Thứ Hai, 1 tháng 4, 2013

Khi Búa và Liềm nổi giận


Thùy Linh - Những ngày này ai còn có lương tri đều hướng về gia đình anh nông dân Đoàn Văn Vươn với những căm phẫn, lo âu, thương yêu, chia sẻ…Nhiều người nhắc đến vụ án Nọc Nạn, mà tính đến ngày 17/2 vừa qua đã tròn 85 năm. 

Sự thật, tính chất vụ Nọc Nạn không khác gì vụ Tiên Lãng. Anh Đoàn Văn Vươn giống người nông dân yêu đất đai và là anh hùng chống lại một chính quyền có đầy đủ sức mạnh và quyền lực là Biện Toại. 

Có thể xem vụ anh em Đoàn Văn Vươn nổ súng vào cường quyền, áp bức như một sự mở đầu cho một cuộc “Khởi nghĩa của Liềm” - một "nòng cốt" của chuyên chính vô sản. 

Trước đó, nhiều năm đã qua, các cuộc “Khởi nghĩa của Búa” năm nào cũng nổ ra, càng về sau càng gia tăng số lượng và chất lượng. Không ít những người trẻ tuổi dấn thân cho cuộc cách mạng này đã chịu nhiều đau khổ, bị tù đầy. Tiêu biểu nhất là Đỗ Thị Minh Hạnh, Đoàn Văn Chương và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng hiện vẫn còn trong nhà tù.

Khu tưởng niệm sự kiện Nọc Nạn ở Bạc Liêu
Có lần Hạnh đã khóc nói với với mẹ khi bà vào thăm con gái rằng, làm sao cô có thể nhận tội để xin giảm án 7 năm tù khi cô không làm gì sai trái, khi cô giúp những người công nhân đình công để buộc giới chủ không được bóc lột và phải tôn trọng họ? Hạnh còn nói, đó không chỉ đòi lại quyền lợi mà còn đòi sự tôn trọng nhân phẩm cho người Việt khi bị giới chủ ngoại quốc chà đạp. Ngày 12/3 năm nay, Hạnh mới tròn 28 tuổi. Em còn quá trẻ nhưng em đã thực sự trưởng thành để làm nên nhân cách của một nhà cách mạng tiêu biểu.
Dù không có Hạnh, Chương hay Hùng thì các cuộc đình công của công nhân khắp cả nước chưa hề có dấu hiệu giảm bớt, mặc dù các cuộc đình công đó luôn luôn bị các ông chủ bắt tay với chính quyền chia rẽ, đàn áp. 

Trở lại các cuộc “Khởi nghĩa của Liềm” đang ngày càng nổ ra rất nhiều trên cả nước. Sau vụ Tiên Lãng quật khởi là vụ nông dân Văn Giang kiên quyết chống lại sự cưỡng chế bất công của nhóm lợi ích được bảo vệ bởi cả hệ thống hành pháp, hành chính, và ngày 2/4 tới đây là hệ thống tư pháp vào cuộc. Tiếp đó là nông dân Vụ Bản, Dương Nội…

Và hàng ngày có ai đếm được những tốp nông dân khắp cả nước kéo về Hà Nội khiếu kiện, đòi công lý?

Nhiều người ngậm ngùi than thở, quay mặt đi và cảm thấy bất lực, vì họ cho rằng, cuộc đấu tranh của những nông dân nghèo đói, tay trắng với một chính quyền “duy nhất đúng” được bảo đảm bởi bạo lực và sự đàn áp bằng mọi giá sẽ là vô nghĩa. Dù vậy, những người nông dân chưa bao giờ lùi bước cho dù cuộc khởi nghĩa của họ khá chông chênh như chính cuộc sống hiện nay của họ vậy.

Bất luận trong gian đoạn nào, thời kỳ nào thì các cuộc cải cách (cách mạng) là cần thiết để một xã hội phát triển. Thực sự ở Việt Nam chưa bao giờ có một cuộc cách mạng theo đúng nghĩa, là, xóa bỏ chế độ cũ đã trở nên lạc hậu không thể tiếp tục tồn tại, để xây dựng một xã hội mới, có sự thay đổi căn bản, sâu sắc về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất. Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được bắt đầu sau khi cuộc đấu tranh giành độc lập thoát khỏi sự đô hộ của người Pháp, cũng chỉ là cuộc khởi nghĩa. Và để kêu gọi các lực lượng xã hội đông đảo tham gia cùng với mình, những người cộng sản đã đưa những khẩu hiệu hấp dẫn về sở hữu ruộng đất như “ruộng đất về tay dân cày”; “người cày có ruộng”; đưa tầng lớp tư sản vào mặt trận để họ đóng góp tài vật cho cuốc đấu tranh…

Những người cộng sản đầu tiên đưa lý thuyết CNCS về Việt Nam và lãnh đạo giành độc lập, chắc chắn chưa hề có ý tưởng gì về xã hội họ sẽ xây dựng trong tương lai, bởi phần lớn họ đều xuất thân từ tầng lớp ông dân thất học. Thực tế cho đến lúc này, họ vẫn đang lúng túng về lý thuyết sở hữu. Vẫn kiên định về sở hữu đất đai, tư liệu sản xuất là của toàn dân, cho dù sau hơn 83 năm nắm quyền, tính sở hữu đó đang bộc lộ gay gắt những mâu thuẫn không thể giải quyết. Và, việc xây dựng nền công nghiệp hóa là hết sức ảo tưởng. Vì công nghiệp hóa phát triển sẽ kéo theo sự phát triển giai cấp tư sản thực sự, độc lập với chính quyền. Đó chính là tư hữu. Hiện tại vẫn có giai cấp tư sản, nhưng là “tư sản đỏ”, không giúp gì cho việc cải cách xã hội theo hướng dân chủ. 

Tính sở hữu toàn dân là chủ trương của các nhà cách mạng XHCN, cho rằng thay đổi tận gốc tính tư hữu của chế độ phong kiến cũ chỉ diễn ra ở bề mặt. Thực chất, sở hữu này tập trung vào nhà nước, hay nói cách khác, tập trung vào nhóm lợi ích, tức là tư hữu. Càng sai lầm, họ càng tập trung quyền lực vào nhà nước chuyên chế thông qua bạo lực.

Trong các cuộc cách mạng tư sản ở các nước phương Tây trước đây, lúc nào cũng bảo lưu tính sở hữu tư nhân. Và sau khi dành thắng lợi thì các cuộc cách mạng đó tiệm cận dần đến một xã hội phát triển văn minh và dân chủ. Nhưng cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa thì luôn kêu gọi tiêu diệt giai cấp thống trị, địa chủ, tư bản “ngồi mát ăn bát vàng”, mà về thực chất, chính quyền hiện nay không khác gì các triều đại vua quan ngày trước, dù được che đậy hay tuyên truyền áp đặt thế nào đi chăng nữa. Vẫn là sự kế thừa đặc quyền đặc lợi vào tay một nhóm người cầm quyền và theo xu hướng truyền thừa từ đời cha ông đến đời con cháu. 

Nếu nói những người cộng sản đã lợi dụng, phản bội giai cấp nông dân sau cuộc chiến tranh giành độc lập thì cũng chưa hẳn đúng. Bản thân họ khi ấy cũng ảo tưởng về một xã hội không còn giai cấp, xóa bỏ bóc lột và chia đều sự công bằng. Nhưng làm thế nào để có được xã hội đó thì họ không biết, hoàn toàn không biết…Chính vì không biết nên họ đã áp đặt sự điều hành xã hội, vốn không bao giờ tồn tại và phát triển được qua cương lĩnh, nghị quyết đảng, chuyên chính của giai cấp vô sản. Nhưng lúc này bảo họ không biết thì lại là nhầm lẫn lớn. Hơn ai hết họ hiểu, con đường họ đang đi bế tắc không lối thoát. Nhưng nếu bảo họ từ bỏ con đường này để bước sang con đường khác là không thể vì đã rất lâu, họ quen hưởng đặc quyền từ quan hệ sản xuất “sở hữu toàn dân” rồi. Xã hội ngày càng méo mó dưới quan hệ sở hữu này. 

Đừng bao giờ nghĩ rằng, “liềm” và “búa” là lực lượng chủ yếu của chính quyền “vô sản” hiện nay. 

Công nhân vốn luôn luôn là giai cấp vô sản trong mọi xã hội. Ở xã hội tư bản thì giai cấp vô sản này sẽ biểu hiện sức mạnh của mình thông qua nghị trường. Họ có thể đình công, bãi công nếu giới chủ không thỏa mãn nguyện vọng và quyền lợi của họ, có đại diện ở nghị viện. Còn người nông dân thì sở hữu ruộng đất là điều kiện sống còn nếu họ muốn sống bằng chính mảnh đất của mình. 

Ở Việt nam, chưa bao giờ hai lực lượng “nòng cốt” này được bảo vệ và tôn trọng, dù họ được “tuyên dương” thông qua biểu tượng trên lá cờ của người cộng sản. Nông dân sẽ bị tước bỏ tư liệu sản xuất bất cứ lúc nào nhà nước (thực ra nhóm lợi ích) cần đến mà không thể đàm phán. Còn công nhân thì vẫn là làm thuê như bất cứ ở đâu, nhưng họ bị tước quyền được lên tiếng đòi hỏi quyền lợi của mình. Gần như họ bị lệ thuộc vào giới chủ hoặc trong nước, hoặc nước ngoài thông qua sự kiểm soát của chính quyền mà không có nghiệp đoàn độc lập dấu tranh giúp họ. Thực chất chính quyền hiện nay giống như thời kỳ đầu xây dựng nhà nước tư bản (chỉ có máu và nước mắt), quyền lợi tập trung vào các “tư bản đỏ” – nhóm đặc quyền. Vậy thì ngay từ đầu công cuộc xây dựng CNXH, “liềm” và “búa”, trên thực chất, bị đẩy ra ngoài cuộc cách mạng này.

Vậy tiếng súng hoa cà hoa cải rất nhỏ của người nông dân dũng cảm Đoàn Văn Vươn, hay các cuộc biểu tình của nông dân các tỉnh thành hiện nay báo hiệu chuyện gì đang xảy ra? Liệu có xảy ra các cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại chế độ phong kiến như trong quá khứ? 

Chủ nghĩa cộng sản đã mắc sai lầm khi cho rằng họ độc quyền các cuộc cách mạng xã hội. Bởi họ ảo tưởng (hay giả vờ ảo tưởng) để cố thuyết về một xã hội “dân chủ, công bằng, văn minh” mà chỉ có họ mới xây dựng được. Nhưng bất cứ một xã hội nào, nếu không có sự vận động (làm cách mạng) của mọi tầng lớp dân chúng thì xã hội đó sẽ dần tiêu vong. Những người cộng sản Việt Nam đã khởi nghĩa giành độc lập, không ai phủ nhận điều đó. Nhưng kết quả cuối cùng của việc giành độc lập bằng bạo lực chưa hẳn là đáp số duy nhất đúng, nếu chỉ khẳng định bằng kết quả. 

Ví dụ cụ Phan Châu Trinh chủ trương giành độc lập theo lối Duy tân, đấu tranh nghị trường, không dùng bạo lực. Do đấu tranh với chính quyền thực dân Pháp nên cụ bị bắt, rồi giao cho Nam triều kết án, bị đày ra Côn lôn, Côn đảo. Tuy bị kết án nhưng cụ lại được chính phủ Pháp trọng đãi và kính nể. Chính viên Thống đốc Nam kì ra tận Côn đảo tìm hiểu lập trường đấu tranh của cụ. Sau đó cụ được Hội nhân quyền Pháp can thịêp ráo riết với chính phủ Pháp nên được thả, sau đó được sang Pháp cùng con trai…Ở Pháp cụ lại tiếp tục đấu tranh về tội tham nhũng của chính quyền Pháp ở Đông dương…Cụ Phan chủ trương bắt tay với người Pháp, đấu tranh thông qua nghị trường và đi theo con đường khai sáng: Khai dân trí; Chấn dân khí; Hậu dân sinh.

Cụ Phan quan niệm: "So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và và chủ nghĩa dân trị thì chủ nghĩa dân trị hay hơn cái chủ nghĩa quân trị nhiều lắm. Lấy theo ý riêng của một người hay là của một triều đình mà trị nước, thì cái nước ấy không khác nào một đàn dê, được no ấm vui vẻ hay là phải đói rét khổ sở chỉ tùy theo lòng của người chăn. Còn như theo cái chủ nghĩa dân trị thì tự quốc dân lập ra hiến pháp, luật lệ, đặt ra cơ quan để lo việc chung cả nước, lòng quốc dân muốn thế nào thì làm thế ấy. Dù không có người ta giỏi làm cho hay lắm, cũng không đến nổi phải đè đầu khốn nạn làm tôi một nhà một họ nào. Xét lịch sử xưa, dân nào khôn ngoan biết lo tự cường tự lập, mua lấy sự ích lợi chung của mình thì càng ngày càng bước tới con đường vui vẻ. Còn dân ngu dại, cứ ngồi yên mà nhờ trời, mà mong đợi trông cậy ở vua ở quan, giao phó tất cả quyền lợi của mình vào trong tay một người, hay một chính phủ muốn làm sao thì làm, mà mình không hành động, không bàn luận, không kiểm xét, thì dân ấy phải khốn khổ mọi đường”…

Khi vua Khải Định mất, cụ Phan đánh điện tín cho Khâm sứ Trung kỳ Pasquier nói rằng cụ sẽ ra Huế để lo cải tổ triều chính và lập dân đảng. Nhưng chưa kịp thực hiện ước mơ của mình thì cụ mất vì trọng bệnh, khi mới 55 tuổi (cái tuổi có thể trụ được 2, có thể là 3 “nhiệm kì” bây giờ…). Có thể đây là cơ hội quan trọng mà đất nước đã bị bỏ lỡ? Rất đáng tiếc.

Giờ là lúc đặt ra câu hỏi: chắc chắn đất nước cần và phải thay đổi. Nhưng thay đổi bằng cách nào? Thông qua các cuộc “khởi nghĩa của Liềm và Búa” như cái cách anh Đoàn Văn Vươn đã làm chăng? Hay thông qua đấu tranh nghị trường như cụ Phan hằng mong muốn? Nhưng đấu tranh nghị trường bằng cách nào khi quốc hội (mang tiếng đại diện cho dân chúng) vẫn đặt dưới sự “lãnh đạo không thể chối bỏ” của đảng cộng sản? Mà chính quyền độc đảng thì vốn không bao giờ chấp nhận đấu tranh nghị trường, vì như vậy sẽ mất tính đặc thù là không chấp nhận đa nguyên của họ. Hay còn con đường nào khác? Có ai tự đào hố chôn mình?

Còn những người nông dân khởi nghĩa thì thiếu đủ các phương diện tài, lực, đường lối, tư tưởng, người dẫn dắt…Họ chỉ có biết dùng tiếng súng yếu ớt, bất lực bắn thẳng vào cường quyền được che chắn bằng đủ thứ áo giáp bạo lực và đặc quyền, như tiếng súng hoa cà của anh nông dân Đoàn Văn Vươn. Tiếng súng này không giết được ai, chỉ có thể lay động tâm thức của một bộ phận người bị trị, tê liệt, vô cảm, vị lợi…

Nhớ lại tiểu thuyết “Chùm nho nổi giận” của nhà văn Mỹ John Steinbeck viết về những người nông dân Mỹ vào những năm đầu thế kỷ 20 đã bị bần cùng hóa trước sự trỗi dậy của nền sản xuất mới - tư bản. Sự hoài thai một xã hội tư bản thời kỳ dã man đã trả giá bằng rất nhiều số phận những người nông dân mất đất sống, bị bần cùng hóa. Nhưng là sự trả giá tất yếu (dù đau đớn) của một cuộc cách mạng thay đổi tận gốc rễ đi từ sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ sang công nghiệp tư bản. Bởi thế mới có một nước Mỹ như hiện nay. 

Tương đồng vào thời điểm đó, ngày 13/2/1927, người nông dân Biện Toại ở Bạc Liêu đã dũng cảm chiến đấu với kẻ cướp đất của mình nhân danh chính quyền. Dù anh em Biện Toại giết chết viên cò Pháp là Tournier thì sau đó anh ta vẫn được tòa án thực dân tha bổng, khi có hai luật sư người Pháp bào chữa miễn phí. Công tố viên người Pháp cũng cho rằng tình cảnh gia đình Biện Toại rất đáng thương: họ bị những kẻ tham lam vô cảm được tiếp tay bởi quan chức cường hào ác bá đến cướp đất của họ. Công tố viên đề nghị tòa tha bổng cho những người trong gia đình Biện Toại. Còn luật sư người Pháp cũng hết lời ca ngợi tinh thần lao động quên mình, đấu tranh với thiên của gia đình họ để xây dựng quê hương. Khi ấy, Biện Toại có lẽ may mắn hơn anh nông dân Tom của John Steinbeck. 

Sau gần một thế kỷ xây dựng “thiên đường CNXH”, những nông dân bị bần cùng hóa và đẩy vào ngõ cụt như Biện Toại, Đoàn Văn Vươn ngày càng nhiều hơn. Hậu duệ của Tom trong “Chùm nho nổi giận” cuối cùng cũng được mãn nguyện với cuộc sống tốt đẹp sau đó. Còn hậu duệ của Biện Toại đau khổ hơn ông nhiều. 

Nếu Biện Toại được tha bổng thì Đoàn Văn Vươn và các anh em của anh sẽ không được chính quyền “của anh, do anh và vì anh” tha bổng. Đó là chính là điểm khác biệt căn bản của các cuộc cách mạng tư sản trước đây (ở các nước TBCN) với cuộc cách mạng vô sản dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Nghĩ về vụ án Nọc Nạn, rồi liên hệ chủ trương đấu tranh nghị trường với người Pháp của cụ Phan, ta có quyền nuối tiếc về cơ hội của đất nước đã tuột mất. 

Đọc Steinbeck, sẽ càng thấy sự khác biệt giữa quan niệm đấu tranh đòi quyền lợi cho giai cấp công nhân thông qua các nghiệp đoàn, phổ thông đầu phiếu để có tiếng nói trong Nghị Viện, nơi lập pháp sẽ bảo vệ lợi ích cho họ. Và ngược lại, đó là những người cộng sản chủ trương dùng bạo lực để lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập một trật tự xã hội mới – xã hội đó bất công, đặc quyền đặc lợi, độc đoán như thế nào thì không còn ai ảo tưởng…

Nếu đường lối đấu tranh bất bạo động của Mahatman Gandhi với tầm nhìn xa rằng: “Các bạn nhầm rồi, mục đích của chúng ta không chỉ là đòi độc lập cho Ấn Độ. Cái cao cả lâu dài hơn là phải rèn luyện cho người dân Ấn Độ xứng đáng sống trong nền độc lập đó. Mà cuộc đấu tranh lâu dài này của chúng ta chính là môi trường để rèn luyện cho người dân đủ phẩm giá sống trong nền độc lập của mình”, khi các đồng chí của ông nôn nóng muốn dùng vũ lực giành độc lập khỏi thực dân Anh, thì cách mạng chuyên chính vô sản làm ngược lại. Khi chủ trương dùng bạo lực để giành chính quyền và duy trì bạo lực để bảo vệ chính quyền chuyên chính bằng mọi giá, thì chính quyền “vô sản” đã thủ tiêu mọi phẩm giá làm người của công dân. 

Sau cách mạng xã hội chủ nghĩa là gì? Ai dám nói chắc về một điều tốt đẹp sẽ đến?

Vụ án Đoàn Văn Vươn là sự trả thù của chính quyền Hải Phòng

VRNs (01.04.2013) – Hải Phòng – Dư luận khắp nơi cho rằng vụ án gia đình ông Đoàn Văn Vươn rõ ràng là sự trả thù của nhà cầm quyền Hải Phòng. Bà Nguyễn Thị Thương, vợ ông Đoàn Văn Vươn cũng cho là như vậy khi trả lời phỏng vấn của Trâm Oanh, thành viên tổ chức Phóng viên không biên giới.


Những người anh em


Lê G. (Danlambao) - "Trước vận mệnh ngàn cân treo sợi tóc của Tổ Quốc và Dân Tộc, chúng ta như những kẻ lạc loài từ khắp bốn phương trời chợt bừng tỉnh để nhận ra nhau là anh em, cùng xiết chặt tay nhau, đồng lòng tỏ thái độ cho chính quyền độc tài biết từ nay chúng ta quyết sẽ không để cho bất kỳ người anh em nào nữa của chúng ta đấu tranh trong tuyệt vọng, cô đơn.

Ngay bây giờ đây, tất cả chúng ta đã sẵn sàng để bước lên con tàu “Chở quyền công dân”Đoàn Văn Vươn” để đòi lấy Công lý và Tự do."

*

Cha Lạc Long,
Mẹ Âu Cơ.
Bọc trăm trứng trăm con.
Thuở hồng hoang,
Những người anh em,
Theo mẹ lên rừng,
Theo cha xuống biển.
Khai thiên lập địa
Vun vén non sông,
Dựng nước Văn Lang.

Những người anh em,
Không hề run sợ,
Không hề đê hèn,
Giặc ác kia có đàn áp,
Hung hăng tiêu diệt giống nòi,
Suốt một ngàn năm.
Những người anh em
Vẫn không nản lòng
Theo tiếng trống Mê Linh,
Quật cường khởi nghĩa.
Cả vùng Lĩnh Nam
Đất trời rúng động.

Những người anh em
Nào sợ hiểm nguy,
Nào khiếp vó ngựa,
Quân hùng tướng mạnh,
Của giặc Nguyên Mông.
Thà làm ma nước Nam,
Còn hơn làm vương đất Bắc.
Tay thích Sát Thát,
Tay bóp nát cam,
Ba lần theo vua
Diệt giặc ngoại xâm,
Ghi danh thiên cổ.

Những người anh em
Tiến vào phương nam,
Khai hoang lập đất,
Giữ gìn tiếng Việt,
Ấp ủ tinh hoa
Ngàn năm văn hiến.
Dù ghềnh kia có thác dữ,
Dù núi kia có hổ gầm,
Dù sông kia có xiết cuồng,
Dù chân có mòn,
Dù gối có mỏi,
Nhưng lòng không sờn,
Nhưng chí không nản,
Mở mang từng tấc đất
Cho giang sơn Đại Việt.
Ôi, hào hùng làm sao,
Từng tấc đất thấm máu cha ông,
Những người anh em thuở trước.

Lũ quỷ đỏ bạo ngược
Ôm học thuyết ngoại lai.
Chuyên chính cộng sản,
Bắt bớ giam cầm,
Hèn với giặc, ác với dân.
Giặc kia đang lăm le ngoài bờ cõi.
Lũ tham quan bán nước
Khiếp dân và sợ giặc,
Cam tâm làm tay sai.
Mười sáu tốt bốn vàng,
Nhượng đất bán đai,
Giữ yên chế độ.
Những người anh em
Lại xông pha cứu nước!
Kể sao xiết tên những người anh hùng…!
Ôi, xót thương thay!
Những tiếng chuông…
Tiếng chuông…
Tiếng chuông…!
Cô đơn, cô đơn, cô đơn…!
Họ chiến đấu một mình…
Không!
Một ngàn lần không!
Nào những người anh em,
Sao cam tâm để anh em chúng ta
Đấu tranh mãi một mình,
Sống trong đau khổ, đọa đày.
Hãy cùng nhau xiết tay,
Vượt qua bao đớn hèn,
Băng qua bao khiếp nhược,
Đạp lên đi hãi sợ
Cùng sát cánh bên nhau.
Chúng ta có chính nghĩa,
Chúng ta có lòng dân,
Chúng ta có ý trời.
Đồng thanh một tiếng thét:
Lời tuyên bố công dân!
Hãy xéo đi ngoại bang,
Hãy cút đi độc tài.
Xây dựng lại giang san,
Đón những người anh hùng,
Ca khúc ca khải hoàn.
Vì,
Chúng ta là anh em,
Chúng ta là anh em,
Chúng ta là anh em.

Lê G.


Tôi viết bài này đã lâu, nhưng nay nhân đọc thấy hai bài kêu cứu của hai chị Thương và Hiền, và của mẹ anh Vươn nên tôi lại viết thêm mấy hàng cuối này.

Khi có một sự bất công xảy ra đối với một người nào đó, chúng ta phẫn nộ: người bị hại thì kêu la, người bình luận thì chửi rủa “bọn cộng nô chó chết”, còn ai đó thì “tại sao nên nỗi?”. Vâng, la, chửi, hỏi không làm chùn bước được bàn tay quen máu của chính quyền độc tài. Có lẽ chúng sợ nhất sự đồng tâm hiệp lực. Sức mạnh của đoàn kết làm bất cứ chế độ độc tài nào cũng run sợ. Chúng ta phải cho chính quyền độc tài biết chúng ta là NHỮNG NGƯỜI ANH EM.

Hãy xem lại những diễn biến gần đây. Nhóm biểu tình yêu nước đã thể hiện một tinh thần đoàn kết rất vững. Chính vì thế mà chính quyền cũng run tay. Chị Bùi Thị Minh Hằng bị bắt vào trại giáo dục thì tất cả những người ở ngoài đã lo lắng, đã tìm đủ cách để giải cứu chị ra khỏi nơi đó. Anh Lê Anh Hùng bị bắt vào trại tâm thần thì nhiều người lên tiếng. Tất cả bằng nhiều hướng: lên án độc tài, thuyết phục mẹ anh Hùng… Và cuối cùng họ cũng giải thoát được Lê Anh Hùng. Đó là bài học quý báu. Nhóm này thật sự coi nhau như anh em ruột thịt.

Đến lượt 14 thanh niên công giáo. Tiếc thay, họ ít được sự hỗ trợ của cộng đồng. Dĩ nhiên, có nhiều người lên tiếng trên mạng, nhưng đó là phản đối mang tính ảo nhiều hơn thật. Cái mà chúng ta cần là sự phản đối thật (dĩ nhiên kết hợp cả phàn đối ảo) và sự kiện diễn ra bằng những hình ảnh có thật. Ví dụ, trước phiên tòa có tập trung hàng trăm người quan tâm. Đấy là hình ảnh có thật. Ngoài anh em bà con của các thanh niên này thì có thêm ba anh từ Hà Nội vào để hiệp thông nhưng đều bị bắt nguội trước khi tham gia. Chính vì thế mà chính quyền đã không hề run tay khi tuyên án.

Cuối cùng là các vị ở Công án Bia Sơn. Đây là những bản án khốn kiếp nhất mà tôi từng thấy. Chính quyền cam tâm chà nát tất cả một cách tàn nhẫn, bất nhân. Các bạn nghĩ xem, chúng ta đã làm gì? Tôi thấy chúng ta không làm gì cả. Không hiệp thông, không đồng cảm… Tất cả rơi vào trạng thái câm nín. Vì thế mà cứ mỗi lần nhìn bức ảnh này của ông Trần Công là tôi thấy xấu hổ quá.


Bức ảnh này xin đặt tên là MẮT NGHẸN. Tôi chưa hề thấy một ánh mắt nào uất nghẹn như thế. Uất nghẹn vì sự bất công quá tầm nhận thức của con người. Uất nghẹn vì không có cách giãi bày. Và uất nghẹn vì tiếng kêu của mình không thấu tới đâu. Kể cả tới những người đồng cảnh ngộ, những người cũng bị chính quyền độc tài đàn áp như mình. Bức ảnh đã làm cho tôi xúc động mãnh liệt và theo ý kiến riêng tôi thông điệp khổ đau của nó hoàn toàn không thua kém bức Tiếng thét của Edvard Munch. Chỉ khác chăng một bên là ảnh thật, một bên là tranh vẽ. Một bên người thét đưa hai tay lên cố làm cho tiếng thét mình ngân xa, còn một bên, hai tay không thể đưa lên được vì bị các đại diện của thế lực độc tài giữ chặt, tiếng thét bị ngăn lại, bị bóp nghẹt nhưng nó đã biến thành ánh mắt không lời-mắt nghẹn. Chính quyền Cộng sản đã xét xử 22 người và người nhận án thấp nhất là 10 năm tù. Thật là ghê tởm!

Chắc cũng cần nhắc lại cuộc biểu tình Thái Bình tháng 6 năm 1997 chống tham nhũng, lạm quyền và chống sưu cao thuế nặng trong chương trình Đường-Điện-Trường-Trạm, trong đó những người đi đầu đều là người có công với chính quyền cộng sản gồm các cựu chiến binh và mẹ liệt sỹ. Chính quyền đã dẹp yên được và đưa xét xử 10 vụ án với tổng số 105 bị can với các tội danh khác nhau. Vậy, chúng ta có biết đến điều đó, có biết những người biểu tình xưa bây giờ ra sao, họ sống như thế nào? Và ngay bây giờ đây, khi nói về vụ biểu tình Thái Bình, một số kẻ văn nô, bưng bô cho chế độ đã bóp méo sự thật trên wikipedia tiếng Việt nào ai trong chúng ta ngỏ lời phản bác chúng. Chúng gọi hai người đánh kẻng tập hợp dân làng lại là hai kẻ gây rối. Rồi thì mà là “những kẻ xấu”, “thế lực thù địch”, “lợi dụng, cơ hội”. Những người anh em của chúng ta, những nông dân khổ cực đã bị lãng quên một cách đáng xấu hổ.

Có hai nguyên nhân chính làm chúng ta quên và thờ ơ với những anh em của chúng ta. Thứ nhất, tình thân thiết bè nhóm. Đây là tình cảm rất bình thường, ai ai trong chúng ta đều có tình cảm đó. Tôi yêu tất cả những người gia đình tôi, bạn bè tôi, nhóm tôi, hội tôi… Không có gì sai trái khi tình yêu này mãnh liệt cho tất cả các thành viên trong một nhóm. Nhưng nó cũng có hạn chế nếu nhóm đó bước vào một hoạt động xã hội chung nào đó. Càng yêu mãnh liệt nhóm mình thì như một nhu cầu tâm lý tự nhiên, chúng ta lại rào chúng ta lại trong nhóm của mình, không mở rộng lòng mình ra để đón nhận hay để lên tiếng vì những thành viên của nhóm khác. Nhưng đó là một suy nghĩ sai lầm. Xin đơn cử một trường hợp nhỏ, nếu chúng ta thấy thằng móc túi bạn mình thì lên tiếng ngay như với người khác lại câm nín. Chúng ta cứ tưởng thì người kia mất tiền chứ mình có mất đâu mà lo. Thật ra là mình cũng mất đấy. Thứ nhất, đồng tiền được làm ra một cách bất chính sẽ được tiêu một cách bất minh vì thế toàn xã hội thiệt. Thứ hai, tên trộm đó sẽ càng ngày càng táo tợn, và sẽ có nhiều người đi làm nghề móc túi và lúc đó chính chúng ta sẽ bị móc túi và với cường độ thường xuyên hơn nhiều. Thứ ba, một xã hội thờ ơ vô cảm dẫn đến tình trạng suy đồi đạo đức, mất đi hẳn tính cảm thông và dần dà toàn xã hội mất hẳn những mục đích cao thượng để phấn đấu.

Nguyên nhân thứ hai là ai ai cũng nghĩ cách mình làm mới đúng. Đấu tranh với độc tài hả? Được thôi, nhưng làm theo cách của tôi đây này. Đây mới là cách đúng nhất. Và tất cả các nhóm đều lao vào chứng minh cái đúng của mình quên bẵng đi mục đích ban đầu là “đấu tranh với độc tài”. Lúc đó, theo tôi chỉ có một nhóm đúng duy nhất, thật trớ trêu đó chính là chính quyền độc tài. Chính quyền độc tài bảo rằng “Ôi, một lũ ô hợp thế này thì làm được cơm cháo gì mà lo” và họ đã đúng. Nên chăng, trước hiểm họa ngoại nội xâm, các nhóm chúng ta đều coi nhau như là anh em, thay vì tranh cãi nhau chúng ta mỗi người đóng góp vào công cuộc chung bằng cách của mình và dần dần tất cả mọi người nhận ra cách nào tốt nhất mà theo. Nhưng khi những người ở nhóm khác bị đàn áp thì tất cả đều lên tiếng bởi vì không phải vì bất đồng ý kiến mà chúng ta thôi là những anh em. Nay có một người anh em của chúng ta gặp an nguy thì tất cả những người anh em khác lao vào cứu anh em của mình chứ.

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” Thái Bình;

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” có tên Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn;

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” có tên Phạm Thanh Nghiên, Cù Huy Hà Vũ;

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” có tên Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung;

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” 14 thanh niên Công Giáo;

Chúng ta đã lỡ con tàu “Chở quyền công dân” Công án Bia Sơn.

Và chúng ta sẽ mãi mãi lỡ các chuyến tàu “quyền công dân” tiếp theo nếu chúng ta không mạnh dạn, không đồng lòng cùng bước lên con tàu “quyền công dân” Đoàn Văn Vươn vào ngày 02-04 sắp tới đây. Đây là chuyến tàu rất thuận lợi, nó đã tạo được sự đồng thuận rất lớn trong mọi tầng lớp xã hội khác nhau, trong nước cũng như hải ngoại, trong cộng đồng Công giáo cũng như Phật giáo, Tin Lành,…Ngoài ra, chuyến tàu thuận lợi vì có những ngọn gió đổi thay “Lời tuyên bố các công dân tự do”, “Kiến nghị 72”, “Thư góp ý HĐGMVN”. Nếu không bước lên chuyến tàu này thì chúng ta còn chờ chuyến tàu nào nữa và đến bao giờ mới có một chuyến tàu khác thuận lợi như thế chứ đứng nói gì đến thuận lợi hơn?

Trước vận mệnh ngàn cân treo sợi tóc của Tổ Quốc và Dân Tộc, chúng ta như những kẻ lạc loài từ khắp bốn phương trời chợt bừng tỉnh để nhận ra nhau là anh em, cùng xiết chặt tay nhau, đồng lòng tỏ thái độ cho chính quyền độc tài biết từ nay chúng ta quyết sẽ không để cho bất kỳ người anh em nào nữa của chúng ta đấu tranh trong tuyệt vọng, cô đơn.

Ngay bây giờ đây, tất cả chúng ta đã sẵn sàng để bước lên con tàu “Chở quyền công dân”Đoàn Văn Vươn để đòi lấy Công lý và Tự do.

Hãy cho chính quyền độc tài biết sức mạnh của lòng dân.

Mọi người đều hướng về người anh hùng Đoàn Văn Vươn.

Tất cả tiến về Hải Phòng!!!

Đừng khuyên người khác tha thứ hòa giải, đừng dạy người khác cách đấu tranh


Thục Quyên (Danlambao) - “Những nỗi đau dường như không thể nguôi ngoai và lửa giận vẫn ngút ngàn trong lòng người dân Việt khi xưa phải bỏ quê hương ra đi, dù nay đã thành công vẻ vang trên đất khách. Đứng trước những nỗi đau với muôn ngàn khía cạnh, nỗi giận với triệu cách bộc lộ, ai có quyền bảo một người khác hãy quên đi và tha thứ, dù thế sự có đổi thay chăng nữa?”

“Mai tôi chết Cờ Vàng xin đừng phủ” 

Xin kính cẩn nghiêng mình,

10 tháng 3, 11 tháng 3, 12 tháng 3....

Cộng đồng mạng VN hải ngoại đang nhắc tới những đau thương chết chóc của những ngày này năm 75 khi Ban Mê Thuột thất thủ, và từ giờ cho tới 30/04 chắc chắn những bài viết về nỗi uất ức khắc khoải của đại đa số gia đình thuộc VNCH khi xưa cũng sẽ tràn ngập mạng.

Viết, để nhắc lại những hốt hoảng tuyệt vọng khi chính Sài Gòn thất thủ, để nhắc lại những vùi dập chết chóc trên con đường vượt biên cho những người bỏ nước ra đi, đi lần đầu hay đã từng rứt ruột bỏ nơi chôn nhau cắt rốn từ 1954 vào Nam, để nhắc lại những nhục nhã điêu tàn cho những người ở lại. Và những chia rẽ, phản bội, xâu xé, hà hiếp, trắng trợn....

Khi giấy mực vẫn còn thống thiết nức nở, những nỗi đau vẫn còn tiếp tục chảy máu, thì chẳng có người nào đối diện những nỗi đau đó được quyền hay dám láo xược cả gan nhắc tới Tha thứ và Hòa giải, dù rằng đó là những điểm chính trong mọi tôn giáo và nhất là trong truyền thống dựng nước của dân tộc Việt.

Như một loại trụ sinh, bình thường là một món thuốc quý báu để cứu sự Sống, những chữ Tha thứ và Hòa Giải đối với người Việt trong đại đa số trường hợp đã trở thành một chất gây tình trạng sốc phản vệ (anaphylactic shock). Phản ứng này mãnh liệt tới nỗi không còn có một người tu sĩ VN nào dám giảng tới góc nhìn đạo đức, cũng chẳng có người bác sĩ phân tâm học VN nào dám nhắc đến khía cạnh trị bệnh của nó. 

Thật là một sự xúc động mạnh khi đọc những dòng chữ của Lê Diễn Đức (1)

Tôi tin có nhiều người giống tôi. Rằng: nếu một kẻ nào đó đã cướp đoạt tài sản của tôi, giết hại người trong gia đình tôi, đẩy tôi vào sự khốn cùng, phải đối diện hiểm nguy để đi tìm kế mưu sinh ở xứ khác, thì tôi sẽ thù hận kẻ đó suốt đời, và khi có cơ hội tôi sẽ trả thù. 

Đó là một sự thành thật xuất phát từ con tim của người viết. Nhiều người đã không dám thẳng thắn thổ lộ như vậy mà cứ phải tìm những hình thức vòng vo để diễn tả. Cũng như nhiều người không đủ sáng suốt để nhận định đây không phải là một vấn đề có thể bàn cãi trên bình diện đạo đức hay cả chiến lược. Câu hỏi không phải là có nên tha thứ hòa giải, mà câu hỏi là có khả năng tha thứ hòa giải hay không? Tha thứ hòa giải chẳng phải là một điều có thể mua hay học hay muốn mà làm được. 

Nó đang chỉ là một áng mây lãng đãng ở một nơi bên ngoài những bức tường của một cái nhà tù định mệnh kiên cố từ tháng Tư 75. Những chữ “Tha thứ hòa giải” không phải là món thuốc có thể rịn vào để cầm máu, mà nhắc tới lại như mũi dao rạch vào vết thương sâu thẳm chưa hề kéo da non. Và máu lại túa ra.

Tờ BBC bản Việt ngữ ngày thứ sáu, 15 tháng 3, 2013 đưa tin về Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain, người mới gần đây có dịp tiếp xúc giới bất đồng chính kiến tại VN, vừa có bài viết trên tờ Wall Street Journal nhận định Việt Nam vẫn chưa nỗ lực trong lĩnh vực nhân quyền và pháp quyền, và kêu gọi Việt Nam nên có những bước đi cải cách về hướng dân chủ. Với tựa đề“Cựu tù nhân chiến tranh nói về Việt Nam, 40 năm sau” bài viết bắt đầu bằng hồi ức của ông về ngày cuối cùng ở Việt Nam, 14/3/1973, khi ông được trả tự do về Mỹ sau sáu năm bị cầm tù tại Hỏa lò Hà Nội. TNS Mc Cain tuy vậy vẫn bày tỏ hy vọng rằng “Hai nước chúng ta đã có một quá khứ khó khăn và đau lòng. Nhưng đã không tự trói mình vào quá khứ đó và đang đi tiếp trên con đường từ hòa giải đến tình hữu nghị thực sự, điều mà sẽ là một trong những sự ngạc nhiên lớn nhất và hài lòng nhất trong cuộc đời tôi”. Đồng thời ông hứa sẽ là người bạn trung thành của Việt Nam trước các thách thức.

Trong khi đó tờ BBC News Magazine (bản tiếng Mỹ) ngày 22/03/2013 lại có bài dài về cựu đại sứ Mỹ mà cũng là cựu tù nhân chiến tranh Douglas Pete Peterson, cũng liên quan nhiều đến Việt Nam mà BBC Việt ngữ không mảy may nhắc tới.

Pete Peterson cũng từng bị cầm tù sáu năm tại miền Bắc VN và được trả tự do ngày 4/3/1973, trước Mc Cain mười ngày, và năm 1997 ông là người được tổng thống Bill Clinton bổ nhiệm làm vị đại sứ Mỹ đầu tiên tại Việt Nam, sau 20 năm không liên hệ ngoại giao giữa hai nước. Đại sứ Peterson khi đến nhậm chức tại Hà Nội đã phát biểu: 

“Tôi muốn chữa lành vết thương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đó là một lịch sử bi thảm mà hai dân tộc đã chia sẻ Không ai có thể thay đổi những gì đã xảy ra, nhưng có rất nhiều điều tuyệt vời mà tất cả chúng ta có thể làm cho tương lai. Và đó là lý do tại sao tôi trở lại Việt Nam.”

Mãn nhiệm sau 4 năm, cựu đại sứ Peterson đã cùng với người vơ ̣Úc gốc Việt Nam thành lập tổ chức TASC chuyên cứu trợ trẻ em quốc tế và ngày càng mở rộng hoạt động tại Việt Nam. Trong một cuộc phỏng vấn năm 2006, cựu ĐS Peterson đã tâm sự:

“Tôi chỉ muốn đi bộ trên các đường phố để gặp gỡ, trò chuyện với những người dân mà tôi chưa có cơ hội tiếp xúc trong những lần trở lại Việt Nam trước“.

Trong bài báo mới đây, ký giả William Kremer đã tường thuật về những gặp gỡ định mạng giữa Peterson và Việt Nam kể từ quyết định của ông không từ chối tham dự cuộc chiến tại VN. Nhắc lại thân phận người tù binh Mỹ, ĐS Peterson mô tả quyết tâm của họ ở nhà tù Hỏa Lò“nhận chịu mọi phương cách tra tấn, được nghĩ ra để gây thương tật vĩnh viễn hoặc tử vong hoặc gần sắp tới mức độ đó”. Nhắc tới những vết sẹo gây ra bởi những tảng đá người dân Việt đã ném vào ông đêm ông rớt máy bay, ĐS Peterson bình thản nói “Phải nhìn một cách công bằng: đó là một phản ứng tự nhiên. Họ đã chụp cơ hội hiếm có sau khi bị bỏ bom trong nhiều năm”

Cả hai người cựu tù binh Mỹ Mac Cain và Peterson đã đem lại một tia ấm hy vọng là con người không cần phải chối bỏ hay quên dĩ vãng, mà vẫn có phương cách để trả dĩ vãng thương đau về hẳn cho dĩ vãng, dù mỗi người bộc lộ một cách khác nhau. Mc Cain nhấn mạnh vào khía cạnh chính trị, và Peterson vào tình cảm con người. Hành động của họ và nhất là câu nói cuả Peterson, “Cuộc sống của tôi đã được ơn trên bảo hộ để hoàn thành một điều gì đó có tính cách tích cực.” (My life was preserved to do something constructive) là bằng chứng sự thành công của nền tự ̣do dân chủ của Hoa Kỳ đã tạo được những con người có phong thái “lớn hơn sự khổ đau, cao hơn lòng thù hận của chính mình” .

Việc BBC tiếng Mỹ và BBC tiếng Việt đã không cùng đăng bài về hai nhân vật này phải chăng để tránh đụng chạm vào một vấn đề nhạy cảm? Từ khi Mỹ - Việt bình thường hóa, quan hệ giữa những đại diện của Mỹ ở Việt Nam với cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã không dễ dàng. ĐS Peterson chưa bao giờ đến Quận Cam, nơi có cộng đồng Việt Nam đông dân nhất nước Mỹ. ĐS Marine chỉ một lần tới thăm một đại học của California. Mãi tới năm 2007 ĐS Michalak mới là đại sứ Mỹ đầu tiên đến thăm Quận Cam trong khi ĐS đương nhiệm David Shear sau khi gặp một số đông khách từ cộng đồng người Việt tại Mỹ ở bang Virginia vào tháng 3 năm ngoái đã vội có cải chính đây không phải là buổi gặp gỡ “chính thức”, và bản tin trên trang web của đài RFA Tiếng Việt đã bị gỡ xuống. Và dù đã tiếp hàng trăm đại diện của cộng đồng Mỹ gốc Việt tại Tòa Bạch Ốc, bên hành pháp Hoa Kỳ sẽ vẫn xúc tiến các mối quan hệ với Việt Nam, kể cả tăng cường trao đổi về an ninh vùng và quân sự theo chiến lược đã định.

38 năm đã qua từ khi Sài Gòn thất thủ.

Những nỗi đau dường như không thể nguôi ngoai và lửa giận vẫn ngút ngàn trong lòng người dân Việt khi xưa phải bỏ quê hương ra đi, dù nay đã thành công vẻ vang trên đất khách. Đứng trước những nỗi đau với muôn ngàn Khía cạnh, nỗi giận với triệu cách bộc lộ, ai có quyền bảo một người khác hãy quên đi và tha thứ, dù thế sự có đổi thay chăng nữa?

Và cũng chẳng ai có khả năng nghe, khi vết thương vẫn nhức nhối làm mủ độc.

Do đó Việt Nam chẳng hề bao giờ thật sự có hòa bình, dân tộc Việt vẫn tiếp tục xuất huyết vì nội chiến trong tâm. Vết thương cương mủ đang đưa dân tộc dần vào tình trạng nhiễm trùng huyết toàn diện (septicemia),vào cơn hấp hối.

Nếu không chữa kịp căn nhà VN đang bốc cháy mà chỉ chú tâm đuổi bắt kẻ đốt nhà, e rằng nhà sẽ không còn. Cũng không thể ngồi trông đợi hay đòi hỏi, dạy bảo người khác phải làm gì mà đã đến lúc chính chúng ta mỗi người phải tùy khả năng mà quyết tâm hành động. Đó là sự quyết định của mỗi người cho chính mình.

Bổn phận thiêng liêng nhất của mỗi người Việt hôm nay phải chăng là sự tự quyết định thoát khỏi ngục tù dĩ vãng và chấp nhận gánh chịu một phần trách nhiệm về sự sống còn của dân tộc ?

Một dân tộc Việt tự do dân chủ mới là chiến thắng thực sự, và là chiến thắng cuối cùng.


________________________________

Những hiểm họa bất ngờ cho người cao tuổi

Con người khi về già, các bộ phận trong cơ thể đều lão hóa, yếu đi. Một số điều sau đây luôn ẩn chứa những hiểm họa bất ngờ mà người cao tuổi cần phải lưu tâm đề phòng.

Không nên tập luyện vào lúc sáng sớm

Ta vẫn có quan niệm cho rằng tập luyện vào buổi sáng là tốt vì không khí trong lành. Điều đó không đúng. Vì từ 4-6 giờ sáng theo quy luật của đồng hồ sinh học (biological clock) của người già thân nhiệt đang cao, huyết áp tăng, thận thượng tuyến tố cũng cao gấp 4 lần buổi tối, nếu vận động mạnh, chạy hoặc đi bộ nhiều gặp gió lạnh, tim dễ ngừng đập. Đã có không ít cụ đi bộ buổi sáng sớm về ra mồ hôi, tắm xong huyết áp tăng đột ngột, đứt mạch máu não, đột quỵ luôn. Tốt nhất là nên tập vào chiều tối, tuy không khí không được thanh sạch như sáng sớm nhưng an toàn hơn nhiều.

Đang ngủ không nên trở dậy vội vàng

Thần kinh người già thường chậm chạp. Lúc ngủ muốn dậy đi tiểu hoặc có ai gọi đang ở tư thế nằm mà trở dậy ngay, đi lại luôn dễ làm huyết áp tăng đột ngột, dễ dẫn đến đứt mạch máu não. Vì vậy, đang ngủ khi có việc cần dậy phải từ từ theo 3 bước, mỗi bước khoảng nửa phút. Bước 1 khi tỉnh giấc hãy nhắm mắt lại nằm thêm nửa phút. Bước 2, ngồi dậy tại giường nửa phút xoa tay, xoa chân. Bước 3, cho hai chân chạm đất hoặc chạm nền nhà nửa phút rồi mới đứng dậy đi.

Không nên ngoái đầu một cách đột ngột

Người già mạch máu thường xơ cứng, thành mạch dày hẹp và đàn hồi kém. Nếu đột nhiên quay ngoắt đầu về phía sau, mạch máu ở cổ bị chèn ép, động mạch vốn đã hẹp bị chèn ép lại càng hẹp hơn cộng thêm thần kinh giao cảm bị kích thích mạnh làm mạch máu co lại, máu lưu thông chậm làm não thiếu máu cục bộ, thiếu ôxy nên bị choáng, hoa mắt, chóng mặt, có người đã bị ngã. Vậy đang đứng hoặc đang đi có ai gọi từ phía sau, chớ có quay ngoắt đầu lại ngay mà nên quay chầm chậm. Tốt nhất là xoay cả người lại, tránh chỉ quay đầu.

Không nên đứng co một chân để mặc quần 

Xương của người già thường bị xốp do thiếu calcium. Nếu không bị xốp thì xương cũng dòn. Khi mặc quần mà đứng co chân để xỏ từng chân vào ống quần dễ bị ngã do mất thăng bằng hoặc do vướng vào quần. Người cao tuổi đã ngã thì dễ gãy xương, dập xương. Khi mặc quần tốt nhất là nên ngồi trên ghế hoặc trên giường. Trong nhà tắm nếu không có chỗ ngồi thì phải dựa mông vào một bên tường để giữ thăng bằng cho khỏi ngã. Nhiều người bị ngã gãy xương ống chân, dập xương chậu vì đứng co chân mặc quần.

Không nên quá ngửa cổ về phía sau

Có lần một ông già đã về hưu cạnh nhà tôi, sức khỏe tốt, khi ăn tối xong ngồi nghỉ trên ghế tựa, có lẽ do mỏi cổ nên ông đã ngửa cổ về phía sau hơi quá nên bị xỉu luôn. Khi con cháu biết thì nửa người bên phải của ông đã bị liệt, nước mũi nước dãi chảy ròng ròng và không nói được nữa, phải đưa ngay vào bệnh viện. Trường hợp này là do gần mạch máu nơi cổ có nhiều đốt xương, bình thường giữa các đốt có chất nhờn bôi trơn nhưng về già chất bôi trơn kém đi, các đốt xương trở nên sắc cạnh. Khi ngửa cổ ra phía sau quá giới hạn cho phép, phần xương sắc cạnh đó làm tổn thương đến mạch máu, hạn chế lượng máu đưa lên não gây ra thiếu máu não làm ngất xỉu. Vì vậy, người già khi ngồi ghế tựa không nên ngửa cổ quá mức về phía sau.

Không nên thắt dây lưng quá chặt

Vùng bụng quanh dây lưng là nơi gần dạ dày, ruột non, ruột già, trực tràng và hậu môn. Dây lưng mà thắt chặt quá sẽ chèn ép các mạch máu bụng, cản trở máu lưu thông, đoạn trực tràng gần hậu môn có thể dễ bị lòi ra ngoài khi đi đại tiện mà ta thường gọi là lòi dom. Dây lưng thắt chặt, dạ dày, ruột non luôn ở trạng thái chịu sức ép ảnh hưởng xấu đến tiêu hóa. Vì vậy, không nên thắt chặt dây lưng và tốt nhất là dùng dây đeo quần qua vai, tiếng Pháp gọi là Bretel. Bình thường ở nhà chỉ nên mặc quần lưng thun rộng rãi, không nên mặc quần Tây cứ phải thắt dây lưng làm bụng luôn bị gò bó.

Khi đi đại tiện không nên rặn quá mức

Táo bón là hiện tượng thường gặp ở người già. Tâm lý khi đi đại tiện không ai muốn ở lâu trong nhà vệ sinh nên thường muốn rặn mạnh để đi cho nhanh nhưng nếu rặn quá sức, mặt mũi đỏ gay rất nguy hiểm. Các khảo nghiệm về y học đã cho biết khi rặn mạnh dễ giãn tĩnh-mạch ở hậu môn gây chảy máu nhưng điều quan trọng hơn là huyết áp sẽ tăng có thể dẫn tới tai biến mạch máu não và nhồi máu cơ tim. Để đỡ phải rặn khi đi ngoài, người già cần ăn nhiều rau quả, chuối, khoai, uống nhiều nước để chống táo bón.

Không nên nói nhanh, nói nhiều

Một số nhà khoa học Mỹ phát hiện khi ta nói chuyện bình thường dù chỉ là chuyện vui nhẹ nhàng, các tế bào trong cơ thể vẫn chịu tác động và ảnh hưởng tới huyết áp. Thử nghiệm khoa học với 100 người, mỗi người đọc 2 trang tài liệu với tốc độ nhanh chậm khác nhau. Kết quả cho thấy người đọc tốc độ vừa phải thì huyết áp, nhịp tim bình thường. Người đọc nhanh quá, đọc liến thoắng thì lập tức huyết áp tăng, nhịp tim tăng nhưng khi đọc thong thả trở lại, huyết áp, nhịp tim lại giảm xuống. Qua đó ta thấy người già nên nói ít, nói chậm thì có lợi cho sức khỏe. Những cụ nào bị bệnh tim mạch, bị huyết áp càng phải nói chậm, nói ít.

Không nên xúc động

Đối với người già mạch máu đã lão hóa nếu xúc động mạnh, quá giận dữ hoặc quá vui dễ bị nhồi máu cơ tim và đứt mạch máu não. Do đó, người già không nên xúc động tránh mọi sự tức giận, buồn phiền mà cần sống thanh thản, hòa nhã, vui vẻ, bỏ qua hết mọi chuyện, ảnh hưởng đến tâm lý, sức khỏe.

Có một câu nói rất hay: "Đừng để chết vì thiếu hiểu biết". Vì thật ra đã có rất nhiều người chết vì thiếu hiểu biết kể cả những người còn trẻ. Qua sự hiểu biết ít ỏi của bản thân, qua kinh nghiệm cuộc sống và qua tham khảo các tài liệu y học mới nhất, mong rằng với bài viết ngắn này sẽ giúp các bậc cao niên sống lâu, sống khỏe, sống vui tăng thêm nhiều tuổi thọ.

ST