tự thiêu chống Trung quốc, Việt nam kinh tế suy thoái tham nhũng leo thang... còn Ấn độ thì các cuộc biểu tình của phụ nữ đòi được bảo vệ mỗi lúc thêm nhiều ngay cả những ngày đầu năm dương lịch.

Tất cả khó khăn của mọi nơi đều bắt nguồn từ năm cũ. Riêng ở Ấn độ cuối tháng 12, 2012 đã xảy ra nhiều vụ chà đạp lên quyền sống và nhân phẩm của phụ nữ.


Bạo hành nhân danh gia phong bị tổn hại:
Vào ngày 7 tháng 12, 2012, một nhân viên cảnh sát đang giờ trực tại một trụ sở cảnh sát tại Kolkata, thủ phủ của bang Tây Bengal, Ấn độ, bỗng nhiên giật thót mình, mở to mắt mà không tin vào cái gì mình thấy, khi một thanh niên ngang nhiên vác một con dao bản lớn và cái đầu một phụ nữ còn nhỏ máu long tong bước vào phòng làm việc và đặt thủ cấp nạn nhân lên bàn rồi cung khai. Anh ta thú nhận đã chặt đầu nạn nhân vì nạn nhân làm điếm nhục gia phong nhà anh ta.
Kẻ giết người với niềm tự hào vì mình đã làm được một công việc “thanh lý môn hộ”, được coi là cao cả vì bảo vệ đạo lý, vì đã sát hại một con chiên ghẻ, một thành viên trong gia đình gây ra sự ô nhục cho gia tộc. Hắn có tên là Mehtab Alam, 29 tuổi. Còn nạn nhân là một phụ nữ trẻ là em gái của Alam có tên là Nilofar Bibi, 22. Cuộc đời của Bibi là một thảm kịch. Vào tuổi 14 đã bị ép hôn về làm dâu một gia đình khắc nghiệt với người chồng vũ phu. Bị hành hạ quá mức nên Bibi trốn về nhà cha mẹ và nối lại tình cũ với một chàng trai trong vùng là Firoz, một người lái xe lam. Gia đình Bibi không thể chấp nhận con gái mình bỏ chồng theo trai nên quyết định lên án hành quyết Bibi và người được giao cho mệnh lệnh thi hành bản án “rửa nhục cho gia đình” chính là Alam. Alam đã vác dao xông vào nhà Firoz giữa ban ngày ban mặt, lôi em gái ra giữa đường phố rồi cắt đầu em gái. Hàng trăm con mắt của người đi đường mở to ra, sợ hãi vì chứng kiến một vụ bạo hành vô cùng dã man và hết sức thương tâm. Cô gái giãy giụa, ú ớ những lời van xin ngắn ngủi trước khi đầu rời khỏi xác và máu phun tung tóe mặt đường. Không ai can ngăn, phần vì hoảng sợ trước kẻ giết người mặt mày, áo quần dính máu với con dao sắc, phần vì như chấp nhận một hủ tục truyền từ thời xa xưa “kẻ làm hoen ố danh dự gia đình thì phải chết!”
Alam bị bắt giam nhưng không bị người thân và làng xóm chỉ trích mà hình như mọi người đều ủng hộ anh ta vì anh ta đã dũng cảm làm một công việc đầy chính nghĩa là bảo vệ đạo lý truyền thống.
Nạn nhân như Bibi không phải hiếm hoi ở Ấn. Cũng trong tháng 12, 2012, vào ngày 24 một cô gái 17 tuổi ở làng Khoraon, Kaushambi ở bang Uttar Pradesh, phía bắc Ấn bị cha dùng búa chém chết chỉ vì tội tư tình với một cậu trai 20 tuổi, cùng làng nhưng khác tín ngưỡng.
Còn ở phía tây nam Ấn, một phụ nữ 19 tuổi vào ngày 23 tháng 12, ở bang Karnataka bị cha mẹ trói lại và châm lửa đốt chết cũng vì tội làm bại hoại danh dự gia đình.
Ở Ấn đang có làn sóng công phẫn của nữ giới vì vụ một nữ sinh viên y khoa ở New Delhi bị hãm hiếp tập thể trên xe bus trước mặt bạn trai và sau đó bị hành hạ rồi vứt xác xuống đường. Nạn nhân bị thương nặng và khi được chuyển tới một bệnh viện ở Singapore thì ít lâu sau tắt thở. Vụ hãm hiếp tập thể trên xe bus ở một đại đô thị Ấn, với 6 kẻ phạm án, khó có thể bị chìm xuồng vì phong trào phản đối dâng cao. Cũng vì thế vụ Bibi bị cắt đầu đối với công chúng tạm chìm trong ý thức trong những ngày cuối năm. Nhưng đối với nữ giới thì những cái chết kiểu Bibi là những làn sóng ngầm, mạnh mẽ xô đẩy vào thành trì phong kiến của xã hội Ấn, vốn tự hào là một xã hội dân chủ hóa, vì nó làm dấy lên nhiềâu cuộc biểu tình của phụ nữ Ấn đòi quyền được bảo vệ và quyền sống bình đẳng.
Các nhà xã hội học cho rằng, cái gọi là “giết người vì danh dự” (honour killings) thường xảy ra ở những xã hội đang phát triển nơi có nhiều sắc dân theo Hồi giáo, nhất là ở Trung đông, Nam Á và Ấn độ cũng không là ngoại lệ.
Một nhân vật trong NCW, ủy ban quốc gia bảo vệ phụ nữ Ấn (NCW-National Commission for Women), đã bác bỏ khái niệm “giết người vì danh dự” vì: “Giết người là giết người. Đó là một tội phạm, phản hiến và phi pháp. Làm sao có 'danh dự' trong việc sát nhân?”

Một nhà tranh đấu cho nữ quyền khác ở Ấn cho rằng phương Tây dùng chữ “honour killing” như sản phẩm của những xã hội lạc hậu lan truyền vào xã hội văn minh Âu Mỹ. Phương Tây coi các vụ án này là đặc biệt và nhìn với con mắt khác biệt. Từ đó nảy sinh sai lầm.
Nhiều vụ bạo hành gia đình, nạn nhân bị giết hại là phụ nữ bị gán cho là hậu quả của “honour killing” trong khi sự thực là người chồng giết vợ vì ghen tuông hay vì một nguyên nhân khác. Nhờ được gán cho là “sát nhân vì danh dự” nên có thể được khoan dung, nên hệ thống pháp lý ở nhiều nước đã trừng phạt nhẹ tay với tội nhân phạm tội loại này.
Nhưng tập tục cổ hủ sát hại phụ nữ trong khi pháp luật lại không có biện pháp thanh trừ tệ nạn nên phụ nữ ở những quốc gia như Ấn chịu nhiều thiệt thòi trong khi họ tự hào là đang sống trong một quốc gia dân chủ kiểu mẫu ở Á châu.
Nhà làm phim Jean Claude Codsi mới đây (2012) cho trình chiếu cuốn phim của ông có tên là A Man of Honor tại đại hội điện ảnh quốc tế ở Cairo với nội dung là một bi kịch sát nhân vì danh dự, nhìn nhận “khó biết được phạm vi rộng đến đâu và con số các vụ giết người vì danh dự là bao nhiêu vì nhiều khi chúng bị che đậy dưới hình thức tai nạn hay tự tử”.
Một nghiên cứu của LHQ vào năm 2000, cho biết có khoảng chừng hơn 5.000 vụ “giết người vì danh dự” xảy ra mỗi năm trên toàn cầu. Còn NCW, ủy hội quốc gia tranh đấu cho nữ quyền của Ấn thì cho biết họ thường phải điều tra từ 70 tới 80 vụ sát nhân loại này mỗi tháng.
Ở Ấn tuy có luật đưa những phần tử gia đình chủ mưu các vụ giết người vì danh dự ra trước tòa nhưng vẫn có sự tranh cãi kịch liệt về hình phạt như bằng án tử hình, những kẻ phạm tội loại này.
Trong thực tế ở Ấn còn phải chú ý tới tập tục “phép vua còn thua lệ làng”. Thông thường hương chức trong làng, trong hội đồng gồm các già làng (elders) trong khi phán xét các vụ tranh chấp trong gia đình vẫn dựa vào hủ tục, thành kiến và mê tín, dị đoan. Có nhiều nơi hương chức trong làng đổ thừa các vụ tư tình là do sự phổ biến của điện thoại lưu động, hay “mobile phone”. Các đầu óc chậm tiến này cho rằng vì điện thoại di động nên dẫn tới phụ nữ dễ dàng hẹn hò ngoài hôn nhân và lễ giáo nên ra lệnh cấm họ dùng loại này nếu ai bị bắt gặp sẽ bị phạt. Chẳng hạn như ở làng Sundebari quy định phụ nữ độc thân bị bắt gặp cầm mobile phone sẽ bị phạt một khoản tiền tương đương 180 Mỹ kim, còn đã có gia đình bị phạt 36 Mỹ kim. Ở hạt Baghpat, Uttar Pradesh cũng có lệnh cấm phụ nữ dùng mobile phone ngoài phố.
Cảnh sát Ấn thì sao? Phần lớn giới chức bạn dân ở Ấn, nhất là ở các bang còn lạc hậu, thường xử không theo luật lệ mà theo cảm tính, và thường thờ ơ trong việc trừng phạt tội nhân và lời khiếu nại của nạn nhân.
Tuy nhiên, không phải pháp luật của Ấn tỏ ra không quan tâm tới việc trừng phạt tội ác. Cán công lý nhiều vụ tỏ ra giữ được mức thăng bằng nhưng không nhiều và không rộng khắp. Gần đây do áp lực cải cách, có nhiều vụ pháp luật Ấn đã xử trí nặng nề những kẻ giết người nấp bóng “vì danh dự”.
Trong tháng 12, một tòa án ở Punjab, đã phán quyết án tử hình ba người, trong đó có một phụ nữ về tội giết người vì danh dự gia đình mà nạn nhân là một đôi tình nhân. Paramjit Klaur, mẹ của phụ nữ bị hại và hai người thân thích khác, cách đây hai năm đã sát hại Rakesh Kumar và Pooja ở quận Ferozepur, Punjab.
Tháng bảy năm 2012, một tòa án ở Lucknow cũng phán quyết án tử hình cho bảy bị cáo trong một gia đình về tội giết người về danh dự xảy ra vào năm 2006.
Một vụ thương tâm khác xảy ra Sonipat, tiểu bang Haryana vào 26 tháng sáu, 2010 khiến dư luận Ấn sôi nổi lên án loại “sát nhân vì danh dự”.
Hai cô gái tuổi 12 và 14 là Chanchal và Raj Kumari đã bị sát hại vì bị bà nội bắt gặp họ lả lơi với một cậu bé bà con 16 tuổi. Vụ trẻ con tình tự này làm cho Vidya Devi, mẹ của Raj Kumari, và hai người con trai là Chand Varma và Suraj Varma, nổi giận. Họ đã tìm cách bắt hai cô gái phạm tội và nhốt vào một nơi vắng vẻ rồi bóp cổ cho chết, sau đó vứt xác nạn nhân xuống kênh gần làng Badwasni.
Tệ nạn sát nhân vì danh dự không hề giảm ở Ấn và nếu có giảm thì chỉ ở bề mặt dù đã có luật lệ nghiêm trị kẻ gây án. Trong một xã hội còn lạc hậu, nhiều mối kỳ thị, lắm chuyện thối nát trong khi mức mở mang dân trí, tiến bộ và bảo vệ nhân quyền chỉ ở bề mặt thì tránh sao các vụ sát nhân mượn danh nghĩa bảo vệ danh dự không phát triển.



 Một thiếu nữ Ba Tây bán đấu giá trinh tiết, để có tiền thuốc thang cho mẹ


Ba Tây: (Theo CNN): Vì không có tiền trả tiền thuốc men cho bà mẹ, một thuếu nữ 18 tuổi người Ba Tây đã đăng tin trên mạng, bán đấu giá cái trinh tiết của cô, cho dù bà mẹ của cô hết sức ngăn cản.
Cô Rebeca Bernardo cho các phóng viên đài CNN biết là cho đến đầu tháng giêng năm 2013, thì tiền bán đấu giá trinh tiết của cô đã lên đến 35 ngàn mỹ kim.
Cô Rebeca đã đăng báo bán trinh, sau khi được biết một thiếu nữ người Ba Tây khác, là cô Catarina Migliorini, 20 tuổi, đã bán trinh với giá 780 ngàn mỹ kim. Người mua là một người Nhật.
Cô Rebeca cho biết là cô quyết định sẽ bán trinh sau khi cô đủ 18 tuổi. Cô cũnng cho biết là hiện cô đi làm bồi bàn, bán mỹ phẩm, nhưng cả hai nghề này đều không kiếm đủ ăn.
Một đài truyền hình địa phương nghe tin này, đã đề nghị sẽ bỏ tiền thuốc men cho bà mẹ, nhưng cô Rebeca lại muốn có thêm tiền cho cô di chuyển theo mẹ, cho nên việc này đã không thành.

Truy tố hết cho tiện: đến lượt nguyên Chủ tịch huyện Tiên Lãng


Le Van HienTheo báo Sài Gòn Tiếp Thị, chiều 2/1, Công an thành phố Hải Phòng đã truy tố ông Lê Văn Hiền, nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, về hành vi “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Hiện ông Hiền bị cấm đi khỏi nơi cư trú.
Ông Lê Văn Hiền bị khởi tố do có liên quan đến vụ cưỡng chế đất – được cả nước biết đến dưới tên “vụ ông Đoàn Văn Vươn” ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng hồi đầu năm 2012. Khi đó, ông Hiền là Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch huyện Tiên Lãng.
Trước đó, Công an thành phố Hải Phòng cũng đã đề nghị truy tố sáu người, gồm ông Đoàn Văn Vươn; các em của ông Vươn là Đoàn Văn Quý, Đoàn Văn Sịnh, Đoàn Văn Vệ về tội “giết người”; bà Nguyễn Thị Thương (vợ ông Vươn) và bà Phạm Thị Hiền (vợ ông Quý) đồng can tội “chống người thi hành công vụ”.
Cũng bị truy tố là ông Nguyễn Văn Khanh, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân huyện Tiên Lãng; Phạm Xuân Hoa, nguyên Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện; Phạm Đăng Hoan, nguyên Bí thư xã Vinh Quang và Lê Thanh Liêm, nguyên Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Vinh Quang cùng về tội “hủy hoại tài sản”.
Nhóm người duy nhất không bị truy tố trong vụ này là... công an và quân đội được võ trang đến tận răng để tiến hành vụ cưỡng chế mà quyết định cưỡng chế được xác nhận là trái luật!
Khôi hài hơn nữa, gia đình ông Vươn còn bị đòi bồi thường cho những binh lính và công an. Báo trong nước tuần trước nói theo kết luận điều tra của Công an Hải Phòng, “Công an huyện Tiên Lãng đề nghị gia đình ông Vươn phải bồi thường là 44.888.812 đồng, Huyện đội huyện Tiên Lãng đòi bồi thường 12.297.646 đồng, ông Lê Văn Ghi (một cán bộ huyện đội) yêu cầu bồi thường 19.119.000 đồng”.

Trên 100 ngàn sinh viên Việt Nam, đi du học ở ngoại quốc


Sinh viên VN ở Mỹ

Hà Nội: Theo tin tức của bộ tài chánh Việt Nam thì những bậc phụ huynh đã bỏ ra hàng năm từ 1 tỷ mỹ kim cho đến 1.5 tỷ mỹ kim, để gửi con cái đi du học ở các nước ngoài.
Ông Nguyễn Trường Giang, phụ tá bộ trưởng tài chánh cho biết là trong niên khóa 2010-2011 có 98,536 sinh viên Việt Nam du học ngoại quốc. Và trong niên khóa 2011-2012, con số sinh viên du học lên đến 106,104 sinh viên. Đây là con số chính thức, ngoài ra còn con số đi chui, đi du học bằng thông hành du lịch và như thế con số sinh viên Việt Nam du học chắc còn nhiều lần cao hơn.
Chi phí tối thiểu cho một sinh viên du học ở nước ngoài một năm từ 10 ngàn mỹ kim cho đến 15 ngàn mỹ kim.
Khi bậc phụ huynh phải gắng sức kiếm tiền cho con du học ngoại quốc, cho thấy là phẩm chất của các trường đại học Việt Nam quá tồi.
Hiện nay chỉ có hai trường đại học ngoại quốc có chi nhánh ở Việt Nam là trường Royal Melbourne Institute of Technology và trường British Univeristy of Vietnam