Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Giữa tiền và bạo lực


Trong nhiều năm, Trung Quốc đã trở thành động lực thúc đẩy tình hình kinh tế toàn cầu, tại thời điểm này nền kinh tế đang trải qua một thời kỳ khó khăn. Đã phải đóng cửa nhiều nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu. Công nhân xuống đường biểu tình. Ngay cả tầng lớp trung lưu trẻ cũng náo động.
Như từ trên trời rơi xuống, đột nhiên xuất hiện các đơn vị cảnh sát đặc biệt. Người công nhân Liu và khoảng ba chục đồng nghiệp của ông từ nhà máy bị phá sản Bill Electronic diễu hành qua lại ngay trước tòa thị chính ở Đông Quan, hô to: "Hãy trả lại chúng tôi tiền bạc từ máu và mồ hôi". Bây giờ tiếng kêu của họ biến thành tiếng thét đáng sợ.
Hàng trăm cảnh sát mặc đồng phục trong mũ sắt, với khiên, dùi cui và lực lượng an ninh mặc thường phục nhảy xuống từ những chiếc ô tô màu ô liu. Những người phản đối, trong đó có Liu, đã bị xua đẩy bởi cảnh sát chống bạo động với những con chó, ra lề đường phố. Nhà cầm quyền cộng sản chỉ cần vài phút để dập tắt cuộc biểu tình.
Giới trẻ, chủ yếu là phụ nữ và những người đàn ông được đẩy lên xe buýt màu vàng chở họ trở lại nhà máy. Ở đó, nhà chức trách đặt ra cho họ áp lực lớn: cho tới chiều, mỗi người phải đồng ý nhận 60% tiền lương. Ai từ chối, không được nhận bất cứ điều gì - các quan chức đe dọa.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã tới Trung Quốc. Vấn đề nợ của châu Âu, đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, triển vọng trở nên tồi tệ đối với viễn cảnh của nhà máy sản xuất của thế giới. Tình hình kinh tế vẫn còn mong manh ở Hoa Kỳ và mối đe dọa của chiến tranh thương mại giữa hai siêu cường. Khi bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống, các chính trị gia Mỹ đã cố gắng vào thời điểm này với ngôn ngữ mạnh mẽ nhắm tới đối thủ đỏ của mình.
Tháng Mười là tháng thứ ba liên tiếp trong đó xuất khẩu của Trung Quốc giảm. Do đó, các nhà sản xuất Đức cũng hy vọng rằng thị trường đang phát triển châu Á dần dần có thể giúp họ phục hồi từ cuộc khủng hoảng toàn cầu, cũng giống như sau năm 2008. Đấu tranh với những vấn đề riêng của họ - bong bóng bất động sản và nợ ngân sách địa phương cao - Trung Quốc có thể trở thành một mối đe dọa cho nền kinh tế thế giới.
Với người lao động Liu, phép lạ kinh tế của đất nước mình đã kết thúc. Cho đến nay, mười hai giờ một ngày ông lắp ráp thiết bị đầu DVD. Gần đây, làm ít hơn - ông nói. Số lượng đơn đặt hàng từ châu Âu sụt giảm - sếp công ty thông báo với họ.
Sau cuộc tấn công của cảnh sát, Liu bị lạc, sợ hãi và đi lang thang trên đường của thành phố. Phía bên phải và bên trái là nhà máy và khách sạn công nhân - Chúng tôi chỉ muốn được thanh toán đầy đủ, còn họ thì gửi tới chúng tôi cảnh sát - ông nói. Lòng tin của họ vào đảng và nhà nước bị đổ nát.
Chính nơi đây, trong khu vực xuất khẩu của tỉnh Quảng Đông, một thứ phòng thí nghiệm thử nghiệm của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc, hiện nay hầu như không có ngày nào mà không có công ty phá sản hay các cuộc biểu tình. Tại nhà máy sản xuất giày Yue Chen - sản xuất theo đặt hàng của công ty mẹ Đài Loan loại giày thể thao cho các thương hiệu như New Balance - ngự trị trong những ngày này tình trạng khẩn cấp. Vì hợp đồng bị huỷ bỏ nên người ta đã cho nghỉ việc 18 nhà quản lý. Người lao động đuợc xác định giờ làm thêm, trong khi lương trần không đủ để tồn tại. Vì sự thất vọng rất lớn mà một số người trong số họ đã tham gia các cuộc biểu tình trước Tòa thị chính. Trong cuộc đụng độ với cảnh sát có mười đồng nghiệp bị thương - một người lao động trẻ thông báo.
Tình hình ở phía trước của nhà máy khá căng thẳng. Cổng vào được bảo vệ bởi người đàn ông có nét mặt đáng sợ trong bộ quần áo dân sự. Bất cứ ai nói chuyện với công nhân đều bị chụp ảnh và bắt nạt. Trong nhà máy đang tiếp tục cuộc đấu tranh quyền lực giữa ban lãnh đạo và nhân viên. Các công nhân ngồi nhàn rỗi trong những phòng tối, nơi mà bình thường họ khâu và dán giày, hội đồng quản trị đã cắt điện một phần.
Ở các phần khác của đất nước ngày càng có nhiều giây chuyền sản xuất bị ngưng. Ở phía Đông, thành phố Ôn Châu, được biết đến trên toàn thế giới với bật lửa giá rẻ, giày dép và quần áo, nhiều nhà đầu tư đang chạy trốn chủ nợ, ngân hàng tư nhân bất hợp pháp đã từng cho họ vay tiền. Trước đó, một trong những sếp đã lặng lẽ mang đi khỏi nhà máy tất cả các máy móc.
Thậm chí ngành công nghiệp trình diễn của cộng hoà nhân dân cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm trong nhu cầu tiêu thụ của châu Âu. Ví dụ, Suntech Power Holdings ở Vuxi gần Thượng Hải, một nhà sản xuất tấm cài đặt năng lượng mặt trời trong quý thứ ba của năm nay ghi nhận mức lỗ 116 triệu USD. Trong cùng kỳ năm ngoái, công ty đã có lợi nhuận 33 triệu USD.
Trung Quốc và sự thiệt hại? Cho đến gần đây, nhà vô địch xuất khẩu châu Á được ngưỡng mộ bởi các doanh nhân và chính trị gia nước ngoài như một người chiến thắng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong một nhà nước độc tài tư bản Bắc Kinh, một số thậm chí tin rằng họ đã có thể khám phá ra một lựa chọn tốt hơn cho cuộc khủng hoảng của nền kinh tế thị trường theo khuôn mẫu phương Tây.
Đặc biệt với các ông chủ ngành công nghiệp ô tô của Đức, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã kkhích lệ họ đầu tư rất lớn. Riêng Volkswagen, Trung Quốc từ lâu đã là thị trường lớn nhất trên thế giới, tập đoàn Wolfsburg hy vọng sẽ bán cho đến cuối năm nay có tổng cộng 2 triệu xe.
Nhưng sự bùng nổ đã suy yếu. - Từ chín ngày nay, chúng tôi không nhận được một đơn đặt hàng nào - người bán hàng của hãng Porsche ở Đông Quan tiết lộ - Một cái gì đó như thế này chưa bao giờ có.
Nhiều người sếp các công ty không có tiền. - Cho đến thời gian gần đây đa số trả tiền mặt, bây giờ họ muốn mua trả góp.
Ngoài ra các thương hiệu giá rẻ của Trung Quốc như BYD ("Build Your Dreams"), cũng khó tống khứ dễ dàng xe của mình. Năm ngoái đã kết thúc đợt mua xe mới của nhà nước. Đối với các đô thị lớn như Bắc Kinh, cố gắng để làm giảm tắc nghẽn đường phố, người ta hạn chế lượng xe mới. Trong tháng Mười, người Trung Quốc mua xe ít hơn bảy phần trăm so với tháng trước đó.
Thoạt đầu và có vẻ như các nhà tư bản nhà nước của Bắc Kinh đã tìm thấy một công thức tuyệt vời cho sự tăng trưởng không ngừng. Năm 2009 khởi công xây dựng đường cao tốc, nhà ga xe lửa và sân bay với tổng số 4 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương: 430 tỷ euro), gói kích thích lớn nhất trong lịch sử). Sử dụng ưu đãi thuế, họ khuyến khích hàng triệu nông dân mua tủ lạnh và máy tính.
Như là mệnh lệnh của đảng, các ngân hàng ném tiền vào dân chúng. Đặc biệt với quy mô lớn cho những chính quyền địa phương mắc nợ. Vào cuối năm 2010, nợ của các địa phương đã 10,7 ngàn tỷ nhân dân tệ - tương đương với khoảng một phần tư GDP của Trung Quốc.
Một tỷ lệ lớn của các quỹ này đã được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp cho bất động sản. Chính quyền địa phương đã thấy rằng việc bán đất cho phát triển là một nguồn sinh lợi của thu nhập - và liên tục vay tiền từ các ngân hàng. Hàng ngàn nông dân đã bị đuổi ra khỏi đất đai của họ để xây dựng biệt thự và các chung cư. Nhiều người trong số các dự án này, thường khoe khoang một ảo tưởng thực sự vĩ đại, bây giờ giống như một thành phố ma. Chỉ trong tháng Mười, trong mười lăm thành phố lớn của Trung Quốc số lượng các lô nhà mới được bán giảm so với cùng kỳ năm ngoái 39 phần trăm.
Khi phương Tây vẫn còn hy vọng rằng Trung Quốc sử dụng dự trữ ngoại tệ của mình sẽ giải quyết cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực đồng euro và đôla, trong nước gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. "Xã hội hài hòa", mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước nói thường xuyên, nằm trong một sự bất an vĩ đại.
Kiềm chế lạm phát, ngân hàng trung ương kể từ giữa năm 2010 tăng lãi suất năm lần, trong khi buộc các ngân hàng mở lượng dự trữ lớn hơn. Nhờ đó Bắc Kinh hy vọng sẽ dẫn sự bùng nổ của mình cho một sự "hạ cánh mềm". Nhưng động thái này tiềm ẩn một rủi ro lớn. Cùng với nền xây dựng, động cơ kích động tình hình kinh tế hiện tại phải tính đến ngành công nghiệp khác như xi măng, thép, đồ nội thất, bởi vì có thể chúng đánh mất động lực hiện có.
Nếu vỡ bong bóng bất động sản, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ quay sang chống lại chính phủ. Cho đến nay, được khảo sát thấy Đảng Cộng sản là người đảm bảo sự thịnh vượng của họ. Gần đây, ở trung tâm của Thượng Hải các chủ nhà đã phẫn nộ biểu tình chống lại sự suy giảm giá tài sản của họ.
Wang Jiang, 28 tuổi chỉ khu nhà gần như đã hoàn thành ở Anting, ngoại ô đô thị. Người quản lý của công ty phần mềm này vào đầu tháng Chín đã mua căn hộ trên tầng mười sáu với giá 138.000 euro. Đây là một số tiền lớn cho 82 mét vuông nhà ở, đặc biệt là các ngôi nhà nằm trong một sa mạc công nghiệp, giữa các nhà máy và các tuyến đường nhanh. Wang muốn chắc chắn kiếm tiềm từ sự bùng nổ xây dựng, đã không xem nhà trước khi mua. Làm gì, nếu không phải là bất động sản, để đầu tư?
Ngân hàng nhà nước ở Trung Quốc trả lãi suất âm cho bọn con buôn của mình, còn thị trường chứng khoán Thượng Hải được coi có độ rủi ro cao cho chuyện đen đỏ, nơi mà vài nhà đầu tư lớn của nhà nước theo cái cách của mình thao túng tỷ giá hối đoái.
Căn hộ của Wang thậm chí còn chưa kết thúc, và niềm vui tương lai được chuyển tới của anh đã biến mất. Bởi vì mới đây các công ty kinh doanh bất động sản chào các căn hộ tương đương với giá rẻ hơn 20 phần trăm. Vương cảm thấy bị lừa dối. - Họ nghĩ gì vậy? - Anh nguyền rủa - Họ không thể đột nhiên phá hủy một phần tài sản của tôi.
Thật không may, họ lại có thể. Gần đây, Wang và nhiều chủ nhà khác đang tức giận phản đối chống sự giảm giá bán của công ty bất động sản. Đột nhiên, ai đó trong những người biểu tình phá hủy mô hình thu nhỏ của các khu định cư - người nói chuyện cho chúng tôi biết. Sau đó tất cả mọi thứ xảy ra rất nhanh chóng, nhân viên bảo vệ công ty bắt giữ anh ta và những người tham gia khác trong cuộc biểu tình, và chở bằng chiếc xe nhỏ giao cho cảnh sát. - Chúng tôi đã bị thẩm vấn tới hai giờ sáng - Wung cho biết. Một số người cho đến nay họ vẫn còn bị giam giữ, còn nhà chức trách thì giữ gia đình của họ trong trạng thái hoang mang.
Đông Quan và Thượng Hải - ở khắp mọi nơi cho thấy một vết nứt của Cộng hòa Nhân dân trong xã hội. Cho tới khi chế độ độc tài độc đảng đảm bảo tăng trưởng kinh tế hai con số, người Trung Quốc hòa giải với họ và chấp nhận thiếu tự do. Tuy nhiên, giờ đây Bắc Kinh phải đối mặt với một tình thế khó xử nghiêm trọng. Bằng dùi cui cảnh sát không thể kiểm soát những tác động dài hạn của một nền kinh tế suy giảm, còn trợ cấp của nhà nước không dễ dàng thúc đẩy phát triển. Cả tiền và bạo lực đều không giúp đỡ gì được.
Gần đây, Thủ tướng chính phủ công bố một điều chỉnh nhỏ của chính sách kinh tế. Các ngân hàng ưu đãi các khoản vay hào phóng cho các công ty xuất khẩu nhỏ và vừa. Tuy nhiên, thời gian này tình hình kinh tế phức tạp hơn nhiều so với sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 - Nhà kinh tế Trung Quốc Lâm Giang cho biết. Khi tất cả các hàng xuất khẩu của Trung Quốc bị khựng lại và 25 triệu người làm việc phải trở về tỉnh nhà của họ.
Ít nhất là từ phía người công nhân Liu từ Đông Quan, nhà cầm quyền Trung Quốc không phải lo lắng về bất kỳ cuộc biểu tình nào trong thời gian tới. Bởi vì anh ta đang bận rộn vào thời điểm này tìm kiếm nơi trú ẩn cho chính mình. Cùng với mất việc làm ông cũng bị mất luôn nơi ở trong khách sạn công nhân của nhà máy.

Wieland Wagner
Lê Diễn Đức dịch

Bản Việt ngữ © 2013 Lê Diễn Đức - RFA Blog
____________________
Bài dịch từ tiếng Ba Lan, tác giả Wieland Wagner là nhà báo của Der Spiegel, đăng trên cổng thông tin Ba Lan Onet.pl tại link: http://biznes.onet.pl/miedzy-pieniedzmi-a-przemoca,18595,4980676,1,prasa-detal

Quyền lực mềm: Những điều Trung Quốc và Nga không hiểu

Bắc Kinh và Moskva muốn được người ta coi là hấp dẫn nhưng đã thất bại thảm hại.
Khi tạp chí Chính sách đối ngoại (Foreign Policy) đăng bài Quyền lực mềm (Soft Power) của tôi vào năm 1990, ai có thể ngờ rằng một ngày nào đó những người như Hồ Cầm Đào hay Vladimir Putin lại sử dụng thuật ngữ đó? Nhưng tại đại hội Đảng vào năm 2007, ông Hồ đã nói rằng Trung Quốc phải gia tăng quyền lực mềm, gần đây Putin cũng thúc giục các nhà ngoại giao sử dụng quyền lực mềm một cách tích cực hơn. Nhưng dường như cả hai ông này đều không hiểu làm sao đạt được mục đích của mình.
Quyền lực là khả năng tác động vào người khác nhằm đạt được kết quả mong muốn. Có ba biện pháp chính: cưỡng ép, bằng tiền hay bằng sự hấp dẫn. Nếu bạn có thể đưa quyền lực mềm của tính hấp dẫn vào kho vũ khí của bạn thì bạn có thể tiết kiệm được cả cây gậy lẫn củ cà rốt. Đối với một cường quốc đang lên như Trung Quốc, nền kinh tế và sức mạnh quân sự đang gia tăng của họ có thể làm cho các lân bang hoảng sợ, buộc họ phải thành lập những liên minh làm đối trọng; chiến lược khôn ngoan, trong đó có quyền lực mềm, sẽ làm cho Trung Quốc trông có vẻ bớt đáng sợ hơn và liên minh đối trọng sẽ kém hiệu quả hơn. Còn đối với một cường quốc đang đi xuống như nước Nga (hay trước đó là nước Anh) thì quyền lực mềm còn sót lại sẽ giúp làm cho cú ngã bớt đau đớn hơn.
Quyền lực mềm của một nước trước hết nằm ở ba nguồn: văn hóa (văn hóa hấp dẫn được những người khác), giá trị về mặt chính trị (khi đất nước giữ những giá trị đó cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài) và chính sách đối ngoại (khi những chính sách này được coi là chính danh và có giá trị đạo đức). Nhưng liên kết những nguồn lực này thành một khối không phải là công việc dễ dàng.
Thí dụ, thành lập Viện Khổng tử ở Manila để dạy văn hóa Trung Quốc có thể giúp tạo ra quyền lực mềm, nhưng dường như họ lại không làm như thế trong bối cảnh khi mà Trung Quốc hăm dọa Philippines về quyền sở hữu dải đá ngầm Scarborough. Tương tự như thế, Putin bảo các nhà ngoại giao của mình rằng “chuyển ưu tiên sang sử dụng quyền lực mềm, tăng cường vị trí của tiếng Nga,” nhưng ông Sergei Karaganov, một nhà khoa học Nga, lại nói rằng sau cuộc tranh cãi với Georgia, Nga đã sử dụng “quyền lực cứng, trong đó có sức mạnh quân sự, vì nước này sống trong một thế giới nguy hiểm hơn nhiều…và vì nước này có ít quyền lực mềm – nghĩa là có ít sự hấp dẫn về xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế.”
Phần lớn quyền lực mềm của Mĩ là do xã hội dân sự chứ không phải chính phũ Mĩ tạo ra, đấy là các trường đại học và các quỹ, Hollywood và văn hóa đại chúng. Đôi khi nước Mĩ còn giữ được một phần sức mạnh mềm của mình là nhờ có một xã hội dân sự có thái độ phê phán và không bị kiềm duyệt, mặc dù hành động của chính phủ xói mòn nó (thí dụ như cuộc xâm lăng Iraq). Nhưng chiến lược khôn ngoan phải là quyền lực cứng và mềm hỗ trợ lẫn nhau.
Trong cuốn sách mới xuất bản, với nhan đề Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc toàn cầu (China Goes Global), David Shambaugh, Giáo sư của đại học George Washington, chỉ ra rằng Trung Quốc đã chi hàng tỉ đô là trong “chiến dịch hấp dẫn” nhằm gia tăng quyền lực mềm của họ. Khác với các nước phương Tây, các chương trình trợ giúp của Trung Quốc cho châu Phi và Mĩ Latin không chỉ giới hạn trong những mối lo lắng về quyền con người. Người Trung Quốc thích hào phóng. Nhưng mặc cho những cố gắng như thế, Trung Quốc chẳng nhận được bao nhiêu. Những cuộc thăm dò dư luận về ảnh hưởng của Trung Quốc cho thấy họ có ảnh hưởng tích cực ở nhiều nước châu Phi và châu Mĩ Latin, nhưng nói chung là tiêu cực ở Mĩ, châu Âu cũng như ở Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ngay cả những thành công vang dội của quyền lực mềm, thí dụ như Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, cũng nhanh chóng trở thành tiêu cực. Chẳng bao lâu sau khi những vận động viên cuối cùng ra đi, việc Trung Quốc đàn áp những nhà hoạt động nhân quyền ở trong nước đã làm tiêu mòn quyền lực mềm mà họ vừa thu được. Triển lãm ở Thượng Hải năm 2009 (Shanghai Expo) là một thắng lợi lớn, nhưng ngay sau đó là vụ bỏ tù Lưu Hiểu Ba, người được giải Noble về hòa bình và màn hình trên khắp thế giới chiếu chiếc ghế trống trong lễ trao giải ở Oslo. Có thể Putin hi vọng là quyền lực mềm sẽ được củng cố nhờ Thế vận hội mùa đông ở Sochi, nhưng nếu ông ta tiếp tục đàn áp những người bất đồng chính kiến thì có lẽ ông ta cũng sẽ thất bại.
Trung Quốc và Nga đã lầm khi nghĩ rằng nhà nước là công cụ chủ yếu của quyền lực mềm. Trong thế giới hiện nay, thông tin thì thừa, nhưng chú ý lại thiếu. Mà muốn được người ta chú ý thì phải khả tín. Tuyên truyền của chính phủ thường ít khả tín. Tuyên truyền tốt nhất là không tuyên truyền gì cả. Mặc cho tất cả những nỗ lực nhằm đưa Tân Hoa Xã và Truyền hình trung ương Trung Quốc thành những hãng cạnh tranh với CNN và BBC, chẳng có mấy người chịu xem hoặc nghe những chương trình sặc mùi tuyên truyền như thế. Như tờ Economist nhận xét về Trung Quốc “đảng không hiểu quan điểm của ông Nye rằng quyền lực mềm có xuất xứ chủ yếu từ các cá nhân, từ khu vực tư nhân, và từ xã hội dân sự. Vì vậy mà chính phủ tìm cách quảng bá những thần tượng của nền văn hóa cổ đại, họ nghĩ rằng những hình tượng đó có thể tạo được sức hấp dẫn trên toàn thế giới.” Nhưng quyền lực mềm không hoạt động theo cách ấy. Như ông Pang Zhongying ở trường Đại học Nhân dân (Renmin University) nhận xét, điều đó chứng tỏ “sự nghèo nàn trong tư duy” của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Sự phát triển của quyền lực mềm không cần phải là một trò chơi có tổng bằng không. Tất cả các nước đều được lợi nếu thấy rằng họ là những nước có sức hấp dẫn lẫn nhau. Nhưng muốn thành công thì trong chính sách, Nga và Trung Quốc phải có lời nói đi đôi với việc làm, phải có thái độ tự phê bình và giải phóng toàn bộ tài năng của những xã hội dân sự của chính họ. Đáng tiếc là chuyện này sẽ không thể xảy ra trong một sớm một chiều.

Joseph S. Nye
Phạm Nguyên Trường dịch
Chia sẻ bài viết này



Thứ Ba, 30 tháng 4, 2013

Cách Giải Quyết Chiến Tranh Hai Miền Của TỰ DO & CỌNG SẢN

Người Tự Do Giải Quyết Chiến Tranh Hai Miền


Sắp đến ngày Quốc Hận Ba Mươi Tháng Tư thứ 38 rồi, dư luận của người dân trong ngoài nước vẫn còn dấy lên qua tin nhà cầm quyền CSVN cấm cọc, lấy đất của Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà, làm con đường cắt ngang nơi an nghĩ cuối cùng của gần 18 ngàn quân nhân Việt Nam Cộng Hoà ở Miền Nam đã vì dân chiến đấu vì nước hy sinh. Tuy là cọc này gỡ lên, vẫn không có giải thích minh bạch nào hết. Ðiều đó cho thấy người CS giải quyết chiến tranh hai miền hoàn toàn khác với người Tự do.

Thực vậy, Hoa kỳ và Việt Nam, hai nước đều có trải qua một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc. Hoa Kỳ dùng tình thương xóa bỏ hận thù để chấm dứt chiến tranh, để tác động tốt cho quân sĩ, để hòa giải dân tộc và để tái tạo nội lực quốc gia. Còn VN, Cộng sản Hà nội dùng hận thù để chấm dứt chiến tranh, tạo thêm một cuộc “chiến tranh khác” trong thời hậu chiến bình yên, không súng nổ nhưng đầy tù đày, chết chóc, tỵ nạn; 38 năm sau oan nghiệt vẫn còn.

Năm 1994, tạp chí Readers Digest số 9/ 1994 có đi một bài đầy ý nghĩa: Chiến tranh Nam Bắc Mỹ (1861-1865) — Ân Xá ở Appomattox (Mercy at Appomattox). Tác giả là một nhà khảo sử William Zinsser. Một đốc sự hành chánh của VNCH, Ô Lê Ngọc Diệp đọc nhiều lần, nhơn Tết Mậu Thân thứ 40 rồi thấy CS Hà nội còn ăn mừng chiến thắng rầm rộ, nên phiên dịch để so sánh cách giải quyết chiến tranh rất khác nhau giữa những người tự do và người CS.

Cuộc chiến tranh Nam Bắc ở Mỹ từ  năm 1861 đến 1865; ở VN, từ 1960 đến 1975. Số thương vong quân sự ở Mỹ gần 600,000 trong vòng 4 năm; ở VN, không có số thống kê chánh thức nhưng ít ra cũng 3-4 lần nhiều hơn trong 15 năm. Ở Mỹ lý tưởng tự do, chiến đấu giải phóng nô lệ Da Ðen thắng. Còn ở VN, lý tưởng bảo vệ tự do, dân chủ, chiến đấu tự vệ ở Miền Nam thua, chủ nghĩa độc tài đảng trị toàn diện Cộng sản ở Miền Bắc thắng. Nhưng khác biệt quan trọng và sâu sắc nhứt là hai bên Nam Bắc kết thúc chiến tranh  giữa hai miền Nam Bắc.

Hoa Kỳ lấy tình thương xóa bỏ hận thù để tái tạo nội lực dân tộc trong niềm tương kính những chiến sĩ sống cũng như chết đã anh dũng chiến đấu cho lý tưởng của mình. Sau khi thủ đô Richmond của Miền Nam mất, quân Miền Nam  hết sức suy yếu, đói rách, một viên sĩ quan đề nghị với Tướng Lee, tư lịnh Miền Nam, phân tán và đánh du kích. Tướng Lee không đồng ý. Ông giải thích tiếp tục đánh nhau chỉ gây thêm đau khổ không cần thiết cho dân miền Nam. Ông nói: “Không còn giải pháp nào khác hơn là tôi phải đến gặp tướng Grant, nếu không, tội của tôi đáng chết ngàn lần !”. “Ngày 9 tháng 4, tướng Lee ra lịnh viên sĩ quan tùy viên, đại tá Charles Marshall, đến một ngôi làng kế bên, Appomattox Court House, để tìm một địa điểm cho ông và tướng Grant gặp mặt. Tướng Lee đến trước, mặc lễ phục mang dây biểu chương và đeo kiếm, tướng Grant mặc đồ tác chiến thường ngày, quần và giày còn bám đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về cuộc sống quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mễ Tây Cơ. “Sau cùng, tướng Lee đề cập đến “mục đích của buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay“. Tướng Grant bèn lấy cây viết chì, viết vội vã những điều kiện đầu hàng và trao lại cho tướng Lee. Sau khi xem qua những điều tướng Grant trao, tướng Lee nói: “Những điều kiện nầy sẽ là môt tác động tốt cho quân sĩ của tôi“. Ðiều kiện đầu hàng không đòi hỏi sự trả thù địch quân, họ được tự do về lại quê nhà. Tướng Lee đề cập đến nhiều binh lính của ông dùng ngựa đi đánh trận, [tức có xem ngựa là vũ khí phải giao nộp theo luật chiến tranh không] ông hỏi tướng Grant rằng những quân lính nầy có thể giữ lại ngựa của họ được không? Tướng Grant chấp nhận và ông nói hầu hết là những người nông dân và nếu họ không có ngựa, ông e rằng họ khó lòng trồng trọt để sống qua mùa đông. Tướng Lee trả lời: “Ðiều nầy sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc của chúng ta“.Trước khi chia tay, ông cho tướng Grant biết rằng ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không đủ lương thực cho họ, và ngay cả thiếu lương thực cho binh lính của ông. Tướng Grant nói ông sẽ gởi sang cho binh lính của tướng Lee 25.000 phần lương thực khô. Các đơn vị của Tướng Grant nhịn bớt phần ăn, gởi cho quân miền Nam nhiều hơn số Tướng Grant hứa.

“Vào ngày 12 tháng 4, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng để trao nộp vũ khí. Chính tại nơi nầy, hành động hòa giải cuối cùng đã xảy ra và đó là tất cả ý nghĩa tại Appomattox. Một nhân vật đáng kính, Tường Joshua L. Chamberlain, một tướng lãnh miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ quy hàng. Ông vốn là một giáo sư  của đại học Bowdoin, rời bục giảng, tình nguyện nhập ngũ, sáu lần bị thương, có một lần trầm trọng đến nỗi bác sĩ quân y không cứu chữa vì coi ông như đã chết.

“Ngày tiếp đón quân Miền Nam giao nộp vũ khí, trước hàng quân nghiêm chỉnh, Tướng Chamberlain, sau này kể lại. Nhìn những binh sĩ miền Nam xơ xác từ trên đường đồi đi vào làng, dẫn đầu là tướng John B. Gordon, “Giây phút đó làm tôi thật sự xúc động. Tôi quyết định để đánh dấu sự việc nầy, tôi phải làm biểu hiện thừa nhận không gì khác hơn là chào tay. Ðối diện với chúng tôi, trong tư thế bại trận nhưng can trường, là biểu tượng của tinh thần trượng phu, những con người không rã rời, không đau khổ, bất chấp tử vong và không có một sự tuyệt vọng nào có thể khuất phục họ được. Bây giờ đây, họ trở thành những con người ốm yếu, tả tơi và đói khát, nhưng họ đứng sừng sững, mắt nhìn ngang vào chúng tôi, làm sống dậy những sự ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn hết. Những đấng nam nhi như vậy sao lại không được hội nhập vào một Hợp Chúng Quốc đã thử thách và vững vàng?”

Ðáp lại lịnh của tướng Chamberlain, “tức thời tất cả hàng ngũ của chúng tôi, từ đơn vị nầy đến đơn vị khác, đều nghiêm chỉnh chào tay. Tướng dẫn đầu đoàn quân, ngồi trên lưng ngựa trông buồn bã, đầu cuối xuống, nghe được tiếng động của sự chào tay và nhận ra hàm ý của việc đối xử nầy, di chuyển một cách tuyệt diệu làm cho ông và con tuấn mã ở một vị thế nhìn thẳng, rồi ông theo quân cách chào lại bằng cách hạ kiếm ngang mũi giày và ra lịnh cho các đơn vị theo sau thi hành lễ nghi quân cách khi đi ngang hàng quân Bắc Mỹ: danh dự được đối xử bằng danh dự! Phía chúng tôi không còn tiếng kèn thắng trận, không một tiếng trống, không một tiếng reo hò, không một lời nói hay một tiếng sầm xì về một sự vinh quang hư ảo, mà là một sự im lặng rợn người và nghẹt thở dường như là một sự diễn hành của những bóng ma“.

Từ sáng sớm đến chiều tối, những người lính miền Nam ở thế chào đi ngang những người miền Bắc cũng ở thế chào. Họ giao vũ khí, những lá cờ miền Nam tơi tả và trở về quê. Gần 100.000 quân miền Nam đã quy hàng ở Appomattox. Vài ngày sau, tất cả đều rời nơi nầy và ngôi làng trở về nếp sống an bình của nó.”

Hận thù chiến tranh Nam Bắc đã qua đi để xây dựng lại tình yêu  và nội lực quốc gia dân tộc và quân lực Hoa kỳ. Những bãi chiến trường và nghĩa trang quân đội của hai miền Nam và Bắc Mỹ đều được chánh quyền và nhân dân Mỹ tôn vinh, thừa nhận là cổ tích liệt hạng của Liên bang Mỹ. Một phần đất của nghĩa trang quốc gia Arlington được dành cho quân dân Miền Nam có công với Tổ Quốc Mỹ. Lá cờ Miền Nam, người dân, tổ chức nào muốn treo thì treo như di sản niềm tin của mình. Không có trả thù, trả oán. Không coi chiến thắng là vinh quang.

Ðọc những dòng trên, quân dân cán chính VN Cộng Hòa không thể nào không nhớ lại và không thể nào quên những tủi nhục mà CS Hà nội đã gây ra sau khi Tường Dương văn Minh ra nhật lịnh buông súng, chờ bàn giao chánh quyền cho những người CS Miền Bắc. Người chết mà CS Hà nội không tha, cào mồ cuốc mả, phá nghĩa trang. Người sống thì bắt đi tù cải tạo, rừng thiêng nước độc, cưỡng bức lao động, không bản án, không ngày ra. Dân bị đổi tiền ba lần bồn lượt, đánh tư sản mại bản rồi tư sản dân tộc. Nhà cửa bị tịch thu cấp cho cán bộ Miển Bắc vào cai trị. Lối sống và văn hóa, văn nghệ Miển Nam bị cào bằng qua nhiều chiến dịch tịch thu văn hóa phẩm, cầm nhạc vàng. Hơn ba triệu người vượt biên, vượt biển. 38 năm sau CS Hà nội có mở cửa kinh tế nhưng khóa chặt chánh trị. Tự do, dân chủ, nhân quyền của người Việt không nới lỏng./. 

Vi Anh


Người CS Giải Quyết Chiến Tranh Hai Miền
Hoa kỳ và Việt Nam, hai nước đều có trải qua một cuộc chiến tranh giữa hai miền Nam Bắc. Hoa kỳ dùng tình thương xóa bỏ hận thù để chấm dứt chiến tranh, tác động tốt cho quân sĩ, hòa giải dân tộc và tái tạo nội lực quốc gia dân tộc. Còn VN, Cộng sản Hà nội dùng hận thù để chấm dứt chiến tranh, tạo một thời kỳ hậu chiến đầy tù đày, chết chóc; 38 năm sau oan nghiệt vẫn còn.

Bài trước bài này đã mô tả hai vị tướng tư lịnh của hai miền Nam Bắc của nước Mỹ gặp nhau sơ bộ trong niềm tương kính, với tác phong mã thượng, giải quyết chiến tranh trên tinh thần tôn vinh sĩ khí, hòa giải dân tộc. Không coi ai thắng ai. Quân nhân giao nộp vũ khí rồi là hoàn toàn tự do trở về đồi sống tự do của công dân Mỹ. Ngựa đem theo khi tòng quân không xem là chiến cụ được dắt về để canh tác. Tù binh trao trả vô điều kiện. Quân Miền Nam thiếu lương thực, quân Miền Bắc tiếp tế liền. Tiếp đón quân Miền Nam đến trao nộp vũ khí, Quan Miền Bắc chào tay trước, đúng lễ nghi quân cách đầy danh dự làm cảm động những đồng đội khác miền cùng chào lại đồng đội của mình. Những bãi chiến trường và nghĩa trang quân đội của hai miền Nam và Bắc Mỹ đều được tôn vinh, thừa nhận là cổ tích liệt hạng của Liên bang Hoa kỳ. Một phần đất của nghĩa trang quốc gia Arlington dành cho quân dân Miền Nam. Lá cờ Miền Nam, người dân, tổ chức nào muốn treo thì treo như di sản niềm tin của mình. Không có trả thù, trả oán. Không có tù đày, không có kể tội. Không coi chiến thắng là vinh quang. Hận thù chiến tranh Nam Bắc qua đi để tình yêu Tổ quốc và nhân dân Hoa kỳ xây dựng lại đoàn kết quốc gia, nội lực dân tộc.

Trái lại CS Hà nội kết thúc cuộc chiến tranh hai miền Nam Bắc của VN bằng hận thù, làm nhục quân dân Miền Nam. Không có biển máu tràn ngập một lần ở Miền Nam, nhưng CS nhốt đồng bào  dân chúng Miền Nam trong một trại tù lớn  là xã hội CS và giam cầm viên chức chánh quyền, quân đội, chánh đảng và tôn giáo của  VN Cộng Hòa trong trại tù nhỏ mà  CS Hà nội tuyên truyền là trại cải tạo tập trung. CS Hà nội lừa dối gọi quân dân cán chính trung cao của Miền Nam trình diện đi cải tạo một tháng để bắt ở tù biệt xứ, lao động khổ sai, cưỡng bách không ngày ra, không bản án. Sau đó còn đến tận nhà những người đã hồi hưu, giải ngũ đã rời khỏi chánh quyền, quân đội đã lâu để bắt gởi đi tù cải tạo. Nhà cửa thì tịch thu, cấp cho cán bộ đảng viên miền Bắc vào, trong rừng ra. Con em thì cấm cửa vào đại học, lừa gạt gọi là ưu tiên 13 dù thi đậu nhưng chỉ kêu vào cho học khi đã gọi hết 12 thành phần gia đình trong xã hội rồi mới gọi tới con em có phụ huynh đi “cải tạo tập trung”.

Ðối với dân, đổi tiền mấy lần, có bao nhiêu phải nạp hết, chỉ trả lại một số tiền không đủ chi dụng cho gia đình một tháng. Ðánh tư sản mấy lượt, đánh tư sản mại bản, đánh tư sản dân tộc không chừa, bắt đi vùng “kinh tế mới” nhưng  không nhà không cửa, không điện, không nước, không trường học cho trẻ em. Cào bằng văn hóa, kinh tế, triệt tiêu tiềm lực chánh trị của nhân dân Miền Nam, làm xã hội suy đồi,  nhân tâm ly tán, kinh tế băng hoại, đất biển cắt dâng cho Trung Cộng để trả nợ.

Ðưa người Miền Bắc vào Miền Nam nắm tất cả những chức vụ then chốt từ tỉnh thị đến quận huyện. Bóp mũi không thương tiếc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam do CS Hà nội dùng người Miền Nam  dàn dựng để làm bình phong cho CS Hà nội xâm lược. Cô lập và vô hiệu hóa Tướng Trần văn Trà tư lịnh quân giải phóng. Sáp nhập các tỉnh lại để đảng bộ Miền Nam ít trung ương ủy viên trong Ðảng.

Người dân Miền Nam chịu không thấu, tổ chức vượt biên tỵ nạn CS. Lương tâm Nhân loại bị chấn động với cuộc di tản vô tiền khoáng hậu trong lịch sử VN gọi là phong trào Thuyền Nhân. Người Hoa Kiều  trong thời  chiến vốn lo làm ăn, ít xen vào chánh trị, có khi còn đóng thuế cho Việt Cộng nữa, cũng không chịu nổi, đành trốn chạy thành phong trào Nạn Kiều. Lương tâm Mỹ cắn rứt vì bỏ đồng minh, vận động đưa những  gia đình và  người có dính líu với chánh quyền và quân đội VNCH sang định cư ở Mỹ.

Bằng những hành động trả thù, làm nhục con người Miền Nam và khai thác đất  và dân Miên Nam như thuộc địa, CS Hà nội đã làm lại một cuộc chiến tranh. Một cuộc chiến tranh tuy không có súng nổ trong thời hậu chiến của Chiến tranh Nam Bắc nhưng thiệt  hại về người và của cho dân Miền Nam không thua gì cuộc Chiến tranh Nam Bắc. Tuy chưa có số thống kê chánh thức, nhưng nhà văn YungKrall, tác giả Thousand Tears Falling, đã dựa vào những tài liệu của quốc tế, liệt kê và sơ kết ra con số hết hồn. CS đày đi tù cải tạo: 1,040,000 từ 1975 đến 87. Chết trong tù cải tạo 95,000. CS tử hình 100,000. Vượt biên chết trên biển 500,000. Con số chết vì CS sau khi hòa bình lập lại gần ba phân tư triệu người Việt! Một hậu chiến đầy tù đày và chết chóc dù tiếng súng không còn.

Vì vậy 38 năm CS Hà nội thống nhứt được lãnh thổ, con tàu Thống Nhứt chạy Bắc Nam hàng chục ngàn chuyến, hàng vạn dặm mà lòng dân không xích lại gần nhà cầm quyền CS được một ly nào. CS Hà nội vẫn tiếp tục chế độ cảnh sát trị, xét người qua sơ yếu lý lịch, lý lịch trích ngang khi có chuyện với nhà cầm quyền. Ðảng CS vẫn giành quyền độc tôn, chuyên chế, không chấp nhận tiếng nói khác với CS. CS  mở cửa kinh tế cho đầu tư nước ngoài vào nhưng khóa chặt cửa chánh trị. Kinh tế có tăng gia nhưng chỉ đảng viên, cán bộ, những người ăn theo cấu kết với ngoại bang hưởng lợi và hành động như cường hào ác bá đỏ ở nông thôn và tư bản đỏ phi sản xuất ở thành thị. Bao nhiêu nhà cửa đất đai của tôn giáo và dân chúng mà CS cưỡng chiếm vô luật, bất công, CS không xét lại. Vẫn tiếp tục xem quân dân cán chính VNCH đã chết như tử thù. Nghĩa trang của những quân cán chính Miền Nam không cho gia đình trùng tu. Hỏi như vậy người Việt ở Miền Nam ở trong nước và ngoài nước  làm sao không tiếp tục chống Cộng./.

Vi Anh

Tháng Tư và Hòa Giải

Cuộc chiến ý thức hệ tại Việt Nam đã kết thúc 38 năm. Trang sử chiến tranh trôi qua, trang sử trả thù và trấn áp khởi đầu. Tháng tư đã trở thành một dấu mốc để ghi dấu về một chuyển biến lớn, khi đất nước thống nhất xong, là một bức màn sắt buông phủ trên cả nước.

Ðó là những gì đã làm cho tháng tư trở thành một vị đắng, không chỉ đối với hàng trăm ngàn người bị đẩy vào các trại tù cải tạo nhiều năm, đối với hàng triệu người bị đẩy lên vùng kinh tế mới hiu hắt với chục ký gạo và cuốc xẻng, đối với nhiều thế hệ trẻ em Miền Nam bị kỳ thị giáo dục, đối với hàng trăm ngàn người thoát được qua những chuyến vượt biên đường biển và đường bộ... và bây giờ, ngay cả khi căm thù đã lắng xuống đối với nhiều người, câu hỏi chưa trả lời được từ phía người thắng cuộc là tại sao cuộc chiến này không đem lại tự do, dân chủ và nhân quyền sau gần 4 thập niên hòa bình.

Trong khi đó, những bước ngoặt lịch sử đã dẫn tới những hình ảnh kinh dị ở quê nhà.

Chế độ một thời căm thù tôn giáo, một thời nghi ngờ tất cả những tổ chức đông người mang yếu tố tâm linh – vì thế giới tâm linh là những gì nằm ngoài vòng kiểm soát của công an – bây giờ lại cho dàn dựng, thành lập (và có vẻ như chính nhà nước ám trợ tổ chức) một tổ chức tôn giáo là Ðạo Bác Hồ, với kinh điển riêng, cũng rước Tượng Phật Ngọc Hồ Chí Minh, cũng tụng Nam Mô A Di Ðà Phật và tụng các tụng kinh thờ phượng ông Hồ. Khi bạn vào YouTube, gõ chữ “Ðạo Bác Hồ,” sẽ thấy được kế hoạch muốn xây dựng nhà nước CSVN trên căn bản tâm linh Ðạo Bác Hồ, và đạo này hiện nay đã truyền sang 15/61 tỉnh thành, từ Hà Nội ra Hài Phòng, Sơn La, Nghệ An, Thái Bình...

Trong những ngày cuối tháng 4-2013, blogger Lê Anh Hùng gửi Thư Cầu Cứu, cho biết công an bao vây nguồn sinh kế của cả hai vợ chồng anh, thư viết:

“...Sau khi bị bao vây, đánh phá với đủ mọi chiêu trò, vợ chồng tôi phải dẹp quán nhậu nhỏ vốn là kế mưu sinh ở thị trấn Khe Sanh, Quảng Trị từ giữa tháng 4/2013.
Ngày 24/4/2013, vợ tôi được nhận vào làm đầu bếp cho một nhà hàng ở huyện Mỹ Chánh, Thừa Thiên – Huế.

Tuy nhiên, sáng 26/4, đột nhiên có ai đó gọi ông chủ nhà hàng đi đâu đó. Một lát sau, ông gọi điện về cho vợ tôi rồi hỏi: “Có phải chồng cháu là phản động không?” Cuối cùng, mặc dù ông chủ nhà hàng rất muốn vợ tôi ở lại làm việc và vợ tôi cũng rất muốn làm việc ở đó, ông vẫn buộc phải cho vợ tôi nghỉ.

Suốt mấy năm nay, vợ chồng tôi lâm vào cảnh vô cùng khó khăn, vì dính vào vụ tố cáo những tội ác tày trời, man rợ của bè lũ Nông Ðức Mạnh – Nguyễn Tấn Dũng – Hoàng Trung Hải......Vợ chồng tôi luôn phải đối mặt với sự đe doạ, khủng bố thường trực từ tay chân của những kẻ bị chúng tôi tố cáo. Xin đơn cử, ngày 27/2/2013, vợ tôi bị 9 tên côn đồ bắt cóc ở thị trấn Khe Sanh lúc 5h chiều và đưa ra Hà Nội thả xuống bến xe Giáp Bát vào 5h sáng hôm sau. Vụ việc này, một số blog trong và ngoài nước (trong đó có blog Nguyễn Tường Thuỵ) đã loan báo. Tôi cũng đã trực tiếp trao thư khẩn cho ÐBQH Dương Trung Quốc. Mới đây, vợ tôi lại bị bọn chúng bắt cóc từ rạng sáng 18 (khi cô ấy vào thăm một ngôi chùa ở Huế rồi ngủ lại đó) cho đến sáng 21/4 chúng mới thả.

Vì vậy, tôi kính mong dư luận trong và ngoài nước lên tiếng, ủng hộ vợ chồng tôi trong cơn nguy nan này, khi mà chúng tôi đang kiệt quệ, bị đe doạ khủng bố đủ kiểu, lại đang phải nuôi 3 đứa con nhỏ dại.”(hết trích)
Bài viết tựa đề “Hòa giải dân tộc - Cũng là chuyện của người Việt trong nước” của blogger Phương Bích trong đó bàn về hòa giải:

“...Thực ra sau chiến tranh, không phải tất cả người Việt ở 2 phía đều căm thù nhau. Nếu không có chuyện phân biệt kẻ thắng người thua, không có chuyện “trừng phạt” dẫn đến thảm cảnh hàng triệu người Việt Nam phải rời bỏ quê hương, gây nên oán thù suốt mấy chuc năm qua làm chia rẽ lòng người, thì nước Việt ta biết đâu sẽ lớn mạnh chả kém gì nước Nhật, hay Mỹ?

Chuyện hòa giải không còn là của riêng người Việt trong nước và người Việt tha phương, mà chính người Việt trong nước cũng cần hòa giải với nhau. Nếu không cố gắng tìm tiếng nói chung, vô hình chung chúng ta càng đẩy mình ra xa nhau.
Ðây hoàn toàn không phải là sự thỏa hiệp. Ít nhất đã có nhiều người ở cả hai phía của cuộc chiến trước đây, giờ trở thành bạn bè thân thiết qua mạng. Họ đều có chung một khao khát cho đất nước, sau ngần ấy năm đau khổ vì chiến tranh và ly tán, nay phải được bình yên và hạnh phúc. Tôi tin chả có thế lực thù địch nào bên ngoài, nguy hiểm bằng chính sự tha hóa ở bên trong đang làm mục ruỗng đất nước mình...”(Nguồn: http://chimkiwi.blogspot.com)

Một tin khác cho biết cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên bị đánh trong trại giam, theo bản tin của Ðài RFI:

“Hôm qua, 26/04/2013, bà Nguyễn Thị Nhung – mẹ của sinh viên Nguyễn Phương Uyên, 20 tuổi -- vào trại giam Long An thăm con, bị tạm giam từ cuối tháng 10/2012, để chờ đưa ra xét xử, vì bị cáo buộc «Tuyên truyền chống Nhà nước», sau vụ rải truyền đơn tại khu vực cầu vượt An Sương (Sài Gòn) ngày 10/10/2012, lên án các bất công trong vấn đề đất đai cũng như việc Trung Quốc gây hấn ở Biển Ðông. Khi gặp con, bà Nhung rất bất ngờ vì thấy nhiều thương tích trên cơ thể con mình.

Nguyễn Phương Uyên đã kể với mẹ là đã bị đánh đến ngất trong tù. Ðây là điều khiến bà Nguyễn Thị Nhung hết sức bất ngờ, vì trước đó cán bộ trại giam cho biết cô Phương Uyên bị lên cơn co giật vì động kinh... ...Sau khi được giải quyết thăm gặp, được gặp bé, thì thấy ở trên người bé có nhiều vết bầm tím, trên cổ, trên ngực, trên tay, thì tôi mới hỏi : "Con làm sao mà bị thâm tím như vậy ?" Con tôi nó nói rất là thương tâm : "Mẹ ạ, con bị người ta đánh, người ta đạp vào bụng, người ta đánh nhiều lắm, đánh con ngất xỉu luôn". Tôi mới hỏi là : "Tại sao con bị đánh ?" Con bé im. Nó rất là hiền. Ngày xưa đến giờ nó sống với bao nhiêu người, chưa bao giờ có ai phàn nàn gì hết, mà hôm nay, tự dưng lại bị đánh, thì nó nói là : "Con không làm gì hết, tự nhiên mấy người đó gây sự, rồi xông vào tấn công con, cho đến lúc con xỉu luôn, mới được quản giáo can thiệp đưa đi cấp cứu"...”(hết trích)

Trong khi đó, chàng thanh niên cựu tù nhân lương tâm Phạm Văn Trội, người có 4 năm tù giam cho việc nêu lên những quan điểm chính trị, nhận xét trên đài RFA về người trẻ Việt Nam hôm nay:

“Tôi thực sự hy vọng và mong chờ không chỉ về cuộc hòa giải liên quan về cuộc chiến tranh vừa qua, mà còn mong chờ một nước Việt Nam mới. Chúng tôi nghĩ đó là một nước Việt Nam đa sắc màu, thay vì chỉ quẩn quanh trong thế giới vàng và đỏ. Ðó không phải là một Tổ quốc Việt Nam XHCN, mà là một Tổ quốc cởi mở và có đủ đất để ươm mầm cho mọi quan điểm, mọi chính kiến và mọi luồng tư tưởng khác nhau.

Tôi tin rằng một Tổ quốc như thế, có lẽ sẽ che chở con em của nó thoát khỏi những thảm kịch đau lòng như là cuộc nội chiến vừa rồi. Một nước Việt Nam dân chủ đa nguyên, hòa hợp và hòa bình sẽ trở thành một cường quốc. Tôi nghĩ là để xây dựng nước Việt Nam ấy, chúng ta phải huy động tấm lòng và sức lực của mọi người Việt. Ðó là lý do để thế hệ chúng tôi, tức là thế hệ trẻ nên hòa giải khẩn cấp ngay từ ngày hôm nay.”(hết trích)

Hòa giải, đối thoại... là ước mơ đẹp nhất có thể có trên đời này.

Nhưng than ôi, ngay với những người đã chết trong cuộc chiến, đang nằm lặng lẽ ở Nghĩa Trang Biên Hòa cũng không được bình yên, thì nói gì với người sống là những người có thể có ý kiến, có suy nghĩ và có khả năng tranh biện.

Thậm chí, ngay như các tấm bia đá tưởng niệm ở đảo Galand tại Indonesia, đảo Pulau Bidong ở Mã Lai để tưởng niệm những người đã chết ở biển trong khi lên ghe vượt biên cũng bị chính phủ Hà Nội yêu cầu các nước sở tại đập cho vỡ tan tành... thì nói làm gì tới hòa giải thật tâm.

Hòa giải, đối thoại... đơn giản nhất là, chính phủ Hà Nội phải trả tự do cho những người tù bất  đồng chính kiến. Và khi muốn đối thoại thực sự, cũng phải là đối thoại với đồng bào, trong đó những người bất đồng chính kiến là một thành phần bất phân ly của  dân tộc.


Trần Khải

Câu Chuyện của một Ðại Tá Phi Công Hoa Kỳ Tù Binh của CSVN


Lời nói đầu: 

Sau cuộc chiến Việt Nam, đã có nhiều huyền thoại đầy anh hùng tính viết về người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Và trong rất nhiều trường hợp, chỉ tới khi ấy, chúng ta mới giật mình nhận ra những người “anh hùng” được nhắc tới lại chính là những cấp chỉ huy, những đồng đội, những thuộc cấp rất bình thường của mình.

Một trong những con người rất bình thường ấy vừa được vinh danh là cựu Trung-úy hoa tiêu khu trục Nguyễn Văn Xanh, Phi Ðoàn 530 Thái Dương, Không Ðoàn 72 Chiến Thuật (Pleiku). Thời gian ấy – Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972, với tư cách Sĩ quan Thông Tin Báo Chí đơn vị, có nhiệm vụ báo cáo hàng tuần về tổng số phi vụ và kết quả hoạt động của đơn vị cho Phòng Thông Tin Báo Chí – BTL/KQ , có lẽ chúng tôi đã chỉ ghi ngắn gon trong phần tổn thất của quân bạn: “Phi Ðoàn 530: một A-1 Skyraider bị phòng không địch bắn hạ ngày 9/5/1972 tại Kontum; phi công nhảy dù và được ghi nhận mất tích”. Chấm hết!

Nhưng với một phi công Ðồng Minh xa lạ, tới đây câu chuyện của ông mới bắt đầu. Xin mời độc giả theo dõi câu chuyện cảm động ấy qua hồi ký của Ðại-tá Lục Quân (hồi hưu) William S. Reeder, nguyên phi công trực thăng tấn công AH-1G Cobra, phục vụ tại Căn cứ Halloway, gần phi trường Cù Hanh, Pleiku, mới được phổ biến trên Internet. Cũng cần viết thêm, sau khi giải ngũ, ông Reeder đã trở lại trường đại học, và đạt tới học vị Tiến sĩ. Nguyễn Hữu Thiện

Tôi còn nhớ đợt phục vụ luân phiên (tour of duty) thứ nhì của tôi khởi đầu vào ngày 7 tháng 12 năm 1971. Lúc ấy, chương trình rút quân Mỹ theo kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” của Tổng thống Nixon đang được tiến hành một cách suông sẻ. Gánh nặng trong cuộc chiến đã được chuyển giao gần hết cho Quân Lực VNCH, và quân Mỹ đã được đưa về nước với một nhịp độ chóng mặt. Giờ này nhìn lại, phải công nhận chương trình Việt Nam hóa ngày ấy đã đạt kết quả tốt đẹp. Hoạt động của địch quân ở miền Nam đã giảm hẳn, và hình thức chiến tranh du kích của quân phiến cộng đã không còn hiện hữu. Thế nhưng, sự yên tĩnh ấy đã không kéo dài..
Mùa xuân 1972, quân Cộng Sản Bắc Việt bất thần mở những cuộc tấn công vũ bão chưa từng thấy trong cuộc chiến – đợt tấn công mà người Mỹ quen gọi là “Cuộc tổng công kích mùa Phục Sinh 1972″ (1972 Easter Offensive). Ðây không phải là một cuộc tổng nổi dậy của Việt Cộng trong Nam như hồi Tết Mậu Thân 1968, mà là một chiến dịch quy mô với hàng loạt cuộc tấn công quy mô của quân CSBV băng qua vùng phi quân sự, và từ những căn cứ đóng quân trên lãnh thổ Lào và Căm-bốt, với mưu đồ cắt đôi lãnh thổ VNCH tại vùng Cao Nguyên, và tiến đánh Sài Gòn, thủ đô miền Nam. Kết quả, quân CSBV đã thất bại trước sức chiến đấu mãnh liệt của lục quân và không quân miền Nam, với sự trợ lực tận tình của những đơn vị Hoa Kỳ còn đồn trú tại đây.

[1972 Easter Offensive được phía Việt Nam gọi là Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972; và từ đoạn này, người dịch sẽ sử dụng "Mùa Hè Ðỏ Lửa" thay cho "Easter Offensive"] Cuộc tổng tấn công bắt đầu vào tháng Tư năm 1972 với các cuộc tấn công của quân chính quy Bắc Việt từ Căm-bốt tiến về hướng Sài gòn, và băng ngang vùng phi quân sự tiến chiếm cố đô Huế. Sau cùng là mặt trận mang tính cách quyết định của chiến dịch: quân CSBV từ miền Bắc Căm-bốt và Nam Lào vượt biên giới tiến đánh vùng Tây Nguyên, với mục đích giành quyền kiểm soát dải đất Trung phần, và tiêu diệt lực lượng VNCH tại đây – giống như Việt Minh đã thực hiện, và đã thành công trong chiến tranh với Pháp vào năm 1954. Lần này, quân cộng sản đã thành công trong bước đầu, tuy nhiên sau đó họ đã không chiếm được một mục tiêu quan trọng nào. Ở phía bắc, họ chỉ tiến chiếm tới Quảng Trị, và sau đó đã bị lực lượng Nhảy Dù của VNCH đánh bại. Tại Tây Nguyên, họ chỉ chiếm được một số tiền đồn chung quanh Kontum, nhưng sau đó cũng bị đẩy lui.

Câu chuyện tôi kể lại sau đây chính là bối cảnh của một bi kịch đời người diễn ra vào lúc ấy, với vai chính là tôi, và một phi công VNCH tên là Xanh Văn Nguyễn – hay gọi theo cách gọi của người Việt, họ luôn đứng trước tên gọi, thì là Nguyễn Văn Xanh. Vào thời gian Mùa Hè Ðỏ Lửa 1972 khởi sự, tôi đang bay trực thăng tấn công AH-1G Cobra tại Căn cứ Halloway của Lục Quân Hoa Kỳ, ở gần tỉnh lỵ Pleiku. Trung-úy Nguyễn Văn Xanh thì bay khu trục cơ A-1 Skyraider ở Căn cứ Không Quân Pleiku. Chúng tôi không hề quen biết nhau, cũng chưa từng gặp gỡ bao giờ.
Hôm đó là ngày thứ hai 09 tháng 5, 1972, vào lúc hừng đông, tôi chỉ huy một phi vụ gồm 2 chiếc trực thăng Cobra yểm trợ một căn cứ bộ binh đang bị địch công hãm ở Polei Klang, ở cực tây tỉnh Kontum, gần biên giới Căm-bốt. Một lực lượng quân CSBV với sự yểm trợ của chiến xa đang tấn công căn cứ và tình hình thật bi đát. Sau nhiều vòng tấn công và sử dụng toàn bộ rocket, đạn M-79 và đạn đại liên, chúng tôi bay về phi trường Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Nhân viên phi hành bay chung với tôi, tức phi công phụ kiêm xạ thủ ngồi ghế trước của chiếc Cobra, là Thiếu-úy Tim Conry, quê ở Phoenix, tiểu bang Arizona. Tim là sĩ quan trẻ xuất sắc nhất mà tôi được biết, vì thế ngay sau khi anh tới đơn vị, tôi đã chọn anh vào phi đội do tôi chỉ huy, và luôn luôn để anh bay chung với tôi. Anh không chỉ là một nhân viên phi hành xuất chúng mà còn là một con người toàn hảo. Nhưng vào chiều ngày hôm ấy, anh đã trở thành người hùng thiên cổ!
Trở lại với phi vụ của chúng tôi, trên đường quay trở lại Polei Klang, chúng tôi được lệnh thay đổi mục tiêu tấn công: đó là tới yểm trợ cho một tiền đồn ở vùng Tam Biên – tức giao điểm của ba biên giới Việt Nam, Căm-bốt và Lào. Ðịa danh này có tên là Ben Het. Lực lượng trấn giữ là một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân, với quân số khoảng 300 người, và hai cố vấn Mỹ. Lực lượng bé nhỏ ấy đang phải chống trả sức tấn công của hàng ngàn bộ đội thuộc hai sư đoàn CSBV có chiến xa tăng cường. Khi chúng tôi tới nơi, các chiến xa đã vượt qua hàng rào phòng thủ, và bộ đội Bắc Việt đã chiếm gần hết căn cứ.

Trước đó, trên đường tới Ben Het, khi bay ngang qua Polei Klang, tôi nhìn xuống quan sát. Chiến sự đang sôi động, và tôi có thể thấy những chiếc khu trục A-1 Skyraider đang nhào xuống thả bom. Bỗng một chiếc A-1 bị trúng đạn phòng không, bốc cháy, đâm xuống đất nổ tung. Nhưng viên phi công đã kịp thời phóng ghế thoát hiểm vì tôi thấy cái dù của anh đang lơ lửng. Tôi liền gọi máy về xin được ở lại Polei Klang để yểm trợ cho cuộc cấp cứu. Lời thỉnh cầu của tôi bị từ chối. Tôi xin thêm một lần nữa, cũng bị từ chối. Và tới lần thứ ba thì bị từ chối một cách dứt khoát, cộc lốc. Lúc đó, chưa được biết tình hình ở Ben Het nguy kịch tới mức nào, cho nên tôi đã vô cùng phẫn nộ vì đã không được phép cứu giúp một phi công lâm nạn đang cần tới sự yểm trợ của mình.

Tôi bay vào Ben Het mà tưởng như đang bay vào một tổ ong bị động. Lúc đó, 5 chiến xa địch đã vượt qua hàng rào kẽm gai, và bộ đội Bắc Việt thì tràn ngập khắp nơi. Các quân nhân đồn trú còn sống sót đã rút vào hầm chỉ huy ở trung tâm để cố thủ. Chúng tôi tác xạ một hồi rồi yểm trợ cho một chiếc trực thăng đặc biệt được trang bị một loại hỏa tiễn chống chiến xa mới nhất. Sau khi sử dụng hết đạn dược, chúng tôi lại bay về Kontum để tái trang bị và lấy thêm nhiên liệu. Rồi quay trở lại Ben Het để thi hành phi vụ chiến đấu thứ ba trong ngày.

Sau khi cất cánh khỏi phi trường Kontum, chúng tôi được lệnh hộ tống một trực thăng có nhiệm vụ tiếp tế đạn dược cho Ben Het. Lúc đó, đạn của lực lượng cố thủ đã gần cạn, riêng hỏa tiễn chống chiến xa thì đã hết sạch.Sau khi gặp nhau, chúng tôi hộ tống chiếc Huey (tức trực thăng UH-1) tới Ben Het, tất cả đều bay sát ngọn cây. Vừa bay tới Ben Het thì súng nổ như pháo Tết, súng của ta lẫn súng của địch. Ở ghế trước trên chiếc Cobra của tôi, Thiếu-úy Tim Conry rải từng tràng mini-gun và những trái M-79 xuống thật chính xác. Tôi thì bắn từng cặp rocket. Chúng tôi càng tiến sâu thì hỏa lực phòng không của địch càng dày đặc. Nhưng rồi chiếc Huey cũng vào được tới nơi và hoàn tất nhiệm vụ cực kỳ khó khăn ấy, phần lớn là nhờ hỏa lực yểm trợ thật chính xác của Tim: sau khi lơ lửng tại chỗ ở cao độ gần sát mặt đất, và đạp các thùng đạn xuống, chiếc Huey bay ra dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi. Cùng lúc, chiếc Cobra của tôi bị trúng vô số đạn đủ loại của địch, bốc cháy và đâm xuống theo đường xoáy trôn ốc.. Chỉ trong giây lát, chiếc trực thăng chạm đất, và phát nổ ngay sau khi tôi và Tim – dù bị thương nặng – tìm cách thoát ra khỏi phi cơ.

Tim chết vào chiều tối hôm đó. Riêng tôi thì bị gẫy xương lưng, phỏng ở mặt và phía sau cần cổ, một miểng đạn nằm sâu ở mắt cá, và vô số vết thương nhỏ ở mặt và đầu. Nhưng mặc dù phi cơ rớt ngay trong khu vực có hàng trăm địch quân đang tấn công căn cứ, tôi cũng lẩn tránh được ba ngày trước khi bị bắt. 

* * * 

Tôi bị tra khảo trong mấy ngày liền; và bị đối xử khá tàn bạo. Khi ấy tôi ở trong một tình trạng cực kỳ thê thảm về thể xác. Lưng tôi bị gẫy. Máu từ vết thương ở mắt cá chảy ra đầy chiếc giày bốt, giờ này đã khô lại thành một khối cứng ngắt. Ðã ba ngày tôi không cạo râu. Tôi không còn khả năng điều khiển ruột già và bàng quang, cho nên tôi đã đại tiện, tiểu tiện ra đầy quần.. Tôi bị vô số vắt bám vào người để hút máu, và chúng đã bị tôi bứt ra hết, trừ một con đang chui vào lỗ mũi phía bên trái mà tôi không hề hay biết. Khi bắt được tôi và thấy cảnh này, đám bộ đội đã được một trận cười khoái trá.

Tôi bị tra khảo, đánh đập, hăm dọa. Hai tay tôi bị trói ngược ra phía sau bằng dây nhợ, và càng ngày càng bị xiết chặt theo thời gian bị tra khảo, cho tới khi hai vai tôi bị trật khớp, và hai cùi chỏ bị trói cứng với nhau, cấn vào chỗ xương lưng bị gẫy khiến tôi đau đớn khôn tả. Cuối cùng thì cuộc tra khảo cũng chấm dứt, và tôi được lệnh đi bộ trong ba ngày liên tiếp, để tới một trại giam trong rừng già – mà theo sự ước đoán của tôi, nằm ở phía bắc lãnh thổ Căm-bốt, ngay bên kia biên giới. Tôi đã được bọn họ trả lại trả lại đôi giày bốt, nhưng đã lấy mất hai sợi dây giày và đôi vớ. Sau ba ngày đi bộ, khi lết một cách đau đớn tới cổng trại giam, đôi bàn chân của tôi đã trở nên bầy hầy, giống như hai cái hamburger còn sống.
Trại giam này là một điển hình của những trại mà nhiều người đã từng sống qua. Trại được dựng trên một khoảnh đất trong rừng sâu, tất cả đều làm bằng tre. Chung quanh là một bức tường bằng tre, khiến người ta liên tưởng tới những tiền đồn của kỵ binh Mỹ vào thời khai phá miền Viễn Tây. Bên ngoài bức tường này lại có một bức tường khác. Giữa hai bức tường là một cái hào, giống như hào thành thời trung cổ. Dưới hào có vô số chông – là những thân tre vót nhọn, sắc bén như dao, cắm sâu dưới một lớp phân người.. Nếu rớt xuống đó, không chết vì bị chông đâm vào những bộ phận trọng yếu thì bạn cũng sẽ chết vì bị mất máu, hoặc nếu không chết ngay vì những vết thương thì cũng chết từ từ vì bị nhiễm trùng. Một thân cây được bắc ngang cái hào, mà phải cố gắng giữ thăng bằng, người ta mới có thể đi trên cái “cầu” này để vào trại.

Bên trong những bức tường tre ấy là những cái cũi, cũng bằng tre, để nhốt tù binh. Nào là quân nhân VNCH, nào là những người Thượng đồng minh của Biệt kích Mỹ; và hai người Mỹ – gồm tôi và một phi công trực thăng bị bắt trước đó một tháng. Tổng cộng, ít nhất cũng có vài trăm tù binh. Tình trạng trong trại giam thật tồi tệ. Chúng tôi sống như thú vật. Phần lớn những cái cũi để nhốt chúng tôi không đủ cao để có thể đứng dậy. Tuy nhiên điều đó cũng không cần thiết bởi vì chân chúng tôi đã bị cùm vào những cái cùm gỗ. Vì xương lưng bị gẫy, tôi không thể nằm mà phải ngồi để ngủ. Ðêm đêm, lũ chuột chạy tới chạy lui trong cũi và gặm nhấm vết thương ở mắt cá chân của tôi. Vì hai chân bị cùm, tôi không thể nhúc nhích nên không có cách nào để đuổi chúng đi. Cho tới ngày nay, tôi vẫn còn ghét chuột!

Mỗi ngày, chúng tôi được ra khỏi cũi một lần để làm công việc thải cặn bã trong cơ thể ở nhà vệ sinh dành cho tù binh. Giờ giấc mỗi ngày đều khác nhau, cho nên tù binh nào không có khả năng chờ đợi, kiềm chế, đã tự phóng uế ra quần khi đang còn bị cùm trong cũi (rất nhiều người trong số chúng tôi bị tiêu chảy). Sau khi ra khỏi cũi, chúng tôi phải đi một khoảng mới tới nhà vệ sinh ở một góc trại.“Nhà vệ sinh” này thực ra chỉ là vài cái hố xí để bạn phóng uế xuống. “Vấn đề” là có nhiều người trong số tù nhân bị đau yếu đã không thể nín trên đường tới hố xí, nên đã đại tiện ngay tại chỗ, khiến cả khu vực đầy rẫy những đống phân người. Một số tù nhân đau nặng, gần chết, thì được đặt trên những cái võng gần các hố xí. Khi có “nhu cầu”, người nào còn đủ sức thì ráng xuống khỏi võng để tới hố, người nào kiệt sức thì đành nằm trên võng mà phóng uế ra quần. Hậu quả là cả khu vực chung quanh mấy cái hố được mệnh danh là “nhà vệ sinh” ấy đầy rẫy phân người, mà những tù nhân còn tương đối khỏe mạnh, trên đường đi tới hố xí phải cẩn thận lắm mới né tránh được. Trên đường trở về cũi, không có bất cứ phương tiện nào để chúng tôi lau chùi, rửa ráy.

Theo ký ức của tôi thì nước uống không có “vấn đề”. Nước phân phát cho tù nhân được đựng trong những ống tre. Họ nói rằng nước đã được đun sôi, nhưng tôi vẫn bị tiêu chảy một cách thậm tệ. Nhưng lương thực thì có “vấn đề”.. Hầu như chỉ có một món duy nhất là cơm. Vào lúc gần trưa, mỗi người được một nắm to bằng trái cam, tới xế chiều được một nắm nữa. Thỉnh thoảng, chúng tôi được “chiêu đãi” bằng những khúc rễ cây có bột, gọi là sắn dây, tương tự như rễ cây “yucca” ở châu Mỹ La-tinh.. Chỉ trong vài tuần lễ, tôi đã sút mất hơn 20 ký-lô. Tôi giống như bộ xương cách trí với bộ râu dài. Trong khoảng thời gian 5 tháng, tôi không hề được cạo râu. Tôi không hề được chăm sóc về y tế hay được cấp phát bất cứ thứ thuốc men nào cả. Nhưng người nào cũng thế thôi. Người tù binh Việt Nam bị nhốt chung cũi, nằm cạnh tôi bị một vết thương rất nặng ở ngực, không hiểu đã được băng từ đời nào, nhưng trong suốt thời gian bị nhốt chung cũi, tôi không hề thấy anh được thay băng. Cái lỗ sâu hoắm trên ngực anh không bao giờ lành. Anh còn trẻ và tương đối khỏe, nhưng tôi biết chắc chắn anh sẽ không qua khỏi.

Chúng tôi sống như thú vật, trong điều kiện môi trường nhơ bẩn, đói khổ, không một chút thuốc men, cho nên hầu như ngày nào cũng có người chết. Xác họ được chôn trên sườn đồi phía bên ngoài trại. 

* * * 

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, tôi được đưa ra khỏi cũi và sắp hàng cùng với một toán tù binh. Có khoảng 25 người Việt và một người Mỹ khác. Chỉ một lát sau, tôi được biết trong toán tù binh này có một phi công bị bắn hạ cùng ngày với tôi, khi anh bay chiếc khu trục A-1 Skyraider yểm trợ cho trại Polei Klang. Tên anh là Trung-úy Xanh. Tôi sẽ không bao giờ quên tên anh. Không bao giờ!

Viên chỉ huy trại tới nói chuyện với chúng tôi, theo đó, chúng tôi sẽ di chuyển tới một trại mới, khá hơn. Nơi đó, chúng tôi sẽ được ăn uống đầy đủ hơn, và được chăm sóc về y tế; chúng tôi sẽ được nhận thư từ và bưu phẩm của gia đình gửi. Ông ta cho biết cuộc hành trình có thể sẽ kéo dài tới 11 ngày, vì thế chúng tôi phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi. Sau khi nghe ông ta nói, tôi tưởng tượng ra một trại nào đó cũng ở trong rừng, nhưng vị trí thuận tiện, có nhiều nhân viên và được tiếp tế đầy đủ hơn, nằm ở đâu đó phía bắc Căm-bốt hoặc ngay bên kia bên giới Lào. Riêng về lời cảnh giác của viên trại trưởng nói rằng chúng tôi “phải cố gắng hết sức để đi cho tới nơi”, tôi đã chẳng mấy quan tâm. Cho tới mấy ngày sau đó.

Với đôi chân trần, tôi bắt đầu cuộc hành trình. Các tù binh đều bị trói, người này bị cột lại với người kia bằng một sợi dây. Sau vài ngày, chúng tôi không còn bị trói nữa, vì bước đi còn không đủ sức nói gì tới chạy trốn. Tôi rất đuối, vì thiếu dinh dưỡng, vì đủ thứ bệnh không tên, và vì những vết thương lâu ngày không được chăm sóc nay đã làm độc, và ngày càng trở nên tệ hại hơn cùng với cuộc hành trình. Nhưng phải nói chính những con vắt mới là mối nguy hàng đầu; chúng không chỉ hút máu mà còn gây viêm nhiễm do các độc tố chúng truyền sang.

Trung-úy Xanh cũng ở trong tình trạng bi đát như tôi, mỗi bước đi là một sự phấn đấu cả về thể xác lẫn nội tâm, để đối phó với sự kiệt quệ của cơ thể, sự xuống dốc của tinh thần. Bởi nếu bạn không tiếp tục bước, bạn sẽ chết. Ở cuộc sống đời thường, muốn chết bạn phải có một hành động cương quyết nào đó. Bạn phải tự sát.. Nhưng một khi bạn là tù binh chiến tranh thì trong bất cứ tình huống nào, sự thể cũng trái ngược lại. Bạn phải phấn đấu từng ngày để sống sót. Còn muốn chết thì dễ quá. Cứ việc bình thản, đầu hàng một cách êm ái, là bạn sẽ chết. Nhiều người đã làm như thế. Họ chết trong trại tù đầu tiên, họ chết trên đường di chuyển. Ngay sau ngày đầu, một số người đã không chịu bò dậy nữa. Một số khác cố gắng tiếp tục cuộc hành trình nhưng rồi cũng lần lượt bỏ cuộc. Trong lúc đoàn người tiếp tục tiến bước, mỗi khi nghe một hay vài tiếng súng nổ ở phía sau, họ biết họ sẽ không bao giờ còn gặp người tù binh đáng thương ấy nữa. Toán 27 tù binh chúng tôi đã mất ít nhất là nửa tá trong hoàn cảnh nói trên, và tới lúc cuộc hành trình kết thúc, Wayne Finch, người tù binh Mỹ duy nhất ngoài tôi ra, cũng đã bỏ mạng. 

* * * 

Cuộc di chuyển không kéo dài 11 ngày, và đích tới cũng không phải là một trại tù nào đó nằm trong khu vực. Mà là một cuộc hành trình gian khổ kéo dài 3 tháng, đưa chúng tôi vượt gần 1000 cây số, ngược đường mòn Hồ Chí Minh, và cuối cùng hướng về Hà Nội, thủ đô của miền Bắc. Thật là một cơn ác mộng – một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Mỗi một bước, với tôi là một sự đau đớn tận cùng thân thể. Các vết thương làm độc ngày càng tệ hại. Tử thần đã kề bên. Cái chân bị thương đã sưng phù lên gấp đôi bình thường, với những vết nứt dài, từ đó chảy ra một thứ mủ cực kỳ hôi tanh.

Bệnh tiêu chảy của tôi càng thêm tồi tệ, tôi còn bị tới 3 loại sốt rét khác nhau cùng với vô số ký sinh trùng trong ruột. Mỗi cuối ngày, khi tôi kết thúc cuộc hành trình trên dưới 10 cây số, thần chết cứ lảng vảng bên cạnh. Mỗi buổi sáng, ngay sau khi thức giấc, tôi phải phấn đấu để cố đứng dậy, máu dồn xuống cái chân bị thương cùng với sức nặng của thân hình đè xuống, tạo ra một cảm giác đau đớn vô cùng tận. Và Trung-úy Xanh, mặc dù bản thân cũng trong tình trạng hết sức tệ hại, luôn luôn hiện diện để khích lệ tôi, giúp đỡ tôi với tất sức lực còn lại nơi anh. Tới bữa chiều, chúng tôi được phát một nắm cơm nhỏ. Xanh nói với tôi đây không phải là cách ăn uống bình thường của người Việt. Người Việt rất coi trọng bữa ăn, và có nhiều món ăn ngon. Ðừng đánh giá văn minh ẩm thực của Việt Nam qua những gì chúng tôi đang được cấp phát. Tôi cố gắng duy trì đầu óc khôi hài. Ðây là một việc rất khó khăn nhưng tối cần thiết. Tinh thần là yếu tố quan trọng nhất trong việc sống còn, và kể cả khi tình hình trở nên tuyệt vọng nhất, óc khôi hài sẽ giúp bạn giữ vững được tinh thần – từ đó nảy sinh hy vọng. Và trong việc này, Trung-úy Xanh cũng lại giúp đỡ tôi. Anh luôn luôn quan tâm tới tôi, và làm bất cứ những gì anh có thể làm để giúp tôi giữ được lạc quan, hy vọng. Vì thế, cho dù tình hình càng ngày tồi tệ, tôi chưa bao giờ mất hy vọng. Kể cả trong cái ngày mà đáng lẽ ra tôi đã chết, nếu như không có Xanh.

Mỗi ngày, tôi đã phải sử dụng toàn bộ ý chí để thức dậy, đứng lên và bước đi. Rồi tôi phải phấn đấu hết mình trong suốt ngày hôm đó để tiếp tục tiến bước trên con đường mòn dài vô tận. Tôi đã không còn đứng vững, nhưng bằng cách nào đó, tôi vẫn hoàn tất mục tiêu của mỗi ngày, để sáng hôm sau mở mắt chứng kiến thêm một bình minh nữa mà Thượng Ðế đã ban cho.

Nhưng rồi tới một ngày tệ hại nhất trong đời. Tôi đã phấn đấu hết mình. Tôi lảo đảo muốn ngã xuống. Tôi cố gắng vận dụng hết sức lực.. Tôi loạng quạng bước đi. Rồi tôi lại lảo đảo, tôi cố gắng phấn đấu, tôi vận dụng toàn bộ sinh lực còn sót lại, và tôi cầu nguyện xin có thêm sức mạnh. Rồi tôi ngã gục, tôi bò dậy tiếp tục đi, nhưng rồi lại ngã gục. Tôi lại tiếp tục phấn đấu, phấn đấu với tất cả những gì còn lại trong cơ thể, trong trái tim, trong linh hồn.. Nhưng rồi tôi lại ngã gục, và lần này tôi không thể đứng dậy được nữa. Ý chí của tôi vẫn còn, nhưng cơ thể đã hoàn toàn kiệt lực. Cuộc đời của tôi đến đây là tận. Quân thù đến kia rồi; tên vệ binh nhìn xuống, ra lệnh cho tôi bò dậy, nhưng tôi không thể. Hắn quát tháo lớn hơn, tôi vẫn bất động. Coi như xong đời!

Nhưng Xanh đã tiến tới, vẻ mặt lo âu, cúi xuống nhìn tôi.. Mặc cho tên vệ binh quát tháo, xua đuổi, Xanh vẫn không chùn bước. Khi hắn quát tháo dữ dội hơn, nét mặt Xanh bỗng trở nên đanh thép lạ thường, và bất chấp những lời đe dọa của tên vệ binh, Xanh cúi xuống vực tôi dậy, rồi kê cái lưng ốm yếu cho tôi gục lên, để hai cánh tay của tôi ôm vòng lấy cổ anh, hai cổ tay ghì chặt, và với tư thế ấy, anh đã kéo tôi lết theo cho tới cuối ngày.. Ðôi lúc, có một tù nhân khác tạm thay thế Xanh, nhưng phải nói gánh nặng trong ngày hôm ấy dồn hết lên vai anh. Xanh là người đã bất chấp nguy hiểm tới tính mạng để lo lắng và chăm sóc tôi cho tới khi kết thúc cuộc hành trình ngày hôm đó. 

* * * 

Sáng hôm sau, tôi trải qua mọi đau đớn thường lệ trong việc thức dậy, đứng dậy và cố gắng lê lết cái chân bị thương trong những bước đầu tiên, để tạo quyết tâm cho một ngày sắp tới. Tôi cảm thấy đau đớn như chưa từng thấy nhưng vẫn cố gắng vận dụng ý chí để bước đi. Ngay phía bên ngoài cái trại vừa dừng chân là cây “cầu” bằng một thân cây lớn bắc ngang một dòng nước chảy xiết xen lẫn những tảng đá lớn. Tôi bắt đầu băng qua, cố gắng giữ thăng bằng nhưng không còn sức lực mà cũng chẳng còn một chút ý thức gì về thăng bằng nữa. Cái chân bị thương vô dụng kia đã hại tôi, kéo tôi nghiêng về một phía khiến tôi loạng quạng và cuối cùng rớt xuống sông. Xanh và Wayne đang đi phía trước, vội vàng quay trở lại phía bên này, lội xuống vào kéo tôi lên bờ. Họ năn nỉ đám cộng sản cho phép cả toán tù binh tạm dừng chân tại trại này cho tới khi nào tôi đủ sức tiếp tục cuộc hành trình, nhưng bị từ chối. Xanh và Wayne nhất định không chịu rời tôi. Cho tới khi đám vệ binh tiến tới, dí súng vào người và lôi cổ họ đi. Nhìn bóng hai người khuất dần cùng với toán tù binh, tôi biết mình sẽ không bao giờ gặp lại Xanh trên cõi đời này nữa!

Bởi vì, như các bạn tù đồng cảnh ngộ đều biết, trong trường hợp này, tôi bị bỏ lại trại để chết – như nhiều người khác đã chết. Thế nhưng không hiểu vì nguyên nhân hay lệnh lạc nào đó, đám cộng sản lại quyết định chích penecillin cho tôi trong mấy ngày liền. Tôi bắt đầu bình phục, và sau một khoảng thời gian ngắn, đã có thể đứng dậy. Và ngay sau khi tôi đủ sức bước đi, đám cộng sản đã ra lệnh cho tôi tiếp tục cuộc hành trình. Lần này, tôi đi chung với một đoàn bộ đội di chuyển về hướng Bắc, một tay vệ binh được chỉ định đi theo tôi làm công việc áp giải.
Cuộc hành trình cũng gian khổ như những đoạn đường đã qua, nhưng với tôi, những gì kinh hoàng nhất đã được bỏ lại sau lưng. Thậm chí tôi còn có cơ hội chạy trốn: một ngày nọ, khi đi tới một khúc quẹo và khuất tầm nhìn của tên vệ binh đi phía sau, tôi đã bỏ chạy vào rừng. Nhưng rồi hắn đã mau chóng lần ra dấu vết và đuổi kịp; mặc dù tỏ ra vô cùng giận dữ, hắn đã không bắn tôi chết, mà chỉ hung hăng chĩa súng ra lệnh cho tôi quay trở lại. Sau đó, khi bắt đầu tiến vào lãnh thổ Bắc Việt, tôi được cho nhập bọn với một đoàn tù binh VNCH, và cuối cùng, tới Hà Nội. Nơi đó, sau khi đã trải qua mọi thủ tục và nhiều nhà tù khác nhau, tôi được đưa tới “khách sạn Hilton – Hà Nội” lừng danh (tức nhà tù Hỏa Lò), và ở đó cho tới khi được trao trả vào giai đoạn cuối của cuộc chiến. 

* * * 

Ngay sau khi trở lại Hoa Kỳ, tôi đã đi tìm hỏi tin tức về Trung-úy Xanh nhưng không có kết quả. Tôi đã tìm gặp các quân nhân Việt Nam đang thụ huấn tại Mỹ, cũng không ai biết gì. Sau khi miền Nam rơi vào tay cộng sản năm 1975, tôi càng ra sức tìm kiếm, để rồi lại bị thất vọng.

Mấy năm sau, tôi được dịp tái ngộ với một quân nhân VNCH đi chung với tôi trong toán tù binh nhứ nhất, cùng với một người khác trong toán thứ hai, tên là Phạm Văn Tăng và Nghiêm Kế. Tôi nhờ họ giúp đỡ trong việc tìm kiếm tin tức về Trung-úy Xanh.. Lúc đầu, không có kết quả gì cả. Về sau thì có tin đồn nói rằng sau khi Sài Gòn thất thủ, Xanh đã bị cộng sản bắt lại và có lẽ đã chết sau nhiều năm gian khổ trong tù. Nhưng tôi vẫn nuôi hy vọng sẽ có ngày được biết đích xác những gì đã xảy ra cho Xanh, và có thể cả những tin tức liên quan tới gia đình anh.

Trong những năm gần đây, tôi ra sức tìm kiếm trên internet, nhưng luôn luôn thất bại. Thế rồi cách đây mấy tuần lễ, tôi tình cờ khám phá ra trang mạng của các hoa tiêu bay khu trục A-1 Skyraider của Không Quân VNCH, trong đó có một số người cùng phi đoàn với Xanh ngày trước. Tôi gửi cho “trang chủ” mấy lời nhắn tin, và chỉ vài ngày sau, tôi đã liên lạc được với Xanh bằng email, và sau đó qua điện thoại – lần đầu tiên sau 35 năm, chúng tôi mới được nói chuyện với nhau. Tôi sẽ gặp lại Xanh trong một ngày gần nhất, có thể là mùa thu này. Tôi sẽ được nhìn thấy anh lần đầu tiên kể từ cái ngày tôi nằm lại bên đường mòn Hồ Chí Minh, mắt nhìn theo con người đã cứu mạng mình – đang bị vệ binh dí súng cưỡng ép bước qua cây cầu, trong lòng đau đớn vì phải bỏ tôi ở lại để chờ chết.

Xanh đâu có ngờ chính những cố gắng giúp đỡ tận tình của anh trong những ngày đen tối nhất đời tôi, đã trở thành động lực để tôi phấn đấu cho sinh mạng của chính bản thân mình – tôi không thể để uổng phí công lao của Xanh. Tất cả những gì Xanh làm đã giúp tôi sống sót, và chính những hành động quên bản thân của anh đã giúp tôi có thêm nghị lực và quyết tâm để vượt qua bất cứ khó khăn, tr ngại nào trong thời gian chờ đợi ngày được trả tự do.

Xanh luôn luôn là một con người đáng ngưỡng phục. Và giờ đây anh còn là một công dân Mỹ đáng quý. Tôi cám ơn trời đã cho tôi gặp được một người bạn như Xanh – vào lúc mà tôi cần tới sự giúp đỡ của anh hơn lúc nào hết; và giờ đây, xin cám ơn trời một lần nữa, vì đã cho tôi tìm lại được người bạn quý mến ấy.

NGUYỄN VĂN XANH , một người như mọi người. * 
William S. Reeder
 (Nguyễn Hữu Thiện phỏng dịch và đặt tựa)

30-4: Trích Hồi ký của cụ Phạm Duy (quyển ba)


Phạm Duy
Chia sẻ bài viết này




Chiến dịch Tây Nguyên được mở ra, quân đội Cộng Sản tấn công Bình Long, bao vây An Lộc và cuối cùng vào ngày 7-1-1975, chiếm được Phước Long, một tỉnh lỵ cách Saigon khoảng 60 cây số. Lần đầu tiên, Hà Nội có một thành phố ở miền Nam để làm thủ đô cho Mặt Trận Giải Phóng.
Khi nghe tin Phước Long bị mất vào tay Cộng Sản, ở Saigon, chẳng thấy ai lo lắng gì cả. Kinh nghiệm cuộc Tổng Công Kích năm 68 và kinh nghiệm Mùa Hè Đỏ Lửa năm 72 cho thấy Cộng Quân có chiếm được nơi nào thì cũng chỉ ít lâu sau là bị đánh bật đi. Cho nên mọi người có vẻ rất bình tâm.
Cho tới khi Ban Mê Thuột bị chiếm vào ngày 12 tháng 3 năm 75 thì tất cả mới ngã ngửa người ra! Trong thời gian 55 ngày trước khi Saigon thất thủ, những tin tức kinh hoàng như vụ triệt thoái bi thảm của quân dân Cao Nguyên trên đường số 7 (mệnh danh là con đường máu và nước mắt)... vụ mất Quảng Trị tiếp theo là vụ thị xã Huế bị bỏ ngỏ…vụ Đà Nẵng, Chu Lai, Nha Trang, Đà Lạt đồng loạt rơi vào tay Cộng Quân sau khi cũng lâm vào cảnh hỗn loạn như Huế, tất cả những chuyện đó làm cho tinh thần dân chúng đã buông xuôi rồi, nay lại bị nhận chìm xuống.
Hồi Ký này không dám quy định tội lỗi làm mất miền Nam cho ai cả. Nó chỉ xin đưa ra một nhận định là trong suốt thời Đệ Nhị Cộng Hoà, chưa bao giờ có sự gắn bó giữa chính quyền và dân chúng. Chiến tranh 30 năm đã làm tê liệt phần hồn phần xác của dân chúng rồi, người dân không được chia sẻ quyền hành với chính phủ tối thiểu là được chia sẻ sự hiểu biết về tình huống quốc gia. Không có một tổ chức Thông Tin Dân Vận nào làm được công việc đả thông (communication) giữa người dân và chính phủ. Về phần thông tin ngoài chính quyền là báo chí, ngay tờ Chính Luận cũng chỉ phổ biến trong những thành phố lớn và các tỉnh.
Không nắm rõ tình hình đất nước, không biết miền Nam đã bị Mỹ bỏ rơi, dù bị Cộng Sản tấn công liên tiếp, người dân vẫn không tin là mất miền Nam. Không tin luôn vào sự truyền thông trên thế giới -- như Đài BBC chẳng hạn -- về sự hấp hối của miền Nam. Dân chúng còn bị lừa gạt đến độ cho rằng với tinh thần Thoả Hiệp Hoà Bình Paris, chính phủ ba thành phần là giải pháp tối hậu. Mù quáng trước tình hình chung, người dân không nhận ra định mệnh của đất nước và của mình. Tới khi thấy nguy cơ miền Nam sắp bị mất vào tay Cộng Sản thì không còn ai có khả năng để chống chọi nữa!

Tôi cũng không sáng suốt hay tích cực gì hơn ai. Nhưng trực giác giúp tôi thấy được nguy cơ của miền Nam ngay từ ngày mất Bình Long. Sau đó, mất nốt Ban Mê Thuột là coi như miền Nam bị tiếp thu đến nơi rồi. Và thấy ngay số phận sắp tới của Saigon và của mình khi Bắc quân tiến vào.
Tôi chưa biết nhìn vào ai để giúp mình nhưng tôi biết tôi phải đi khỏi nơi này. Trong khi tôi đang bối rối tìm lối thoát ly, bạn bè xa gần gọi điện thoại hỏi han tin tức. Tôi cũng bốc máy nói gọi vài người quen, hi vọng tìm ra lối đi, cuối cùng được Hoàng Hải Thủy -- lúc đó đang làm việc với phòng Thông Tin Mỹ USIS -- cho biết trong bảng danh sách những người được Mỹ bốc đi, tên gia đình tôi đứng hàng đầu. Đang sốt ruột ngồi đếm từng giờ từng phút, lại chỉ thấy Giám Đốc USIS là Carter trấn an tinh thần dân chúng trên màn ảnh truyền hình...
... Một hôm, Phạm Thiên Thư và Trần Dạ Từ băn khoăn tới hỏi tôi về đường đi nước lùi. Tôi tâm sự với Phạm Thiên Thư về ý định soạn một bài hát bỏ nước, lấy tên Bầy Chim Bỏ Xứ. Tôi hình dung nước Việt Nam với một bầy chim phải cất cánh bay đi vì ở quê hương sẽ không còn bầu trời tự do cho chim bay bổng nữa. Phạm Thiên Thư cho tôi vài lời thơ, rồi tôi quên cả lo lắng buồn phiền, nằm bò trên nền đá hoa trong căn nhà vườn để soạn đoạn đầu của tổ khúc này.
Thời gian không gian như bị lay động dữ dội. Thấy chung quanh mình, một số bạn hữu đã được Mỹ đem đi hay đang chuẩn bị ra đi, tôi sốt ruột quá! Trong một đêm vắng, người anh vợ là Hoài Trung, nhân viên của Đài Tự Do-VOF (Voice Of Freedom) đến chào từ giã vợ chồng tôi để ra đảo Phú Quốc chờ tầu chở đi Mỹ.
Mừng cho Hoài Trung nhưng nhìn vào hoàn cảnh mình thì thất vọng, vì từ lâu tôi không còn cộng tác với Phòng Thông Tin USIS, không còn giao dịch với bất cứ một người Mỹ nào nữa. Tôi cũng không phải là một công chức quốc gia để có thể tới Toà Đại Sứ Mỹ xin cho đi tị nạn. Chạy đi kiếm Hoàng Hải Thủy thì không thấy anh ta đâu. Ca sĩ Tâm Vấn, bạn của vợ tôi, cho biết có lối ra đi trả tiền, nhưng gia đình tôi gồm hai vợ chồng cộng với tám đứa con thì phải là triệu phú, chúng tôi mới mua được đường đi. Dẫn con trai Cường đi tìm đường cao chạy xa bay suốt mấy ngày trời mà không có kết quả. Thất vọng trở về nằm dài trên chiếc võng, vì nhà ở gần sân bay Tân Sơn Nhất, nhìn qua những cành dừa cao lớn, tôi thấy phi cơ vận tải C130 chở người đi tị nạn bay ngang từ sáng sớm tới chiều tối.
Sau những ngày lo âu rồi tuyệt vọng, tôi chuẩn bị nếu phải ở lại Saigon thì không nên giữ những tài liệu có thể gây tai hoạ cho mình. Lấy ở tủ sách ra một số ảnh, bản thảo và ấn phẩm rồi đào một cái hố cạnh chuồng gà, nổi lửa đốt. Trong đêm tối, đứng ngoài sân, lại ngẩng đầu nghe tiếng phi cơ vận tải ầm ỳ trên không. Tôi sốt ruột vô cùng, lòng như lửa đốt, có thể là lửa trên đống tài liệu len vào chăng ? Đốt mớ tài liệu, khói cũng bốc lên như ngày nào đốt lá trên sân cùng mấy em bé. Khói cũng làm cay mắt nhưng tôi không cảm động như lúc nhìn khói để nhớ về thời ấu thơ và trai trẻ. Bây giờ, tôi đang làm công việc tự thiêu, nói cho rõ hơn, tôi đang đốt đi một quãng đời của mình.
Đây không phải lần đầu tôi lâm vào cảnh tự xử hoặc được người ta khuyên khai tử tác phẩm của mình. Khi còn ở Việt Bắc, tôi được dỗ dành chôn sống những bài ca ủy mị (!). Khi từ vùng kháng chiến về thành bố vợ cắt ảnh Nguyễn Sơn ra khỏi tấm hình đám cưới do ông tướng này chủ hôn. Suốt hai chục năm ở miền, tuy không tuyên bố khai tử nhưng không bao giờ tôi dám in ra và hát lên những bài ca kháng chiến. Bây giờ, vì không biết mình có ra khỏi được Việt Nam hay không, tôi phải tự tay đốt những tấm ảnh chụp chung với các nhân vật chính trị Hoa Kỳ hay Việt Nam. Kể cả bức ảnh chụp chung với Bẩy Viễn và Nguyễn Đức Quỳnh khi cả bọn kéo nhau đi coi vũ đoàn tại nhà hàng Moulin Rouge ở Paris vào năm 54. Hoả táng luôn một mớ bản thảo, nhạc tập, thư từ... Thành phố nhốn nháo như tổ ong vỡ. Ra đường, nhìn ai cũng thấy vẻ lo lắng, hoảng hốt. Đây là lúc tôi không còn một chút sáng suốt nào để hiểu nổi cái gì là cái gì nữa!
Chỉ nhớ câu thơ trong Cung Oán Ngâm Khúc:
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm...
Nhớ tới di ngôn của Nguyễn Đức Quỳnh: Làm người Việt Nam khó quá! Làm nghệ sĩ còn khốn khó hơn! Nhìn lại dĩ vãng, thấy trong suốt 500 năm, không một lúc nào ngưng loạn ly trên đất nước. Sự thật không bao giờ ở lâu và ở một phía nào nhất định. Khiến cho tiền bối Nguyễn Gia Thiều, một người hiện sinh hơn Jean Paul Sartre, hiểu rằng định mạng người Việt là phải sống theo cái búng quay sẵn trên trời.
Chao ôi, so với năm thế kỷ tao loạn làm đời người như chiếc lá mỏng manh nổi trôi theo mệnh nước, thời gian 20 năm vừa qua nào có nghĩa lý gì đâu? Mình là cái gì mà thoát khỏi cái vòng quay đó được? Nhất là đã biết từ lâu những ai đã búng con quay đó ở trên trời. Thời đại Nguyễn Gia Thiều thiếu phương tiện truyền thông nên chỉ nhận chân ra sự mù mờ. Còn mình biết rõ ràng số phận của người dân nhược tiểu, nạn nhân của cuộc chiến tranh lạnh giữa hai thế lực quốc tế, vì thiếu người lãnh đạo tài ba, sáng suốt ở cả hai miền nên toàn thể nhân dân phải sống như trong một khúc dạ hành.
Đang trong cơn buồn tủi não nề, vào 11 giờ 30 đêm 27 tháng 4, có cú điện thoại của một người bạn Mỹ giỏi tiếng Việt, rất yêu nhạc và có vợ Huế, cho biết tôi có thể ra khỏi Saigon nếu sáng mai tới địa diểm ở đường Kỳ Đồng là nơi người Mỹ sẽ bốc người ra đi. Tới đó, người già em nhỏ được đi ngay, nhưng mấy người con trai lớn đang là quân nhân có thể bị Quân Cảnh giữ lại. Vừa mừng cho mình, cho vợ và cho bốn con nhỏ, vừa lo lắng cho bốn con trai lớn thì có thêm cú điện thoại của Nguyễn Ngọc Bích hỏi:
-- Đã có ai giúp anh chị và các cháu ra đi chưa?
-- Rồi, nhưng chỉ có một nửa gia đình...
Nguyễn Ngọc Bích cho chúng tôi tên và số điện thoại của một người Mỹ tên là Ed Jones. Vào năm 1951, từ Khu IV vào thành, đại gia đình họ Phạm phải chia ra ba nhóm để dinh tê, bây giờ gia đình tôi cũng chia ra hai toán để xuất ngoại. Sáng mai vợ chồng tôi và bốn con nhỏ sẽ tới điểm hẹn ở đường Kỳ Đồng, còn bốn con trai sẽ đi theo đường dây Nguyễn Ngọc Bích vừa mách cho. Muốn chắc ăn, tôi gọi điện thoại hỏi Ed Jones thì anh ta cười hề hề: Ông yên chí, các con ông sẽ sang Mỹ trước ông!

Chúng tôi thức suốt đêm để thu xếp hành lý. Khổ sở vô cùng vì không biết cái gì đem đi, cái gì để lại? Ưu tiên là những ảnh của tổ tiên và khoảng một chục cuộn phim âm bản. Không ngờ vào lúc này, có dịp rửa ra hình để cho in vào những cuốn Hồi Ký. Vớ thêm được vài cuốn băng nhạc. Cũng không ngờ những băng này giúp tôi trở thành nhà phát hành băng cassette trong những năm đầu ở Florida.
Sáng ngày 28, con trai Cường chở bố mẹ và bốn em ra khỏi căn nhà vườn Phú Nhuận. Tôi không dám quay mặt nhìn lại cái tổ ấm của mình. Xe chạy chầm chậm trong một Saigon xơ xác giống như vào năm 45, khi bị lính Viễn Chinh Pháp tấn công tôi phải trốn khỏi thành phố như thế này. Tôi ngao ngán vô cùng vì chợt nhớ tới những cuộc bỏ chạy sau đó nữa... Nhớ lại đêm đông 1946, phải rời xa mẹ, bỏ Hà Nội ra vùng quê, kháng chiến... Nhớ lại ngày hè 1951, đôi vợ chồng và đứa con đầu lòng lếch thếch bỏ Chợ Neo để vào thành tìm tự do... Rồi lễ mễ giã từ miền Bắc vàoNam để sinh sống... Và bây giờ là long đong vĩnh biệt Saigon với một nửa con cái.
Thì ra suốt đời, mình chỉ là người bị chơi trò ú tim đi trốn. Mỗi lần mang theo một gánh nặng. Gánh nặng mỗi ngày một nặng thêm. Đã mất đi bốn, năm lần tổ ấm và bây giờ có thể mất luôn cả tổ quốc. Tới địa điểm ở đường Kỳ Đồng, vì có sự giới thiệu của người bạn ân nhân rồi nên gia đình tôi được chấp nhận cho đi. Tôi định cho Cường đi theo nhưng không hiểu vì sao tôi bảo Cường về nhà đi với các anh. Có lẽ tôi sợ trên đường vào sân bay, Cường có thể bị Quân Cảnh chặn lại thì vừa hụt đi với cha mẹ, vừa hụt đi với các anh chăng ? Về sau, khi các con tôi kẹt lại, trong bốn năm trời dài đằng đẵng, tôi hối hận và khổ sở vô cùng vì đã đuổi con về. Khi từ đường Kỳ Đồng đi vào Tân Sơn Nhất, quả có bị lính chặn xe lại, trong xe có một thanh niên vào tuổi quân dịch, nhưng khi bố mẹ anh này tặng mấy người lính một số tiền thì họ cho xe đi ngay.
Vào lúc này tôi hoảng hốt tới độ không nghĩ tới chuyện có thể đút lót Quân Cảnh như gia đình rất thông minh của anh thanh niên kia đã làm. Đã có sẵn tờ giấy 20 đôn ở trong túi rồi mà ! Và cũng chỉ có số tiền nhỏ nhoi đó thôi, để làm lại cuộc đời ở Mỹ. Vào tới Tân Sơn Nhất, gia đình tôi ngồi bệt xuống sân cỏ trước cổng DAO, cơ quan viện trợ quân sự của Mỹ, giữa một đám người khá đông, trong đó tôi nhận ra gia đình Vũ Khắc Khoan và quá nhiều bạn quen. Chúng tôi ngao ngán nhìn nhau, rồi tuần tự được gọi tên và mời vào ngồi trên những hàng ghế dài ở ngoài sân và trong phòng DAO. Trong một không khí tuy náo nức nhưng rất có trật tự, sau già nửa ngày ngồi đợi, mỗi gia đình leo lên một phi cơ vận tải C130 cùng với dăm ba chục gia đình khác.
Chuyến phi cơ chở chúng tôi cất cánh vào khoảng năm giờ chiều ngày 28, lúc đó Bắc Quân đã pháo kích vào sân bay rồi. Nếu tôi không nhầm thì gia đình tôi là những người chót lọt được lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đẩy vào một trong những chuyến phi cơ cuối cùng rời khỏi Tân Sơn Nhất. Chui vào lòng tầu bay, mọi người phải co đùi, ép gối ngồi bệt trên sàn tầu. — hai bên cửa phi cơ có hai người lính Mỹ cầm sẵn súng phóng hoả châu, để phòng Việt Cộng bắn hoả tiễn tầm nhiệt lên thì chỉ trúng trái sáng. Lên tới độ cao, phi cơ nhào đi nhào lại để tránh đạn nếu bị bắn, rồi bay vút ra phía biển. Tôi ngồi ôm mấy đứa con thơ, mắt nhắm lại như không muốn nhìn thấy phong cảnh đất nước nữa. Vả lại, muốn nhìn quê hương một lần chót cũng không được, vì hai người lính Mỹ đã đóng chặt hai cánh cửa phi cơ lại rồi.
Trong lòng tầu chật cứng người tị nạn, bay từ vùng trời Saigon qua Căn Cứ Clark ở Phi Luật Tân, suốt trong không trình dài năm tiếng đồng hồ, không ai nói với ai một câu nào cả! Mọi người ngồi im lặng và buồn rầu như trong một đám táng. Một đám ma không có ai khóc ai vì mỗi người tự đưa đám ngay chính thân xác của mình. Sự câm nín này dường như còn kéo dài cho tới bây giờ...
Phạm Duy