Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Nghĩ gì về bức công hàm PVĐ 1958?



hstsA – Lời mở đầu
Bài viết này không có chủ ý biện hộ hay kết án cố thủ tướng Phạm Văn Đồng về sự kiện “bức công hàm 14/09/1958 liên quan đến HS-TS”, và cũng không muốn bàn tán thêm về chủ đề chủ quyền VN trên hai quần đảo này vì đã có quá nhiều luật gia và học giả khắp nơi ra sức tranh luận từ hơn 5 năm qua trong các trang mạng Internet.
Bài viết xin phép được trình bày một cách nhìn khác trung thực và sâu xa hơn về vấn đề Biển Đông nói riêng và lịch sử cận đại VN nói chung, trong đó Đảng Cộng Sản Việt Nam nam giữ một vai trò chủ chốt vô cùng quan trọng.
B- Dẫn chứng lịch sử VN xung quanh bức công hàm PVĐ 1958
Những dẫn chứng lịch sử xung quanh sự kiện HS-TS không có nhiều, thật ra chỉ có hai văn kiện chính thức mà mọi người có thể truy tìm trên Google một cách dễ dàng, tôi xin phép được trích dẫn ra đây hai bản văn kiện tối quan trọng, đó là:
1)- Văn kiện 1:  Bức công hàm do cố thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng ký ngày 14/09/1958 lên tiếng ủng hộ tuyên bố của chính phủ Trung Quốc liên quan đến giới hạn và khu vực hải phận của TQ. Văn kiện này chính ông PVĐ đích thân ký tên, mang quốc huy, quốc hiệu VCDCCH, con dấu chính phủ, và do chính tay cố ngoại trưởng VN Ưng Văn Khiêm trao tay cho người đồng nhiệm phía TQ. Sau do công hàm PVĐ được nhật báo Nhân Dân chụp ảnh, in ấn nguyên bản và đăng công khai để người dân miền Bắc biết. Tuy nhiên không hề thấy báo Nhân Dân chụp ảnh và đăng “bản tuyên bố chủ quyền đất đai và vùng hải phận của TQ” mà công hàm PVĐ đã ghi nhận.
2)- Văn kiện 2:  Bản tuyên bố chủ quyền quần đảo của TQ, giới hạn hải phận 12 hải lý (khoảng 22km) bao bọc bờ biển của đất liền (TQ), hải phận rộng 12 hải lý bao quanh các quần đảo trong vùng Biển Đông (trong đó TQ xác định HS-TS là thuộc chủ quyền của họ). Đi xa hơn nữa TQ còn xác định rõ ràng vùng hải phận xác định bởi những đường thẳng căn bản nối từ đất liền TQ đến các hòn đảo ngoài khơi (trong đó có HS-TS của VN). Bản tuyên bố này không mang quốc huy, quốc hiệu TQ, không mang chữ ký người gửi, không con dấu, không để tên người nhận và cũng không biết cơ quan truyền thông nào chịu trách nhiệm phát hành.
_____________________________
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải
(Ðược thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Ðại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này.  Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc
(4) Ðiều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Ðài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Ðông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Ðài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Ðây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Ðài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc
(Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện)
 Chú thích: Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu Xisha) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands
Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu Nansha) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands
_____________________________
Tôi đã kiên nhẫn theo dõi suốt 6 năm qua, từ khi có cuộc biểu tình đầu tiên của người dân SaiGon tháng 11/2007 đòi hỏi chủ quyền HS-TS cho VN, đến nay rất nhiều học giả TSGS, luật gia VN hay ngoại quốc, tri thức Việt kiều hải ngoại thay phiên nhau tranh luận, chủ yếu chỉ dựa trên “bức công hàm PVĐ 1958″ để biện hộ cho ông và ra sức tranh cãi pháp lý quốc tế để giành lại chủ quyền VN trên hai quần đảo này. Tôi chưa thấy ai đề cập gì đến “bản tuyên bố chủ quyền và hải phận của TQ 04/09/1958″ và cũng không cung cấp gì thêm dẫn chứng lịch sử nào khác ngoài hai văn kiện đó. Do đó tôi có thể đặt giả thuyết rằng “bản tuyên bố TQ 04/09/1958″ có thật, tuy rằng hình thức không rõ ràng, nhưng nội dung yêu cầu thì rất ư chi tiết. Nếu chỉ bàn luận trên “bức công hàm PVĐ 1958″ mà không nhắc gì đến “bản tuyên bố TQ 1958″ thì theo tôi, quả là một thiếu sót rất lớn hoặc có thể là một mánh khoé đánh lạc hướng công luận nhằm che dấu một sự thật hệ trọng. Đó là lý do khiến tôi phải đọc đi đọc lại hai văn bản này hàng chục lần, hy vọng tìm ra manh mối dẫn dắt đến tình thế phức tạp của VN hiện nay trong vùng Biển Đông.
Sau đây là những phân tích của tôi, dựa trên nội dung và hình thức của hai bản văn kiện ngoại giao quan trọng đó.
1)- Sai lầm nghiêm trọng
Bức công hàm PVĐ 1958 đã để lộ ra nhiều sơ hở chết người, quan sát kỹ chúng ta sẽ thấy:
a)- Sơ hở về thời gian: Từ khi nhận được “bản tuyên bố chủ quyền và hải phận TQ ngày 04/09/1958″ cho đến khi PVĐ đặt bút ký “bức công hàm ngày 14/09/1958″ chỉ vỏn vẹn có mười ngày (10) ngắn ngủi, để quyết định một sự kiện lịch sử tối hệ trọng liên quan đến chủ quyền quốc gia, đến vận mệnh dân tộc VN. Nên nhớ rằng thời kỳ đó miền Bắc VN và TQ kết thân nhau như anh em, cùng chung ý thức hệ CS, cùng chung giới tuyến chống đế quốc Mỹ, thế thì tại sao chính quyền Hà Nội chỉ được có 10 ngày để bàn bạc thảo luận? Phải chăng TQ đã ra một đòn cân não, áp lực chính trị nặng nề đến mức Đảng Cộng Sản Việt Nam do ông Hồ Chí Minh cầm đầu không còn biện pháp nào khác hơn ngoài sự ngoan ngoãn cúi đầu tuân lệnh ? Phải chăng tình hình chính trị kinh tế xã hội bết bát của miền Bắc thời đó quá tồi tệ, lòng dân ly tán sau chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất tàn sát hàng trăm ngàn người dân vô tội, vụ án Nhân Văn Giai Phẩm tiêu diệt trí thức, sau khi hàng triệu nguời di cư vào Nam đi tìm tự do, chính sách Hợp Tác Xã bị phá sản hoàn toàn, miền Bắc VN túng quẫn, nạn đói đe doạ trầm trọng ép buộc chính quyền Hà Nội và ĐCS VN phải cúi đầu tuân lệnh ĐCS TQ để tiếp nhận viện trợ thực phẩm và nhu yếu phẩm ? Thời gian trả lời chỉ có 10 ngày vỏn vẹn, không khác gì một kiểu “tối hậu thư” thúc ép Hà Nội phải trả lời nhanh cấp tốc. Buồn thay cho vận mệnh dân tộc VN!
b)- Sơ hở về hình thức: Tại sao chính phủ VNDCCH phải sử dụng đến hình thức ngoại giao công khai chính thức rất ư nghiêm túc chỉ để trả lời một “bản tuyên bố vu vơ, một lá thư nặc danh không tên tuổi” đáng vứt vào sọt rác ?  Phải chăng đây là một mánh khoé chính trị, một cạm bẫy do ĐCS TQ giăng ra để ép buộc Hà Nội rơi vào vòng kiềm toả của họ ? Tôi nghĩ thầm đến hai giả thuyết, như sau:
- một là lãnh đạo TQ không muốn bị bẽ mặt nếu chẳng may chính quyền CS Hà Nội tỏ vẻ cứng đầu phản đối, hoặc cù cưa không trả lời;
- hai là lãnh đạo TQ sử dụng đòn ngầm cưỡng ép miền Bắc phải trả lời công khai chính thức bằng văn bản ngoại giao, để sau này họ nắm trong tay đầy đủ chứng từ trưng ra trước công luận thế giới. Giả thuyết này ngày nay đã thành hiện thực, bản thân thế hệ trẻ sau này đành phải đưa đầu chịu báng, ngư dân VN tiếp tục bị tàu TQ xua đuổi, bị phá phách, bị cướp bóc ngay trong vùng hải phận VN.
c)- Sơ hở về nội dung: Bức công hàm PVĐ 1958 không đề cập gì đến “yêu cầu chủ quyền của TQ trên hai quần đảo HS-TS”. Đúng thế, đọc kỹ công hàm vắn tắt chúng ta không thể tìm ra được câu chữ nào dính líu đến “chủ quyền TQ trên HS-TS”. Tôi thầm nghĩ ông Hồ và toàn thể BCT thời đó hãy còn trẻ, uy tín lẫy lừng ở miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, họ không dại dột gì lấy trách nhiệm với dân tộc về vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Tuy nhiên họ đã bị rơi vào cạm bẫy TQ khi công khai chấp nhận chủ quyền TQ trong vùng hải phận 12 hải lý (22km). Sơ hở này nghiêm trọng hơn vấn đề HS-TS vì lẽ bức công hàm mặc nhiên cho phép TQ độc quyền tung hoành trong Biển Đông bao la:
- một: Công hàm cho phép TQ được quyền bao vây các hòn đảo thuộc chủ quyền VNCH (HS-TS, miền Nam). TQ được quyền sử dụng mọi phương tiện quân sự để đánh phá những tàu bè VN đi vào các vùng hải phận này. Ai cũng biết rằng HS-TS có rất nhiều đảo nhỏ không lớn hơn 1km vuông, rất thấp, không có nguồn lợi kinh tế gì cả. Tuy nhiên hải phận 12 hải lý (22km) bao bọc mỗi đảo nhỏ chính là một vùng đặc sản kinh tế rộng lớn (hơn 1500 km vuông/mỗi đảo), chứa hải sản, hay mỏ dầu hoả chất lượng tốt. Đó chính là lý do tại sao hàng chục ngàn ngư thuyền TQ đang tranh nhau khai thác vùng biển trời cho này. Ngược lại ngư dân VN thì lại bị đánh đuổi, thậm chí muốn vào tránh bão cũng không được.
- hai: Công hàm PVĐ 1958 đã mặc nhiên công nhận một vùng hải phận bao la (hơn 700,000 km2) ấn định bởi những đường thẳng căn bản nối liền từ bờ biển TQ đến tận các hải đảo ngoài khơi (trong đó có HS-TS). Mỗi đường thẳng căn bản này được TQ đòi hỏi có một hành lang rộng 12 hải lý (22km). Trân trọng mời quý vị độc giả quan sát bản đồ Biển Đông (đính kèm) để hiểu rõ thêm vùng hải phận bao la ấn định bởi những đường thẳng nối liền từ bờ biển TQ tới hàng chục đảo nhỏ của Trường Sa, nơi xa nhất (khoảng 1700km, chiều rộng ngắn nhất 400km, theo tỷ lệ của bản đồ). Chấp nhận vùng hải phận này do TQ yêu cầu, chính là chấp nhận thế bị bao vây, mọi con đường hàng hải từ VN đến Nhật Bản, Phi, Đài Loan hay Đại Hàn về hướng Đông đều bị ngăn cản. Đó chính là hàng rào chiến lược vĩ đại mà TQ hiện nay đang cố gắng nâng cấp lực lượng hải quân hùng hậu đứng thứ 2 thế giới, nhằm bao vây Việt Nam. Trong tương lai VN không còn đất đứng, đành phải chịu thân phận “một vùng tự trị giống như Tây Tạng”.
- ba: Đừng thắc mắc tại sao TQ ngang nhiên đem tàu chiến xâm phạm HS-TS đánh chìm tàu hải quân VNCH (miền Nam) năm 1974, đừng trách cứ Hoa Kỳ tại sao bỏ rơi miền Nam, vì nhân dân Mỹ đã quá chán ngán với chiến cuộc VN, mà hãy trách cứ tại sao ĐCS VN đã cúi đầu công nhận chủ quyền TQ trong một vùng hải phận bao la (hơn 700,000 km2) rộng hơn gấp hai lần lãnh thổ VN. Tình thế khó khăn của dân tộc VN hiện nay trong Biển Đông chính là hệ luỵ từ bức công hàm PVĐ 1958. Công pháp quốc tế có ba đầu sáu tay cũng không thể nào cãi lại với chính quyền TQ khi họ chìa “bức công hàm PVĐ 1958″ ra làm bằng chứng.
c)- Sơ hở về chiến lược: Lý do gì ĐCS VN không cho phép nhật báo Nhân Dân trích dẫn “bản tuyên bố TQ 04/09/1958″ mà công hàm PVĐ đã nhắc đến ? Đây là một thiếu sót vô cùng hệ trọng. Ngày nay có ai dám đứng ra cãi rằng “bản tuyên bố TQ” tìm thấy trên Google là giả tạo ? Có ai dám lục hồ sơ chính phủ VNDCCH năm 1958 để đem “bản tuyên bố TQ thật” ra đối chất ? Bức công hàm PVĐ 1958 đã hiện rõ bộ mặt thật của lãnh đạo ĐCS VN: đó là bản chất lừa dối, dấu diếm sự thật, lập lờ đánh lận con đen để lừa phỉnh quần chúng. Hành vi mập mờ này chứng tỏ toàn thể Bộ Chính Trị ĐCS VN bị dồn vào thế thụ động phải  tuân thủ mệnh lệnh Bắc Kinh, nhưng để trốn tránh trách nhiệm họ đã nhắm mắt ngậm miệng để cho cố thủ tướng PVĐ đứng ra chịu tội, sau này búa rìu công luận sẽ nhắm vào cá nhân ông PVĐ mà quên đi rằng toàn thể lãnh đạo ĐCS VN chính là thủ phạm. Những ai từng sống dưới chế độ vô sản chuyên chính hiểu rõ nguyên tắc bất di bất dịch “Đảng lãnh đạo / Nhà Nước quản lý / Nhân Dân làm chủ”. Do đó trách cứ đổ lỗi cho ông PVĐ là sai hoàn toàn. Tôi chỉ buồn là vào thời kỳ đó, toàn bộ lãnh đạo ĐCS VN hãy còn sung sức và uy tín rất cao, và đại tướng Võ Nguyên Giáp đâu rồi, sao không thấy lên tiếng về quyết định trọng đại này ? Lòng yêu nước của những người lãnh đạo VN đã bị chủ nghĩa giáo điều CS bào mòn, trở nên khiếp nhược trước áp lực của quân xâm lược Bắc Kinh.
C- Kết luận:
Thật không dễ chút nào cho một kiều bào hải ngoại như tôi muốn tìm hiểu lịch sử cận đại VN, khi mà có quá nhiều dấu diếm, tuyên truyền dối trá nhằm che đậy sự thật do ĐCS VN cố tình gieo rắc gây hoang mang nghi kỵ. Nói theo lời anh Nguyễn Ngọc Giao (báo Diễn Đàn) rằng “ba thế hệ dân tộc VN đã bị ĐCS VN cho ăn cháo lú suốt hơn 60 năm ròng”, sách giáo khoa đã bị bóp méo nhằm mục đích đào tạo một thế hệ “nô dịch” phục vụ cho mưu đồ Hán hoá, làm hao mòn tinh thần yêu nước bất khuất của nòi giống Lạc Việt mà tiền nhân đã đổ biết bao xương máu để kiến tạo nên một đất nước oai hùng chống xâm lược không mỏi mệt.
Không thể nào nói chuyện “hoà hợp hoà giải dân tộc” khi mà chủ nghĩa giáo điều CS là kim chỉ nam cho mọi hành động, khi mà tất cả mọi danh từ nhằm vu khống cho cả triệu người dân miền Nam vô tội vẫn tiếp tục được sử dụng trên báo chí truyền thông “lề phải”, nào là: nguỵ quân, nguỵ quyền, nào là chi’nh phủ bù nhìn, nào là phản động, nào là phản quốc, Việt gian. Đến bây giờ nếu ai công tâm ngồi suy nghĩ kỹ và phân tích lịch sử nhân loại sẽ thấy ngay “kẻ phản quốc, phản động, bù nhìn, tay sai ngoại bang, nguỵ quyền” chính xác là tập đoàn lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam. Kẻ nào gieo Nhân thì phải hái Quả, kẻ nào gây Nghiệp ác thì phải lãnh nhận quả Báo, giáo pháp Nhà Phật không sai chút nào.
Bài viết này mới chỉ nhằm phân tích tìm kiếm sự thật nằm sau “bức công hàm PVVD 1958″. Những hệ luỵ do bức công hàm PVĐ 1958 gây ra cho dân tộc VN suốt nửa thế kỷ dẫn dắt đến cuộc chiến tranh tương tàn sẽ được phân tích ở bài viết sau. Một vấn đề trọng đại như bức công hàm PVĐ 1958, đưa đến chiến tranh tương tàn, dân tộc ly tán, hơn 6 triệu người dân VN bị chia lìa, mất trắng cơ nghiệp, anh chị em, gia đình phân cách trong suốt 60 năm ròng, thì ngày 30/04 không thể nào được xem như là “một chiến thắng vinh quang”, ngược lại đó chính là một dấu tích ô nhục cho tiền đồ một dân tộc.
Rất mong nhận được những phản hồi góp ý của quý vị độc giả bốn phương, trong và ngoài nước nhằm làm sáng tỏ vấn đề Biển Đông cho tương lai dân tộc Việt Nam.
Thành thật cám ơn,
30/04/2013
© Lê Quốc Trinh

Dân chủ từ môi trường giáo dục gia đình


gia-dinhChúng ta đã được học từ bé truyền thống nho giáo “tiên học lễ hậu học văn.”  Điều này đã trở thành nếp sống của hầu hết mọi người, nó nói lên sự tôn ti trật tự trong gia đình cũng như ngoài xã hội.  Chúng ta phải trân trọng những lời dậy của Thánh Hiền và các bậc tiền bối, nhưng nhiều người đã không hiểu những lời dậy này đúng theo ý nghĩa của nó.  Tiên học lễ hậu học văn nói lên sự tôn trọng lẫn nhau vì lễ đi trước.  Trong cách hành sử hằng ngày, từ trong gia đình đến ngoài xã hội, tôn trọng lẫn nhau là điều mọi người cần phải thực hành trong mọi tình huống.  Tôn trọng đòi hỏi từ cả hai phía, điều này chưa được thể hiện đúng mức ở nhiều gia đình cũng như ngoài xã hội – thường thì người lớn nói, nhỏ phải nghe; cấp trên nói, nhân viên phải nghe; chính phủ nói, dân phải nghe …  và không được cãi cho dù những điều nói ra là sai, không đúng sự thật, thiếu trung thực, không có cơ sở lý luận.  Vì sự tôn trọng chỉ được thể hiện ở một phía – phía của kẻ yếu, chúng ta chưa thực hiện đúng lời dậy của Thánh-Hiền.  Khi sự tôn trọng không được thể hiện đúng mức, chúng ta sẽ thấy những hiện tượng “làm lớn thường hay làm láo” lan tràn trong xã hội ở mọi tầng lớp; điển hình cụ thể mới đây là TBT của đảng CS, đồng thời là GS Tiến sĩ đã phê phán nhân dân thiếu đạo đức trên TV.  Đấy, lãnh đạo đất nước với học hàm Ts mà vẫn chưa hiểu những điều dậy cơ bản trong cách hành sử - không khiếm nhã; không phân biệt tuổi tác, trình độ văn hoá, chính kiến, Tôn giáo, sắc tộc, địa vị …
Trong nhiều gia đình Việt Nam, ông bố to như ông vua – bố phán điều gì con cái phải nghe theo, dù bố sai bét con cái vẫn phải câm miệng không được nói lại.  Chính môi trường gia đình như thế cho chúng ta thấy vấn đề dân chủ nơi xã hội còn là ý tưởng khá xa vời.  Mỗi gia đình là một thành phần của cấu trúc xã hội, nó là một xã hội thu nhỏ; do đó nếu dân chủ chưa được bắt đầu từ gia đình, chúng ta khó có thể cậy trông vào sự phát triển dân chủ nơi xã hội, đất nước.
Dân chủ được hình thành qua giáo dục không chỉ ở nhà trường nhưng quan trọng hơn là ngay từ môi trường gia đình.  Theo những nghiên cứu về phát triển tâm lý, trẻ em hình thành phần lớn tư duy của chúng khi còn rất bé.  Đây là khám phá đã gây nhiều ngạc nhiên, trẻ em vì chưa đủ khả năng ngôn ngữ để trình bầy suy nghĩ của chúng, nhưng không có nghĩa là chúng chưa có tư duy.  Nhà tâm lý gia Carl Jung đã khẳng định rằng: “Trẻ em học hỏi qua chính cuộc sống và hành động cụ thể của người lớn chứ không phải qua lời nói của họ.” Vì thế mối quan hệ của con trẻ với ông bà, cha mẹ, anh chị em trong nhà là nền tảng giáo dục, và là cơ cấu cho sự phát triển tư duy dân chủ của trẻ em. Theo nhà giáo dục Paul Wellstone thì giáo dục và dân chủ có cùng một mục đích, đó là kiến tạo nên những con người toàn diện; do đó chúng ta không thể tách rời giáo dục với dân chủ.  Chúng ta cần hiểu thế nào về dân chủ trong môi trường giáo dục gia đình?
Khalil Gibran, một thi sĩ và đồng thời cũng là nhà văn nhiều tên tuổi của Thế giới.  Ông sanh ra ở Lebanon nhưng được ăn học và lớn lên ở Mỹ, thấm nhuần giáo dục của cả hai nền văn hóa Ả-Rập và Âu-Mỹ.  Ông chết ở tuổi còn trẻ - 48, nhưng đã để lại một kho tàng sáng tác lớn cho nhân loại.  Trong tác phẩm nhà Tiên Tri (The Prophet), có lẽ là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, có đoạn nói về con trẻ (xin phỏng dịch):
Và người đàn bà ôm đứa con nhỏ trong lòng hỏi, “Này Tiên Tri hãy nói cho chúng tôi về con trẻ.”  Và Tiên Tri trả lời:
Con cái của bà không phải là của bà
Chúng là con trai con gái của Đời (Tạo Hoá) đã sắp đặt.
Chúng đến thế gian này qua bà nhưng không phải từ bà,
Và mặc dù chúng ở với bà, thế nhưng chúng không thuộc về bà.
Bà có thể cho chúng tình yêu, nhưng bà không thể cho chúng suy tư của bà.
Vì chúng có suy nghĩ của riêng chúng.
Bà che chở thân xác chúng, nhưng bà không thể chở che tâm hồn chúng,
Vì tâm hồn chúng ngự ở tương lai, nơi bà sẽ không thể đến, ngay cả trong giấc mơ của bà.
Bà có thể cố gắng để giống như chúng, nhưng đừng mong chúng sẽ giống như bà.
Vì cuộc đời không bao giờ chảy ngược, và ngày hôm qua không bao giờ trở lại.
Bà là cánh cung, cho con trẻ như những mũi tên sống bay về phía trước.
Đấng Tạo Hoá nhìn xa muôn dặm, và Ngài dương cung với sức mạnh thần kỳ, cho mũi tên bay lẹ bay xa.
Hãy đặt niềm tin phó thác nơi Tạo Hoá;
Ngài yêu mũi tên bay xa thế nào thì Ngài cũng yêu cánh cung vững chãi như thế. 
Qua bài thơ này, Gibran đã chia sẻ với chúng ta cái nhìn rất dân chủ của ông về môi trường gia đình, và chúng ta phải nhận rằng đây là sự thật xé lòng.  Càng ngẫm nghĩ chúng ta càng cảm nhận sự thâm thuý của ông – cả một triết lý giáo dục gia đình được trình bày ngắn gọn trong một bài thơ như thế.  Triết lý giáo dục này là tinh hoa mà ông đã lãnh hội và khai triển từ hai nền văn hoá rất khác nhau - Ả-Rập và Âu-Mỹ.
Vấn nạn của nhiều gia đình ở mọi nơi là do thiếu sự tôn trọng hài hoà trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái.  Cha mẹ thường vấp phải lầm lỗi là đã không nhìn nhận con cái của mình như những con người độc lập.  Hầu hết cha mẹ luôn nghĩ con mình thuộc về mình – chúng phải nghe lời mình; chúng phải kết hôn với người mình chọn; chúng phải học chuyên ngành mình muốn … Chúng ta muốn con cái làm điều ta muốn.  Chúng ta quên rằng mỗi con người là một nhân vật sống động không thuộc về ai cả, nhưng thuộc về Đời – Đấng Tạo Hoá.  Triết lý sống trong bài thơ này bộc lộ một tình yêu thương trưởng thành – can đảm chấp nhận con mình không thuộc về mình.  Chỉ có tình yêu thương trưởng thành như thế chúng ta mới có thể tạo nên môi trường sống tự do và dân chủ trong gia đình.
Nếu chúng ta coi con cái như là của riêng của mình và mình lành chủ, chúng ta vô tình biến con cái thành vật sở hữu, như thế có khác gì nhà nước CS đang coi người dân?  Đảng CS đã và đang coi người dân như những vật sở hữu mà họ làm chủ, chính vì thế họ mới có những lời tuyên bố rất ngạo mạn như ”sự lãnh đạo của đảng là tất yếu lịch sử.” Trong thực tế, ai cho đảng lãnh đạo nếu không phải nhân dân?  Đảng từ đâu ra nếu không phải từ nhân dân, chẳng lẽ ở trên trời rớt xuống?  Đảng không đối sử với nhân dân như những con người độc lập với quyền sống dân chủ căn bản.  Đảng coi dân như những cỗ máy kinh tế theo lời dạy của chủ thuyết duy vật.  Ngược hẳn với Marx, người đã kết luận Tôn giáo là thuốc phiện; Alexis de Tocqueville, nhà tư tưởng chính trị đã nhận định rằng: “Tự do đích thực sẽ không thể có nếu xã hội vắng bóng luân lý, và luân lý sẽ không thể có nếu con người không có niềm tin nơi Tạo Hoá.”  Chính vì thế khi một thể chế loại trừ Đấng Tạo Hoá ra khỏi đời sống của nhân dân, chính thể đó cũng tước bỏ luôn quyền sống tự do dân chủ của nhân dân.  Đây là sự thật của xã hội Việt Nam từ nhiều thập niên qua.
Thiếu vắng nền giáo dục theo phương pháp dân chủ ở môi trường gia đình, chúng ta vô tình tiếp tay với đảng CSVN tạo dựng những thế hệ ù-lì chỉ biết ngậm miệng vâng lời.  Đó là mô hình đảng CSVN mong muốn – toàn dân 90 triệu con người câm lặng vâng lời cho dù đảng làm những việc sai trái.  Giáo dục dân chủ là điều cần thiết cho sự phát triển xã hội lành mạnh, nó là nền tảng sáng tạo đưa đất nước tiến lên về lâu về dài.  Để đem dân chủ đến xã hội, chúng ta cần đem dân chủ đến môi trường gia đình trước đã.  Chúng ta có trách nhiệm dậy dỗ và hướng dẫn con cái về dân chủ, không chỉ qua lời nói nhưng bằng sự thể hiện dân chủ trong phương cách sống và những việc làm cụ thể trong cuộc sống hằng ngày.
© Charlie Nguyễn

Hoa Kỳ cảnh giác với trục liên minh ma quỷ!


co my-trungHoa kỳ đã phạm phải một sai lầm rất lớn trong chiến lược phòng thủ lâu dài ở thế giới tương lai, vì đã tích cực góp phần vực dậy một nền kinh tế và quốc phòng hùng mạnh thứ hai thế giới hiện nay là Trung Quốc! Hơn bốn mươi năm trước sau những lần “đi đêm” mặc cả với Trung Quốc và Hà Nội, người Mỹ chấm dứt sự có mặt ở miền Nam Việt Nam thông qua việc đàm phán và ký kết hiệp định paris vào ngày 27/01/1973, điều đó đồng nghĩa với việc Hoa Kỳ chấp nhận bỏ rơi người anh em đồng minh Việt Nam Cộng Hòa dẫn đến kết cuộc quân đội miền nam Việt Nam dần suy yếu và Sài Gòn chính thức thất thủ vào ngày 30/4/1975. Trách nhiệm thuộc về chức sắc nền Đệ nhị Cộng hòa đã không tìm cách tự lực cánh sinh: ngân quỹ quốc gia chủ yếu phụ thuộc, dựa dẫm vào sự viện trợ của người Mỹ cho đến khi người Mỹ rút thang thì Chính phủ VNCH phải chới với và ngã từ trên cao xuống đất mà không thể bấu víu vào đâu được nữa. Việc rút thang này có công đóng góp rất lớn của ông tiến sĩ ngoại trưởng Kit-sinh-gơ, ông ta đã đạt thành quả với ván cờ cao vì quyền lợi của người Do Thái bởi ông là người gốc Do Thái và bản thân đất nước Hoa Kỳ cũng đạt được mục tiêu thí chốt trên bàn cờ chiến lược khi làm sụp đổ, tan rã khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô. Nhưng sự ngoi lên mạnh mẽ về kinh tế, lẫn tiềm lực quân sự của Trung Quốc ngày nay đang là mối lo cho vị thế siêu cường của người Mỹ! Ở vị thế năm nước thường trực, lá phiếu của Trung Quốc luôn phủ quyết và đối nghịch lại các chính sách của Hoa kỳ đồng thời là một nước chống lưng làm bức bình phong cho các cuộc thương lượng về ván cờ hạt nhân của Iran và Bắc Triều Tiên… Trung Quốc thường sử dụng hai nước nói trên như những quân cờ trên bàn đàm phán trong chiến lược ngoại giao; buộc Mỹ và các nước phương Tây phải nhượng bộ nhằm kêu gọi sự ủng hộ từ phía Bắc Kinh; dù thừa hiểu rằng Trung Quốc là kẻ đứng phía sau, bao che, dung túng kể cả việc cung cấp nguyên liệu lẫn phương tiện, kỹ thuật làm giàu Uranium về tham vọng sở hữu vũ khí hạt nhân của hai quốc gia này.
Sau sự kiện ngày 11/09/2001, Hoa Kỳ phát động cuộc chiến chống khủng bố và nhanh chóng giải thể các chế độ nhà nước Hồi giáo cực đoan. Tuy nhiên uy tín và vị thế siêu cường số 1 của Hoa Kỳ lại xuống thấp do sa lầy bởi hai cuộc chiến ở Afghanistan và Irac. Cho dù ông Geogth W. Bush có làm sụp đổ chế độ Taliban hay đưa ông Sadam Huisen lên giá treo cổ nhưng nếu nhìn kỹ lại người Mỹ không đạt được nhiều lợi ích như mong muốn? Chỉ có chết chóc, thương tật và những hậu quả nặng nề do chiến tranh để lại cho cả hai phía! Mười hai năm trôi qua, việc tái thiết nhằm ổn định cho cả hai quốc gia nói trên xem ra còn xa vời và một cuộc khủng hoảng suy thoái kinh tế không mong đợi đó là: khủng hoảng tài chính, những khoản nợ công, thất nghiệp tăng cao ở Hoa Kỳ là một sự thật? Theo dự đoán, bước sang thập kỷ 20 của thế kỷ 21 thì nền  kinh tế của Trung Quốc sẽ vượt mặt Hoa Kỳ nếu người Mỹ vẫn mãi hao tâm, tổn sức cho những việc triển khai lá chắn phòng thủ tên lửa ở Đông Âu hoặc loay hoay vấn đề hạt nhân của Iran và Bắc triều tiên. Nói như thế không có nghĩa là nước Mỹ lơi lỏng để ba quốc gia nói trên muốn làm gì thì làm! Hoa Kỳ phải có những đối sách rạch ròi và  chiến lược thích hợp trước sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc hiện nay cũng như trong tương lai? Trước thế lực bao che, dung túng vấn đề hạt nhân của Iran, Bắc Triều Tiên cộng với việc xưng hùng, xưng bá gây căng thẳng ở biển đông, vùng Đông Bắc Á như thời gian vừa qua và hiện nay thì những bước đi ngoại giao của Hoa Kỳ sắp tới sẽ ra sao?
  1. a.      Người Mỹ sẽ thích ứng với những chiến lược nào?
-     Với các chính sách áp đặt trước đây mà một vùng Châu Mỹ Latin rộng lớn gồm nhiều quốc gia đã từng là sân sau của Mỹ nay đã lần lượt quay lưng với người Mỹ? Một quốc gia Đài Loan nhỏ bé trên bàn cờ chiến lược của Mỹ thời chiến tranh lạnh (cũng là nạn nhân nhưng lại may mắn hơn VNCH) nay không có nhiều lợi thế cho một cuộc chiến tranh quy mô, khi đối đầu với những vũ khí chiến lược tầm xa của Trung quốc? Một đảo quốc Philippin và một quốc gia Thái Lan là những đồng minh luôn bất ổn về chính trị? Một Indonesia, Malaisia hai quốc gia hồi giáo Mỹ không mặn mòi vì những người Hồi Giáo luôn có tư tưởng chống Mỹ? Một đất nước Việt nam vừa là bạn, vừa là thù trong quá khứ ngày nay đã tự biến mình thành rùa già rút cổ, chậm chạp bởi tầm trí thấp bé luôn lo sợ “diễn biến hòa bình”? Như vậy cả vùng Đông Nam Á này không thể làm thế đối trọng chiến lược quân sự lâu dài và có đủ sức ngăn chặn, hạn chế sức phát triển, bành trướng của người Trung Quốc trong tương lai.
-     Người Nhật sau thế chiến thứ hai, phải tận lực tập trung vào phát triển kinh tế và xây dựng tái thiết đất nước trên đống đổ nát hoang tàn do hậu quả của chiến tranh để lại. Tuy bị chiếm đóng nhưng may mắn nền tảng chính trị đất nước không rơi vào trạng thái hổn loạn, rối ren. Dưới sự bảo trợ của Hoa Kỳ! Nhật Bản tập trung vào việc tái thiết đất nước. Với tinh thần dân tộc bất khuất, ý chí quật cường cùng với nghị lực phi thường; người Nhật không những thành công trong việc tái thiết đất nước mà còn tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực khoa học kỷ thuật và nhanh chóng trở thành một quốc gia cường thịnh…. Dù là một siêu cường kinh tế thế giới nhưng tiềm năng quân sự của Nhật Bản không thể phát huy hết sở trường bởi sự khống chế ở một số điều khoản trong Hiến Pháp sau chiến tranh. Tiềm năng quân sự, lẫn tiềm lực quốc phòng của Nhật Bản hiện nay chỉ đủ khả năng chống đở mối hiểm họa tiềm ẩn từ Bắc Hàn, nhưng không đủ lực đương đầu với một cuộc chiến tranh tổng lực trước Trung quốc. Vì vậy việc phòng thủ an ninh quốc phòng Nhật Bản vẫn dựa vào đồng minh chiến lược Hoa Kỳ là chính. Lòng tự ái dân tộc của người Nhật đang trỗi dậy nhưng người Nhật phải chờ đợi đến mười, mười lăm năm nữa mới đủ thời gian để hiện đại hóa quân đội.
-     Người Mỹ nên hạn chế tầm ảnh hưởng với Pakistan một quốc gia hồi giáo không ưa thích Mỹ, hơn nữa quốc gia Nam Á nầy khó có một nền chính trị ổn định bền vững để làm đối tác, đồng minh chiến lược lâu dài. Đồng thời Hoa Kỳ cần có những chính sách mềm dẽo, ôn hòa với các quốc gia hồi giáo ở Trung Đông và những quốc gia Nam Mỹ.Với lợi thế siêu cường trong lĩnh vực khoa học kỷ thuật, Hoa kỳ mở rộng giao thương, hợp tác khai khoáng và khai sáng mở mang vùng đất Châu Phi giàu tiềm năng, nhằm hạn chế tầm ảnh hưởng của Trung Quốc. Vì với một nền kinh tế đang trên đà lớn mạnh, Trung quốc sẽ nhanh chân tạo mối quan hệ giao thương lên các quốc gia này để tìm thị trường tiêu thụ hàng hóa, khai thác khoáng sản cùng tiềm năng kinh tế còn tiềm ẩn của các quốc gia Châu Phi.
-     Hoa Kỳ xác định mối quan hệ song phương ngày càng khằng khít, bền chặt với Ấn Độ một quốc gia Nam Á nằm sát cạnh sườn Trung Quốc là một hướng đi ngoại giao sáng suốt. Tuy diện tích đất đai của Ấn Độ rộng lớn chỉ bằng 1/3 Trung Quốc nhưng có số dân đông đúc và tiềm năng phát triển không thua kém Trung Quốc. Với chiến lược lâu dài, Ấn Độ có thể là một đồng minh tin cậy có khả năng, thực lực làm thế đối trọng quân sự cho người Mỹ trong tương lai. Thế giới vẫn luôn chờ mong sự phát triển của Trung Quốc, Ấn Độ có thể làm cho hệ thống quốc tế trở về với trạng thái cân bằng giữa Đông và Tây! Thế nhưng sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc ngày nay không theo chiều hướng tích cực mà chỉ đem đến nhiều hệ lụy tiêu cực, lo lắng cho tất cả các quốc gia láng giềng kể cả Mỹ và phương Tây. (chiếm đóng trái phép, chồng lấn biên giới, lãnh thổ lên hai nước láng giềng là Việt nam và Ấn Độ; cùng lúc chịu tác động lớn bởi các chính sách áp đặt thiếu nhất quán, nói một đàng làm một nẻo. Với Ấn Độ thì Trung quốc còn kiêng nể nhưng với Việt Nam họ vừa đấm, vừa xoa).
-     Trong xu thế toàn cầu hóa ở thế kỷ 21, Hoa Kỳ và Liên bang Nga nên là hai đồng minh hợp tác chiến lược, sẽ tạo nên bước ngoặc kép: kiềm tỏa Trung quốc ở mặt bắc, mở sang trang bước vào kỷ nguyên mới một thế giới hiện đại ổn định và phồn vinh. Nếu hai quốc gia này luôn dè chừng và đối đầu nhau thì cả hai đều bại, kẻ thắng cuộc chắc chắn sẽ là Trung quốc vì “Ngư ông đắc lợi”? Hãy gạt bỏ quá khứ  tạo nên mối quan hệ bền chặt như quan hệ đồng minh giữa Hoa Kỳ-Nhật Bản nhằm hạn chế và ngăn chặn mưu đồ bành trướng, bá quyền của người Trung Quốc những kẻ nuôi tham vọng một ngày nào đó sẽ vượt qua mọi rào cản để lên ngôi bá chủ thống trị thế giới mới là đều cần thiết trong bối cảnh hiện nay và cả cho tương lai.
  1. b.      Hoa Kỳ có những bước đi ngoại giao thế nào?
-                       Do có nhiều bất đồng sâu sắc trong đàm phán, ngoại giao như vừa kể trên và sau những sự kiện xảy ra trên biển đông trong thời gian gần đây Hoa Kỳ hiện đang tìm thế, lẫn tiềm lực nhằm ngăn chận và kiềm tỏa mưu đồ bành trướng, bá quyền của Trung Quốc đó là một trong những lý do để người Mỹ quay trở lại vùng Đông Nam Á – Thái Bình Dương đã bỏ ngỏ hơn bốn mươi năm qua. Việt Nam sẽ là điểm đến và lựa chọn ưu tiên số một cho mục tiêu chiến lược mới bởi trong quá khứ giữa Hoa Kỳ – Việt Nam từng có những “kỷ niệm” khó quên! Việt Nam suốt chiều dài lịch sử dựng nước, giữ nước trải qua các triều đại Nhà nước phong kiến, tích lũy nhiều kinh nghiệm trong đấu tranh chống ngoại xâm, từng đẩy lùi nhiều cuộc xâm lăng thống trị của người phương Bắc. Nhưng tiếc rằng Nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn đang mê ngủ, theo đuổi những giấc mơ hão huyền, ảo tưởng! Ở một chừng mực nào đó có thể nói chế độ hiện nay không còn là chế độ của giai cấp chuyên chính vô sản đích thực mà là một giai cấp của những người lãnh đạo, giai cấp này tự đặt cho mình quyền cai trị tối thượng chỉ nhằm bảo vệ tư lợi của một nhóm người đặt lên trên quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước, của dân tộc, đồng thời xem thường nhân cách, vi phạm dân chủ, nhân quyền một cách nghiêm trọng. Khi đất nước lâm nguy họ vẫn chủ trương ôm chân cầu cạnh, cúi đầu trước kẻ thù xâm lược bạo ngược? Việt Nam càng phải học hỏi và đúc kết kinh nghiệm của người Nhật là nên gác lại quá khứ lẫn ánh hào quang trong chiến thắng để phát triển bền vững và cường thịnh như Nhật Bản.
-                       Mấy năm trở lại đây Trung quốc, Iran, Bắc triều tiên, họ thừa hiểu rằng họ không đủ thực lực để đối đầu trực diện với Hoa kỳ? Mưu đồ chiến lược của trục liên minh ma quỷ này đang tìm kế sách đánh vào kinh tế của nước Mỹ vốn là con nợ lớn nhất của Trung Quốc. Nền tảng kinh tế suy yếu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy: thất nghiệp lan tràn sẽ gây bất ổn xã hội, ngân sách cắt giảm, thiếu hụt làm cho quốc phòng suy yếu, quốc phòng yếu kém dẫn đến việc an ninh chính trị đất nước bị đe dọa. Hoa Kỳ cần phải thận trọng trước những động thái mặc cả chính trị về tiến trình hạt nhân vì nó có thể là mưu đồ làm hao công, tổn sức của Hoa Kỳ trong đó mục tiêu, chiến lược lớn nhất là đánh vào nền kinh tế nước Mỹ trong những lần điều động và triệt thoái binh lực. Họ tuyên bố cứng rắn, bất chấp phản ứng của dư luận quốc tế hoặc một cuộc thanh sát của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc Tế (IAEA). Khi Hoa Kỳ dùng biện pháp cứng rắn điều động binh lực trừng phạt thì họ lại dịu giọng đáp ứng yêu cầu.
-                       Tình hình trên bán đảo Triều tiên hiện nay đã nhận thấy rõ, đang đi theo chiều hướng này. Dư luận cho rằng nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim jong un trẻ người, non dạ lỡ mạnh miệng tuyên bố chiến tranh nên phóng lao phải theo lao để giữ thể diện, nhưng thực ra họ đang giở những chiêu bài hư hư, thực thực. Iran cũng vậy họ cũng đang mặc cả khi các phương án ngoại giao không đạt kết quả, chờ đến lúc Hoa Kỳ điều động binh lực thì lúc đó Iran mới giả vờ lùi bước chấp nhận một cuộc thanh sát toàn diện.
-                       Có không ít ý kiến cho rằng nhờ Bắc Triều Tiên hung hăng làm càn nên Hoa kỳ mới danh chánh, ngôn thuận chuyển hướng phòng thủ đến vùng Châu Á Thái Bình Dương sau hơn bốn mươi năm bỏ ngỏ. Nhưng cũng không thể khinh suất và loại trừ khả năng Trung Quốc tập trung quan sát, theo dõi sát sao việc Hoa Kỳ tập trận chung cùng với Hàn Quốc, Nhật Bản. Có khi họ lại chủ động khuyến khích Bắc Hàn gây hấn để tận mắt chứng kiến, khám phá xem tiềm lực xuất kích của những loại vũ khí chiến lược tối tân B-2 và F-22 đến đâu? Bởi hai loại vũ khí chiến lược tối tân này đối với họ vẫn còn là những ẩn số? Có thể họ sẽ tìm ra những phương án để chế ngự, phòng bị hoặc khả năng đánh bại trong tương lai? Nói như thế không có nghĩa khuyên ngăn Hoa Kỳ thụ động đứng ngoài cuộc để cho Trung Quốc muốn làm gì thì làm mà qua đó đề ra những đối sách phù hợp tránh để bị sa lầy và hao tổn binh lực cho những lần huy động lực lượng rồi triệt thoái. Hoa Kỳ càng hao tâm, tổn sức với tình hình Bắc Hàn và Iran bao nhiêu, Trung quốc càng có lợi bấy nhiêu.
-                       Hoa Kỳ cần nghiên cứu xem xét chiến lược lá chắn tên lửa ở Đông âu với lý do bảo vệ đồng minh có thiết thực hay không? Việc Hoa Kỳ quyết định hủy bỏ giai đoạn cuối của hệ thống lá chắn tên lửa ở châu Âu chưa thể xua tan mối hoài nghi của người Nga, vì Nga không công nhận quyết định hủy bỏ giai đoạn cuối của lá chắn tên lửa của Mỹ ở châu Âu là một hành động nhượng bộ?
-                       Giới chức Hoa Kỳ nỗ lực thúc đẩy Quốc hội nước này thông qua việc Mỹ chính thức tham gia vào Công ước luật biển, như vậy mới có cơ sở pháp lý buộc Trung Quốc chấp hành công ước mà nước này đã ký kết. Và những điều luật của Công ước này sẽ là nền tảng pháp lý cho sự hiện diện của Mỹ trên toàn cầu, cả không phận, hải phận và dưới đáy biển (Công ước Luật biển 1982 có hiệu lực từ ngày 16/11/1994).
-                       Điều động binh lực trong điều kiện, khả năng kinh tế cho phép nhưng không để ảnh hưởng suy giảm đến nền kinh tế đất nước. Bảo vệ đồng minh là các quốc gia Đông Bắc Á gồm Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc vừa ngăn chặn hướng đông khogn6 để Trung Quốc làm bàn đạp tiến ra cửa ngỏ thế giới, vừa tạo thế gọng kềm từ bán đảo Ấn Độ giáp giới phía tây và Nga từ hướng bắc, Úc đóng vai trò hổ trợ then chốt giữa khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương nhằm  khống chế Trung Quốc tác oai, tác oái trên biển đông và Thái Bình Dương.
Xảy ra vụ hai quả bom tự chế phát nổ khi đoàn vận động viên về gần đích đến ở giải marathon thường niên tại thành phố Boston bang Massachusetts khiến 3 người chết và 264 người bị thương vào sáng ngày 15/4/2013, càng khoét sâu thêm vào vết thương chưa kịp lành sau sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001, và từ đó cho đến nay cũng xảy ra vài vụ tương tự hoặc được ngăn chận kịp thời hoặc ở một mức độ không nghiêm trọng. Vì vậy, người dân Mỹ đã suy nghiệm một điều: nước Mỹ không phải là một đất nước bất khả xâm phạm bởi nhà chức trách không thể kiểm tra, giám sát toàn diện và tổ chức mạng lưới bố phòng an ninh dầy đặc trên khắp đất nước Mỹ! Chính quyền quốc gia phải nhanh chóng đề ra những phương án tối ưu và hiệu quả giảm thiểu tối đa mọi thiệt hại tiềm tàng nhất là không được khinh suất, lơ là trong mọi tình huống. Chiến lược phòng thủ từ xa hay đổ bê tông trước khung thành trong  môn bóng đá đều có thế mạnh và điểm yếu: tùy theo hoàn cảnh ứng biến, hoặc kết hợp cả hai thì cơ hội giành thắng lợi mới được toàn diện trên bàn cờ chính trị trong thời đại toàn cầu hóa, hiện đại hóa.
Dù người Mỹ đã gây ra cái chết oan uổng cho Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa trong quá khứ? Và hiện tại nước Mỹ có không ít kẻ thù do một số chính sách cứng rắn, áp đặt lên các quốc gia có tham vọng hạt nhân! Nhưng cả thế giới nầy không thể phủ nhận vai trò siêu cường của nước Mỹ đối với thế giới. Hãy cảm tạ Đấng Tạo hóa, vì ngài đã ban cho thế giới nầy một đất nước Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ để nhân loại mới hiểu được thế nào là dân chủ và tự do, thế nào là bình đẳng và nhân quyền vì ở những chế độ nô lệ, phong kiến xa xưa con người không thể nhìn thấy! Và trong thời hiện đại ngày nay còn sót lại những thế lực vô nhân, tàn bạo đang kìm hãm sự phát triển của xã hội tương lai đó là các chế độ cộng sản vô thần đang hủy hoại đời sống tâm linh, sẵn sàng gieo rắc bạo tàn và bất hạnh cho nhân loại. Mong muốn của xã hội hiện đại là đất nước Hoa Kỳ mãi mãi cầm trịch thế giới, để thế giới nầy luôn nhìn thấy ánh sáng của tự do, dân chủ; ngày nào chẳng may bọn cộng nô Hán quyền Trung quốc đoạt ngôi thống trị bá chủ thế giới! Ngày đó sẽ là ngày thảm họa và bất hạnh của cả thế giới hơn cả nạn diệt chủng của phát xít ở thập niên 1935-1945 của thế kỷ trước. Lịch sử nhân loại không thể nào quên vào khoảng 2250 năm (năm 259-210 trước công nguyên), dưới triều đại Tần thủy hoàng bạo chúa đã thôn tính và cai trị các nước chư hầu như thế nào? Hãy vì hòa bình, ổn định và trật tự thế giới; vì tự do, dân chủ và phát triển, phồn vinh: thế giới chúng ta hãy cùng đoàn kết xiết chặt tay, cùng nhau vạch mặt, chỉ tên, nhanh chóng đánh đổ, loại bỏ một thứ chủ nghĩa quân phiệt kiểu mới đó là chủ nghĩa bành trướng, bá quyền và Hán hóa của Trung Quốc.
Tưởng nhớ Sài Gòn, ngày 30/04/1975
© Quốc Anh
© Đàn Chim Việt

30 Tháng Tư, lo trước về tương lai



DemocracyChúng ta không thể tránh được, cứ đến ngày 30 Tháng Tư mỗi năm lại chợt nhớ về quá khứ. Niềm tưởng nhớ thường có trong một ngày giỗ. Mà đúng hôm nay là một ngày giỗ. Ngoài những vị tướng chỉ huy tử tiết, như Tướng Phạm Văn Phú, Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tướng Trần Văn Hai, Tướng Lê Văn Hưng, Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, còn biết bao nhiêu các binh sĩ, sĩ quan khác cũng đã chết để bày tỏ khí tiết trong cùng một ngày. Có vị sĩ quan cảnh sát chọn công viên Lam Sơn làm nơi thể hiện lời nguyền chết vinh hơn sống nhục. Nhiều vị sĩ quan, công chức, đã về nhà, cùng chết với gia đình. Chúng ta hướng về tất cả những anh hùng liệt sĩ đó trong ngày giỗ tập thể hôm nay.
Và nhiều chiến sĩ vô danh khác nữa. Trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 có nhiều nhóm quân nhân (Nhảy Dù, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, vân vân) đã quyết định cùng chết với nhau. Họ đứng khoác vai nhau, tự sát bằng những trái lựu đạn. Họ đã lựa chọn cùng nhau thể hiện tình “đồng sinh đồng tử, huynh đệ chi binh” một lần cuối cùng, trước khi tan hàng vĩnh viễn.
Chúng ta biết những chiến binh này có thể lựa chọn cách khác. Họ có thể chiếm cứ bất cứ ngôi nhà nào bên đường, lấy đó làm nơi tử thủ. Họ có thể bắn cho hết những viên đạn cuối cùng trước khi bị bên địch hạ sát. Giống như những người lính Nhật sau cùng trong trận Iwo Jima, lấy mạng đổi mạng. Nhưng vào giây phút tuyệt vọng nhất của đời mình, những người chiến binh này vẫn chứng tỏ họ vẫn sống nền đạo lý ngàn năm của dân tộc. Họ không muốn lôi kéo thêm những người lính khác phải chết với mình. Dù vừa mấy giờ phút trước đó, nhìn chỉ thấy đó là quân địch. Vì một tấm lòng từ bi vẫn chảy trong dòng máu Việt, các chiến sĩ này đã thấy: Cha mẹ, vợ con những người lính vô danh bên kia chắc cũng đang ngóng chờ ngày họ sống sót trở về. Nhớ lại những hành động tự sát tập thể trong giây phút tuyệt vọng đó, chúng ta chợt hiểu lời nguyện mà cha ông đã để lại: “Ðem đạo nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Ðại Cáo). Chúng ta đều có thể hãnh diện về hành động tự sát của những người lính Việt Nam Cộng Hòa này.
Các thế hệ sau phải làm gì để những người đã chết đều không ai chết uổng? Những con người tuẫn tiết đó đều chết trong khi chiến đấu bảo vệ quyền sống trong tự do dân chủ của người Việt ở miền Nam. Từ năm 1975 đến nay mấy thế hệ vẫn tiếp tục cuộc tranh đấu thiết lập một chế độ dân chủ tự do trên đất nước chúng ta. Chúng ta đang chứng kiến nhiều bạn trẻ còn non nớt hay sinh sau ngày 30 Tháng Tư năm 75, ở trong Nam hay ngoài Bắc, đang dấn thân trên con đường đó. Họ xứng đáng là những người nối dõi khí tiết hào hùng của các tiền nhân. Những người như Tạ Phong Tần, Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Ðắc Kiên, Huỳnh Thục Vy, Trịnh Kim Tiến, Việt Khang, vân vân, bị đánh đập, tù đày, gia đình bị dọa nạt, đàn áp, có bà mẹ đã tự thiêu chết; chỉ vì họ đòi phải cho dân tộc Việt Nam được sống trong tự do dân chủ. Các bạn trẻ này đã thể hiện tinh thần bất khuất của dân tộc; và cũng theo đuổi chí nguyện của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, và những những tử sĩ hy sinh ngày 30 Tháng Tư năm 1975.
Trong ngày 30 Tháng Tư nhìn lại 38 năm qua, chúng ta vui mừng vì cuộc vận động tranh đấu cho dân chủ tự do ở nước ta hiện ngày càng tiến mạnh hơn và nhanh hơn. Ðảng Cộng Sản đang trên đà tan rã, không thể nào tránh được. Giáo Sư Ðào Văn Dương, một người đã hoạt động cách mạng từ trước năm 1945, thường nói với các học sinh cũ đến thăm cụ: “Các anh chị sẽ thấy, chế độ Cộng Sản sẽ chết trước mình.” Viễn ảnh đó không còn xa xôi nữa. Chế độ Cộng Sản đang trong giờ hấp hối. Cái chết này thực sự bắt đầu từ năm 1975. Ðó là thời điểm mà những thủ đoạn lừa gạt tinh vi nhất của đảng Cộng Sản bắt đầu bị lộ diện; và càng ngày càng đưa họ xuống dốc.
Từ năm 1945, đảng Cộng Sản đã núp dưới chiêu bài dân tộc để lôi cuốn nhân dân. Họ núp dưới danh nghĩa “chống Mỹ cứu nước” để đẩy bao nhiêu thanh niên miền Bắc vào chỗ chết. Trong khi mục tiêu chính của họ là bành trướng một chủ nghĩa, một chế độ chính trị. Công cuộc bành trướng đó do Nga Xô và Trung Cộng lãnh đạo; còn nuôi tham vọng sau khi chiếm được toàn thể Việt Nam rồi sẽ nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á rồi lan khắp Châu Á và thế giới. Ðảng Cộng Sản đưa dân tộc Việt Nam ra hứng bom đạn trong cuộc tranh chấp giữa hai khối tư bản và Cộng Sản. Họ có vẻ hãnh diện về vai trò tiên phong này. Lê Duẩn nói: Ðánh miền Nam là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc. Năm 1976 Phạm Văn Ðồng tới một hội nghị các nước Á Phi còn dậy chính phủ các nước khác rằng họ chưa thực sự độc lập, chưa thoát khỏi chế độ thực dân. Ông nói: “Chỉ khi nào theo chủ nghĩa xã hội thì mới thực sự độc lập,” khiến các người tham dự rùng mình.
Khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì đảng Cộng Sản Việt Nam không thể dùng chiêu bài yêu nước như trước nữa. Không thể dùng khẩu hiệu “chống Mỹ” để biện minh cho các chính sách độc đoán và sai lầm làm dân ngày càng nghèo đói. Ðảng Cộng Sản để lộ bộ mặt thật của họ, là một guồng máy chuyên chế, tham nhũng và bất lực trước các vấn đề hiện đại hóa đất nước. Người dân Việt cũng có dịp so sánh hai chế độ ở miền Nam và Bắc, trước năm 1975. Nhiều nhà trí thức miền Bắc nhìn thấy những dấu vết của một xã hội tự do ở miền Nam, mặc dù chưa hoàn hảo nhưng vẫn còn dễ thở hơn ở miền Bắc. Một cậu bé năm đó 13 tuổi ở Thanh Hóa, sau cũng nhận ra khi nói “Giải phóng” thì phải thấy chính miền Nam đã giải phóng miền Bắc! Trước năm 1975 ông Nguyễn Văn Thiệu bảo: “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói…” Sau năm 1975 người đầu tiên nhìn ra lời đó đúng, là ông Trương Như Tảng, một Việt Cộng thứ thiệt. Thấy rồi, ông ta cũng tìm đường vượt biên. Sự sụp đổ của các nước Cộng Sản ở Âu Châu càng giúp người Việt Nam thấy rõ cả chế độ mà Hồ Chí Minh đã gây dựng lên theo kiểu mẫu ông học ở Nga Xô chỉ tàn hại đất nước. Nhưng chưa bao giờ dân Việt Nam chán ngán và thù ghét chế độ Cộng Sản như bây giờ. Ðúng vào lúc chế độ đó đang lúng túng. Không những không biết lần mò ra đường nào để giữ cho đời sống kinh tế của nhân dân phát triển, mà họ còn không biết có cách nào để giải quyết những tranh chấp quyền lợi bên trong với nhau.
Nhưng chúng ta phải lo lắng trước, khi nhìn thấy tình trạng đảng Cộng Sản tan rã. Không thể đứng chờ và chứng kiến, không lo lắng. Những liệt sĩ Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Lê Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn đã được huấn luyện với khẩu hiệu: “Lúc bình an phải lo trước cơn nguy biến sẽ tới” (cư an, tư nguy). Bây giờ là lúc thể hiện châm ngôn đó.
Chế độ Cộng Sản thế nào cũng tàn tạ. Giống như một trái cây chín rồi, tự nó sẽ rụng. Giới thanh niên, trí thức trong cả nước đang rung cây cho trái rụng càng sớm càng tốt. Ðiều đáng ưu tư của dân tộc bây giờ không còn là lo chấm dứt chế độ tham nhũng bất công đó. Ðiều cần lo ngay tự bây giờ, là sau khi chế độ này tàn thì dân tộc Việt Nam xây dựng lại đất nước ra sao?
Trước hết, làm sao cho tiến trình dân chủ hóa được thực hiện mà không vấp phải những chướng ngại, như đã từng diễn ra ở nhiều nước đã trải qua kinh nghiệm chuyển từ độc tài hay chuyên chế sang chế độ dân chủ? Trong mục này tuần trước, chúng tôi đã trình bày trường hợp Bulgaria, một chế độ Cộng Sản đã “tự đảo chính,” một ngày sau khi bức tường Berlin sụp đổ. Ðảng Cộng Sản đã sửa hiến pháp, chính họ xóa bỏ điều số một (giống như điều bốn trong hiến pháp Việt Nam bây giờ) dành độc quyền cai trị cho đảng. Họ tự đổi tên, tổ chức bầu cử tự do, và thắng cử. Ở Rumania cũng vậy, chính các lãnh tụ Cộng Sản đã giết vợ chồng Nicolae Ceausescu để chạy theo các cuộc cách mạng 1989 ở Ðông Âu. Nhưng họ đã hành động chỉ để cướp lấy ngọn cờ cách mạng, để duy trì cả hệ thống quyền hành và tiếp tục trục lợi.
Thủ đoạn “tiếm danh nghĩa cách mạng” và “tiếm quyền cai trị” đã từng được đảng Cộng Sản Việt Nam sử dụng lành nghề, trong năm 1945. Nhưng đó cũng chỉ là một, trong nhiều mối nguy mà tiến trình dân chủ hóa có thể vướng mắc, cần phải biết để tránh vết xe đổ. Tại một nước đã chuyển từ độc tài quân phiệt sang dân chủ tự do như Chile, tiến trình dân chủ hóa đã bị cản trở trong 15 năm vì ngay từ đầu các nhà tranh đấu dân chủ đã nhượng bộ quá nhiều khi thương thuyết cuộc chuyển giao quyền hành với Tướng Augusto Pinochet. Tại những nước như Nga, Ukraine, tiến trình dân chủ hóa vụng về, để cho một số người tập trung các nguồn lợi kinh tế vào trong tay. Những nhà tư bản độc quyền này đã dùng tiền bạc chi phối và “tiếm vị” thao túng cả guồng máy nhà nước. Ngay tại những nước dân chủ hóa thành công nhất, như Ba Lan và Tiệp Khắc, thái độ “dửng dưng với chính trị” của những nhà lãnh đạo như Walesa, Havel, đã tạo ra một khoảng trống chính trị khiến nhiều vấn đề của quốc gia không được giải quyết sớm bằng các định chế và thủ tục dân chủ. Một hậu quả dễ thấy nhất, là nước Tiệp Khắc đã phải chia đôi, thành Cộng Hòa Tiệp và Slovac, mặc dù vào lúc quyết định chia đôi đó, dân chúng cả hai miền đều muốn giữ thể chế liên bang (trên 54% ở cả hai vùng).
Dân chủ hóa là một con đường đầy trông gai, một dòng sông có nhiều mỏm đá ngầm. Ngày 30 Tháng Tư này, chúng ta cần suy nghĩ ngay về vấn đề đó, để chuẩn bị tương lai một nước Việt Nam tự do dân chủ. Ðó là một cách đền ơn nghĩa những người đã chết trong ngày 30 Tháng Tư năm 1975 trong khi đang tranh đấu bảo vệ một mảnh đất tự do của nước Việt Nam.
© Ngô Nhân Dụng
Nguồn: NV

Đất nước cựa mình làm nên lịch sử


197538 năm đã qua kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử, «ngày hàng triệu người vui, hàng triệu người buồn», như nhiều người thường nói và thường nghĩ.
Đất nước bước vào thế kỷ mới – thế kỷ XXI – được hơn mười năm.
Tình hình hiện nay của đất nước ra sao? Đáng vui hay đáng buồn ? Rất nên là vấn đề giao lưu, tranh luận, đối thoại. Nhất là với các anh chị em tự khẳng định là «những công dân tự do» đang vẫy gọi nhau đến dự cuộc họp dã ngoại công khai ngày 5 tháng 5 tới ở Hà Nội, Sài Gòn, Nha Trang, có thể cả ở Đà Nẵng và Huế.
Với bài viết này, tôi xin được góp phần nhỏ bé của mình vào cuộc họp dã ngoại ấy ở trong nước, rất mong được các bạn trẻ bên nhà giúp tán phát và nếu có thể cho một vài hồi âm.
Đảng Cộng sản VN năm nay đang ở trong trạng thái nào? Đây là vấn đề rất nên luận bàn cho ra lẽ vì đảng CS tự nhận là lực lượng duy nhất cầm quyền hiện nay, và đang cố giữ khư khư Điều 4 của Hiến pháp như lá bùa hộ mệnh của mình, khi chính họ thừa nhận rằng niềm tin của nhân dân đối với đảng đã sa sút tệ hại do toàn đảng đã suy thoái một cách thảm hại không sao kìm hãm nỗi.
Điều trên đây, ai cũng thấy, và thấy quá rõ. Trong chiến tranh, do bị cách ly với thế giới, lại do bị tuyên truyền kiểu nhồi nhét một chiều, người dân thường bị đảng mê hoặc, coi đảng CS là «đảng ta», coi chế độ độc đảng là «chế độ ta», đồng hóa đảng CS với nhân dân và dân tộc. Nay thì không còn gì như trước nữa. Người dân thường nay gọi đảng CS là «họ», là «các ổng», có khi «là bọn chúng», «bọn họ», là «chúng nó», khác hẳn thời nhẹ dạ cả tin ngày xưa. Mà chính lãnh đạo đảng CS cũng xa rời nhân dân, coi nhân dân là kẻ thù, cắt cầu rút ván với trí thức, với nông dân, với tuổi trẻ, với lao động, với bà con các tôn giáo, không thèm giao lưu, đối thoại.
Thật ra đảng CS còn mất đi nhiều điều lắm, không phải chỉ mất có niềm tin mà còn là sự tin yêu, yêu thương, quý trọng, thân thiết, tin tưởng tuyệt đối. Cũng không phải là tâm lý sợ hãi, mà còn là sự tin cậy, tình cảm mến thương cao quý đến độ thiêng liêng. Xưa kia do bộ máy tuyên huấn với hệ thống loa phường ra rả rót mật vào tai mỗi người dân từ mờ sáng đến nửa đêm, cổ vũ tệ sùng bái cá nhân, sùng bái đảng.
Ngày nay, thay vào đó là sự giận dữ pha đậm sự khinh bỉ. Giận dữ vì biết rõ đó là những con sâu, bầy sâu ăn bẩn tài sản của nhà nước, ăn cắp của mỗi người dân, của chính gia đình và bản thân mình. Khinh bỉ vì nhân cách thấp, thiếu tự trọng của họ do họ tự phơi bày. Ở cấp lãnh đạo cao nhất, các nhân vật tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc hội cũng kình địch nhau, lườm nguýt nhau, dùng các chữ X, Y, Z để gọi, ám chỉ nhau, chơi xấu nhau bằng các đòn ngầm… đều là những hiện tượng cực hiếm xưa nay.
38 năm sau cái gọi là «Toàn thắng, Giải phóng và Thống nhất» trong say sưa ngây ngất của đảng CS, nay chỉ còn lại niềm chua chát về sự suy thoái của đảng, về tình trạng mất niềm tin của nhân dân, nỗi lo sợ được thổ lộ công khai về sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa trước sự thức tỉnh và phẫn nộ của đông đảo nhân dân.
Trong và ngoài nước đều có những nhận định mới, chưa từng có, về tình trạng hiện tại của đảng CS. Nào là đảng CS Việt Nam đang cố tồn tại. Đảng CS không tự lột xác thì sẽ bị lột xác. Đảng CS đang phá sản về mọi mặt. Chỉ riêng việc tạo nên núi nợ khổng lồ hơn 120 tỷ đôla để chia chác với nhau, để các đời con cháu è cổ ra trả, các quan chức cao nhất hiện nay rồi sẽ phải trả lời trước Tòa án tối cao của dân tộc một ngày không xa. Đảng CS VN đang đứng trước nguy cơ sụp đổ, nguy cơ phá sản, nguy cơ giải thể không sao tránh khỏi. Đảng CS VN đang đi đến bước đường cùng, đi theo số phận của đảng CS Liên Xô, các đảng CS Ba Lan, Tiệp Khắc, Hung, Rumania, Bulgaria, Nam Tư, Mông Cổ, CHDC Đức, để nằm chung một nghĩa địa CS quốc tế.
Ngược với đà đi xuống không sao gắng gượng nổi của đảng CS, cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ, nhân quyền của nhân dân ta đang phát triển bất chấp sự đàn áp khốc liệt của Bộ Chính trị với công cụ là bộ máy cảnh sát được hưởng nhiều bổng lộc kết hợp với các nhóm xã hội đen.
Nhiều hiện tượng và sự kiện chưa từng có đã liên tiếp xuất hiện, nói lên sự phát triển không gì kìm hãm nổi của lực lượng đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Trước kia có người cho rằng hãy chờ cho có đời sống kinh tế khá lên đã rồi sẽ đòi tự do dân chủ sau. Rằng lúc ấy đảng CS sẽ có lòng tốt trả lại tự do cho dân theo kiểu xin – cho. Trước đây, nhiều người cho rằng ký kiến nghị, ký tuyên ngôn, tuyên bố làm gì, không có tác dụng khi chính quyền độc đảng tỏ ra ù lỳ, ngoan cố. Nay đã có đồng thuận, phải đấu tranh ôn hòa nhưng kiên trì, quyết liệt, phải bằng nhiều biện pháp khác nhau, không bỏ sót một biện pháp nào, phối hợp trong và ngoài nước, phối hợp trong nước và các thế lực dân chủ nhân quyền quốc tế, coi các hình thức ra tuyên bố, tuyên ngôn, kiến nghị là những hình thức tập hợp lực lượng, liên kết phong trào, đoàn kết nội bộ, bảo vệ lẫn nhau, rất có hiệu quả và tác dụng, làm thế lực độc đoán rất e ngại.
Từng lực lượng, từng khu vực, từng giới, từng địa phương đang liên kết trong một mặt trận rộng lớn gồm từ cụ già 95 tuổi như lão tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cho đến các cô sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Nguyễn Trang Nhung, Đỗ Thúy Hường; từ nhà báo dân chủ Phạm Chí Dũng của lề phải đến nhà báo Đặng Chí Hùng trên lề trái; từ đảng viên bỏ đảng Nguyễn Chí Đức đến cựu nhân sỹ mặt trận giải phóng Lê Hiếu Đằng; từ các luật sư và luật gia hiểu rõ luật pháp và chế độ pháp trị dân chủ đến các nhà kinh doanh vừa và nhỏ bị kinh tế quốc doanh của đảng CS chèn ép và bóp chết hàng loạt – rõ ràng lực luợng đấu tranh đang phát triển khá nhanh, khá rộng khắp, không còn lẻ tẻ như mươi năm trước.
Khi kiến nghị về Bô-xít đạt hơn 3 ngàn chữ ký đã là khá đông thì Tuyên bố về sửa đổi hiến pháp gần đây vọt lên đến 16 ngàn. Yêu cầu then chốt nhất, được coi là nhạy cảm nhất là yêu cầu chuyển toàn hệ thống từ độc quyền đảng trị sang hệ thống pháp trị đa đảng đa nguyên đang lan rộng, thu hút cả đông đảo đảng viên CS, trong đó có cả nhiều đảng viên lão thành, trí thức có uy tín và ảnh hưởng lớn, am hiểu thời thế, thật lòng yêu nước, thương dân.
Vậy thì làm sao năm nay nhân ngày 30/4 các chiến sỷ dân chủ, những công dân tư do lại cho phép mình buồn được. Hãy nhường hẳn cái buồn ấy cho những người như ông Nguyễn Khoa Điềm, từng qua 2 khóa Bộ Chính trị, nay nghỉ hưu, vừa gửi cho mạng Quê Choa mà ông từng đe nẹt, bài thơ nhan đề là «Những năm tháng buồn». Bài thơ là một tiếng thở dài não nề từ một nhân vật từng thét ra lửa, 1 trong 14 vị vua tập thể ngự trị hơn 10 năm, từng bịt miệng báo, đài, blogger, internet, từng tống ngục hành hạ lên án tướng Trần Độ, các ông Vi Đức Hồi, Hoàng Minh Chính, Nguyễn Khắc Toàn, Phạm Hồng Sơn.
Cái nỗi sợ cường quyền lưu cữu như một nghiệp chướng truyền đời nay đã đổi ngôi. Các ngài nguyên uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên ủy viên Trung ương nay đã biết sợ. Họ sợ ai? Họ sợ lớp lớp dân oan, lớp lớp nông dân vốn trong hàng ngũ liên minh công nông của họ bị họ phản bội; họ sợ từng từng lớp lớp trí thức sinh viên tỉnh dậy đòi phế bỏ cái dự thảo hiến pháp vô duyên ‘thay hàng trăm chỗ để không thay gì cả’; họ sợ các cô gái Nguyễn Hoàng Vy, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phan Thanh Nghiên vẫy gọi bạn bè gặp gỡ nhau trong các cuộc dã ngoại để trao đổi tự do về mọi chuyện trên đời; họ hoảng lên khi thấy các kiến nghị, tuyên bố của các nhóm trí thức tự do đã vựợt xa 2 ngàn, 3 ngàn, để vọt lên 8 ngàn, 10 ngàn, nay là 16 ngàn, Vậy thì phải cần bao nhiêu công an để triệu tập số người ấy tới để làm việc, và cần xây thêm bao nhiêu buồng giam, trại giam để nhốt và cách ly số «phần tử nguy hiểm» ấy?
Vậy thì 30/4 năm nay, mỗi người dân Việt nặng lòng với độc lập, với quyền làm Người, với quyền tự do, dân chủ của nhân dân không có một lý do gì để buồn rầu cả.
Theo tôi ngày 30/4 năm nay là ngày vui, rất đáng vui, ngày để lạc quan, hướng đến tương lai, một tương lai tươi sáng do dấn thân của mọi tiềm lực của dân tộc, của trí thức, của tuổi trẻ, của phụ nữ nước ta, của bà con các tôn giáo luôn lấy cái Thiện, cái Cao Cả, Lẽ Phải làm tôn chỉ. Một cuộc xếp sắp lại lực lượng phá và lực lượng xây đang diễn ra trên quy mô cả nước.
Bạn có nghe thấy tiếng cựa mình của đất nước đang làm nên Lịch sử mới hay không. Xin lắng nghe và vào cuộc bạn nhé.
Đó là kết quả của 38 năm bền bỉ đấu tranh, phơi bày sự tráo trở, mỉa mai, hỗn xược của mỹ từ «giải phóng», để cuối cùng «người thắng cuộc» cuối cùng không phải là đảng Cộng sản với cái học thuyết Mác Lê đã phá sản tuyệt đối trước lịch sử loài người, đảng đã đổ đốn đang tàn phá quê hương, sắp bị đào thải. Người thắng cuộc cuối cùng là nhân dân, là dân tộc Việt Nam chúng ta.
© Bùi Tín
Nguồn: VOA

Giữa tiền và bạo lực


Trong nhiều năm, Trung Quốc đã trở thành động lực thúc đẩy tình hình kinh tế toàn cầu, tại thời điểm này nền kinh tế đang trải qua một thời kỳ khó khăn. Đã phải đóng cửa nhiều nhà máy sản xuất hàng xuất khẩu. Công nhân xuống đường biểu tình. Ngay cả tầng lớp trung lưu trẻ cũng náo động.
Như từ trên trời rơi xuống, đột nhiên xuất hiện các đơn vị cảnh sát đặc biệt. Người công nhân Liu và khoảng ba chục đồng nghiệp của ông từ nhà máy bị phá sản Bill Electronic diễu hành qua lại ngay trước tòa thị chính ở Đông Quan, hô to: "Hãy trả lại chúng tôi tiền bạc từ máu và mồ hôi". Bây giờ tiếng kêu của họ biến thành tiếng thét đáng sợ.
Hàng trăm cảnh sát mặc đồng phục trong mũ sắt, với khiên, dùi cui và lực lượng an ninh mặc thường phục nhảy xuống từ những chiếc ô tô màu ô liu. Những người phản đối, trong đó có Liu, đã bị xua đẩy bởi cảnh sát chống bạo động với những con chó, ra lề đường phố. Nhà cầm quyền cộng sản chỉ cần vài phút để dập tắt cuộc biểu tình.
Giới trẻ, chủ yếu là phụ nữ và những người đàn ông được đẩy lên xe buýt màu vàng chở họ trở lại nhà máy. Ở đó, nhà chức trách đặt ra cho họ áp lực lớn: cho tới chiều, mỗi người phải đồng ý nhận 60% tiền lương. Ai từ chối, không được nhận bất cứ điều gì - các quan chức đe dọa.
Cuộc khủng hoảng toàn cầu đã tới Trung Quốc. Vấn đề nợ của châu Âu, đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc, triển vọng trở nên tồi tệ đối với viễn cảnh của nhà máy sản xuất của thế giới. Tình hình kinh tế vẫn còn mong manh ở Hoa Kỳ và mối đe dọa của chiến tranh thương mại giữa hai siêu cường. Khi bắt đầu chiến dịch tranh cử tổng thống, các chính trị gia Mỹ đã cố gắng vào thời điểm này với ngôn ngữ mạnh mẽ nhắm tới đối thủ đỏ của mình.
Tháng Mười là tháng thứ ba liên tiếp trong đó xuất khẩu của Trung Quốc giảm. Do đó, các nhà sản xuất Đức cũng hy vọng rằng thị trường đang phát triển châu Á dần dần có thể giúp họ phục hồi từ cuộc khủng hoảng toàn cầu, cũng giống như sau năm 2008. Đấu tranh với những vấn đề riêng của họ - bong bóng bất động sản và nợ ngân sách địa phương cao - Trung Quốc có thể trở thành một mối đe dọa cho nền kinh tế thế giới.
Với người lao động Liu, phép lạ kinh tế của đất nước mình đã kết thúc. Cho đến nay, mười hai giờ một ngày ông lắp ráp thiết bị đầu DVD. Gần đây, làm ít hơn - ông nói. Số lượng đơn đặt hàng từ châu Âu sụt giảm - sếp công ty thông báo với họ.
Sau cuộc tấn công của cảnh sát, Liu bị lạc, sợ hãi và đi lang thang trên đường của thành phố. Phía bên phải và bên trái là nhà máy và khách sạn công nhân - Chúng tôi chỉ muốn được thanh toán đầy đủ, còn họ thì gửi tới chúng tôi cảnh sát - ông nói. Lòng tin của họ vào đảng và nhà nước bị đổ nát.
Chính nơi đây, trong khu vực xuất khẩu của tỉnh Quảng Đông, một thứ phòng thí nghiệm thử nghiệm của chủ nghĩa tư bản Trung Quốc, hiện nay hầu như không có ngày nào mà không có công ty phá sản hay các cuộc biểu tình. Tại nhà máy sản xuất giày Yue Chen - sản xuất theo đặt hàng của công ty mẹ Đài Loan loại giày thể thao cho các thương hiệu như New Balance - ngự trị trong những ngày này tình trạng khẩn cấp. Vì hợp đồng bị huỷ bỏ nên người ta đã cho nghỉ việc 18 nhà quản lý. Người lao động đuợc xác định giờ làm thêm, trong khi lương trần không đủ để tồn tại. Vì sự thất vọng rất lớn mà một số người trong số họ đã tham gia các cuộc biểu tình trước Tòa thị chính. Trong cuộc đụng độ với cảnh sát có mười đồng nghiệp bị thương - một người lao động trẻ thông báo.
Tình hình ở phía trước của nhà máy khá căng thẳng. Cổng vào được bảo vệ bởi người đàn ông có nét mặt đáng sợ trong bộ quần áo dân sự. Bất cứ ai nói chuyện với công nhân đều bị chụp ảnh và bắt nạt. Trong nhà máy đang tiếp tục cuộc đấu tranh quyền lực giữa ban lãnh đạo và nhân viên. Các công nhân ngồi nhàn rỗi trong những phòng tối, nơi mà bình thường họ khâu và dán giày, hội đồng quản trị đã cắt điện một phần.
Ở các phần khác của đất nước ngày càng có nhiều giây chuyền sản xuất bị ngưng. Ở phía Đông, thành phố Ôn Châu, được biết đến trên toàn thế giới với bật lửa giá rẻ, giày dép và quần áo, nhiều nhà đầu tư đang chạy trốn chủ nợ, ngân hàng tư nhân bất hợp pháp đã từng cho họ vay tiền. Trước đó, một trong những sếp đã lặng lẽ mang đi khỏi nhà máy tất cả các máy móc.
Thậm chí ngành công nghiệp trình diễn của cộng hoà nhân dân cũng bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm trong nhu cầu tiêu thụ của châu Âu. Ví dụ, Suntech Power Holdings ở Vuxi gần Thượng Hải, một nhà sản xuất tấm cài đặt năng lượng mặt trời trong quý thứ ba của năm nay ghi nhận mức lỗ 116 triệu USD. Trong cùng kỳ năm ngoái, công ty đã có lợi nhuận 33 triệu USD.
Trung Quốc và sự thiệt hại? Cho đến gần đây, nhà vô địch xuất khẩu châu Á được ngưỡng mộ bởi các doanh nhân và chính trị gia nước ngoài như một người chiến thắng trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Trong một nhà nước độc tài tư bản Bắc Kinh, một số thậm chí tin rằng họ đã có thể khám phá ra một lựa chọn tốt hơn cho cuộc khủng hoảng của nền kinh tế thị trường theo khuôn mẫu phương Tây.
Đặc biệt với các ông chủ ngành công nghiệp ô tô của Đức, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc đã kkhích lệ họ đầu tư rất lớn. Riêng Volkswagen, Trung Quốc từ lâu đã là thị trường lớn nhất trên thế giới, tập đoàn Wolfsburg hy vọng sẽ bán cho đến cuối năm nay có tổng cộng 2 triệu xe.
Nhưng sự bùng nổ đã suy yếu. - Từ chín ngày nay, chúng tôi không nhận được một đơn đặt hàng nào - người bán hàng của hãng Porsche ở Đông Quan tiết lộ - Một cái gì đó như thế này chưa bao giờ có.
Nhiều người sếp các công ty không có tiền. - Cho đến thời gian gần đây đa số trả tiền mặt, bây giờ họ muốn mua trả góp.
Ngoài ra các thương hiệu giá rẻ của Trung Quốc như BYD ("Build Your Dreams"), cũng khó tống khứ dễ dàng xe của mình. Năm ngoái đã kết thúc đợt mua xe mới của nhà nước. Đối với các đô thị lớn như Bắc Kinh, cố gắng để làm giảm tắc nghẽn đường phố, người ta hạn chế lượng xe mới. Trong tháng Mười, người Trung Quốc mua xe ít hơn bảy phần trăm so với tháng trước đó.
Thoạt đầu và có vẻ như các nhà tư bản nhà nước của Bắc Kinh đã tìm thấy một công thức tuyệt vời cho sự tăng trưởng không ngừng. Năm 2009 khởi công xây dựng đường cao tốc, nhà ga xe lửa và sân bay với tổng số 4 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương: 430 tỷ euro), gói kích thích lớn nhất trong lịch sử). Sử dụng ưu đãi thuế, họ khuyến khích hàng triệu nông dân mua tủ lạnh và máy tính.
Như là mệnh lệnh của đảng, các ngân hàng ném tiền vào dân chúng. Đặc biệt với quy mô lớn cho những chính quyền địa phương mắc nợ. Vào cuối năm 2010, nợ của các địa phương đã 10,7 ngàn tỷ nhân dân tệ - tương đương với khoảng một phần tư GDP của Trung Quốc.
Một tỷ lệ lớn của các quỹ này đã được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp cho bất động sản. Chính quyền địa phương đã thấy rằng việc bán đất cho phát triển là một nguồn sinh lợi của thu nhập - và liên tục vay tiền từ các ngân hàng. Hàng ngàn nông dân đã bị đuổi ra khỏi đất đai của họ để xây dựng biệt thự và các chung cư. Nhiều người trong số các dự án này, thường khoe khoang một ảo tưởng thực sự vĩ đại, bây giờ giống như một thành phố ma. Chỉ trong tháng Mười, trong mười lăm thành phố lớn của Trung Quốc số lượng các lô nhà mới được bán giảm so với cùng kỳ năm ngoái 39 phần trăm.
Khi phương Tây vẫn còn hy vọng rằng Trung Quốc sử dụng dự trữ ngoại tệ của mình sẽ giải quyết cuộc khủng hoảng nợ trong khu vực đồng euro và đôla, trong nước gia tăng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo. "Xã hội hài hòa", mà người đứng đầu Đảng và Nhà nước nói thường xuyên, nằm trong một sự bất an vĩ đại.
Kiềm chế lạm phát, ngân hàng trung ương kể từ giữa năm 2010 tăng lãi suất năm lần, trong khi buộc các ngân hàng mở lượng dự trữ lớn hơn. Nhờ đó Bắc Kinh hy vọng sẽ dẫn sự bùng nổ của mình cho một sự "hạ cánh mềm". Nhưng động thái này tiềm ẩn một rủi ro lớn. Cùng với nền xây dựng, động cơ kích động tình hình kinh tế hiện tại phải tính đến ngành công nghiệp khác như xi măng, thép, đồ nội thất, bởi vì có thể chúng đánh mất động lực hiện có.
Nếu vỡ bong bóng bất động sản, tầng lớp trung lưu ngày càng tăng của Trung Quốc sẽ quay sang chống lại chính phủ. Cho đến nay, được khảo sát thấy Đảng Cộng sản là người đảm bảo sự thịnh vượng của họ. Gần đây, ở trung tâm của Thượng Hải các chủ nhà đã phẫn nộ biểu tình chống lại sự suy giảm giá tài sản của họ.
Wang Jiang, 28 tuổi chỉ khu nhà gần như đã hoàn thành ở Anting, ngoại ô đô thị. Người quản lý của công ty phần mềm này vào đầu tháng Chín đã mua căn hộ trên tầng mười sáu với giá 138.000 euro. Đây là một số tiền lớn cho 82 mét vuông nhà ở, đặc biệt là các ngôi nhà nằm trong một sa mạc công nghiệp, giữa các nhà máy và các tuyến đường nhanh. Wang muốn chắc chắn kiếm tiềm từ sự bùng nổ xây dựng, đã không xem nhà trước khi mua. Làm gì, nếu không phải là bất động sản, để đầu tư?
Ngân hàng nhà nước ở Trung Quốc trả lãi suất âm cho bọn con buôn của mình, còn thị trường chứng khoán Thượng Hải được coi có độ rủi ro cao cho chuyện đen đỏ, nơi mà vài nhà đầu tư lớn của nhà nước theo cái cách của mình thao túng tỷ giá hối đoái.
Căn hộ của Wang thậm chí còn chưa kết thúc, và niềm vui tương lai được chuyển tới của anh đã biến mất. Bởi vì mới đây các công ty kinh doanh bất động sản chào các căn hộ tương đương với giá rẻ hơn 20 phần trăm. Vương cảm thấy bị lừa dối. - Họ nghĩ gì vậy? - Anh nguyền rủa - Họ không thể đột nhiên phá hủy một phần tài sản của tôi.
Thật không may, họ lại có thể. Gần đây, Wang và nhiều chủ nhà khác đang tức giận phản đối chống sự giảm giá bán của công ty bất động sản. Đột nhiên, ai đó trong những người biểu tình phá hủy mô hình thu nhỏ của các khu định cư - người nói chuyện cho chúng tôi biết. Sau đó tất cả mọi thứ xảy ra rất nhanh chóng, nhân viên bảo vệ công ty bắt giữ anh ta và những người tham gia khác trong cuộc biểu tình, và chở bằng chiếc xe nhỏ giao cho cảnh sát. - Chúng tôi đã bị thẩm vấn tới hai giờ sáng - Wung cho biết. Một số người cho đến nay họ vẫn còn bị giam giữ, còn nhà chức trách thì giữ gia đình của họ trong trạng thái hoang mang.
Đông Quan và Thượng Hải - ở khắp mọi nơi cho thấy một vết nứt của Cộng hòa Nhân dân trong xã hội. Cho tới khi chế độ độc tài độc đảng đảm bảo tăng trưởng kinh tế hai con số, người Trung Quốc hòa giải với họ và chấp nhận thiếu tự do. Tuy nhiên, giờ đây Bắc Kinh phải đối mặt với một tình thế khó xử nghiêm trọng. Bằng dùi cui cảnh sát không thể kiểm soát những tác động dài hạn của một nền kinh tế suy giảm, còn trợ cấp của nhà nước không dễ dàng thúc đẩy phát triển. Cả tiền và bạo lực đều không giúp đỡ gì được.
Gần đây, Thủ tướng chính phủ công bố một điều chỉnh nhỏ của chính sách kinh tế. Các ngân hàng ưu đãi các khoản vay hào phóng cho các công ty xuất khẩu nhỏ và vừa. Tuy nhiên, thời gian này tình hình kinh tế phức tạp hơn nhiều so với sự bùng nổ của cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 - Nhà kinh tế Trung Quốc Lâm Giang cho biết. Khi tất cả các hàng xuất khẩu của Trung Quốc bị khựng lại và 25 triệu người làm việc phải trở về tỉnh nhà của họ.
Ít nhất là từ phía người công nhân Liu từ Đông Quan, nhà cầm quyền Trung Quốc không phải lo lắng về bất kỳ cuộc biểu tình nào trong thời gian tới. Bởi vì anh ta đang bận rộn vào thời điểm này tìm kiếm nơi trú ẩn cho chính mình. Cùng với mất việc làm ông cũng bị mất luôn nơi ở trong khách sạn công nhân của nhà máy.

Wieland Wagner
Lê Diễn Đức dịch

Bản Việt ngữ © 2013 Lê Diễn Đức - RFA Blog
____________________
Bài dịch từ tiếng Ba Lan, tác giả Wieland Wagner là nhà báo của Der Spiegel, đăng trên cổng thông tin Ba Lan Onet.pl tại link: http://biznes.onet.pl/miedzy-pieniedzmi-a-przemoca,18595,4980676,1,prasa-detal

Quyền lực mềm: Những điều Trung Quốc và Nga không hiểu

Bắc Kinh và Moskva muốn được người ta coi là hấp dẫn nhưng đã thất bại thảm hại.
Khi tạp chí Chính sách đối ngoại (Foreign Policy) đăng bài Quyền lực mềm (Soft Power) của tôi vào năm 1990, ai có thể ngờ rằng một ngày nào đó những người như Hồ Cầm Đào hay Vladimir Putin lại sử dụng thuật ngữ đó? Nhưng tại đại hội Đảng vào năm 2007, ông Hồ đã nói rằng Trung Quốc phải gia tăng quyền lực mềm, gần đây Putin cũng thúc giục các nhà ngoại giao sử dụng quyền lực mềm một cách tích cực hơn. Nhưng dường như cả hai ông này đều không hiểu làm sao đạt được mục đích của mình.
Quyền lực là khả năng tác động vào người khác nhằm đạt được kết quả mong muốn. Có ba biện pháp chính: cưỡng ép, bằng tiền hay bằng sự hấp dẫn. Nếu bạn có thể đưa quyền lực mềm của tính hấp dẫn vào kho vũ khí của bạn thì bạn có thể tiết kiệm được cả cây gậy lẫn củ cà rốt. Đối với một cường quốc đang lên như Trung Quốc, nền kinh tế và sức mạnh quân sự đang gia tăng của họ có thể làm cho các lân bang hoảng sợ, buộc họ phải thành lập những liên minh làm đối trọng; chiến lược khôn ngoan, trong đó có quyền lực mềm, sẽ làm cho Trung Quốc trông có vẻ bớt đáng sợ hơn và liên minh đối trọng sẽ kém hiệu quả hơn. Còn đối với một cường quốc đang đi xuống như nước Nga (hay trước đó là nước Anh) thì quyền lực mềm còn sót lại sẽ giúp làm cho cú ngã bớt đau đớn hơn.
Quyền lực mềm của một nước trước hết nằm ở ba nguồn: văn hóa (văn hóa hấp dẫn được những người khác), giá trị về mặt chính trị (khi đất nước giữ những giá trị đó cả ở trong nước lẫn ở nước ngoài) và chính sách đối ngoại (khi những chính sách này được coi là chính danh và có giá trị đạo đức). Nhưng liên kết những nguồn lực này thành một khối không phải là công việc dễ dàng.
Thí dụ, thành lập Viện Khổng tử ở Manila để dạy văn hóa Trung Quốc có thể giúp tạo ra quyền lực mềm, nhưng dường như họ lại không làm như thế trong bối cảnh khi mà Trung Quốc hăm dọa Philippines về quyền sở hữu dải đá ngầm Scarborough. Tương tự như thế, Putin bảo các nhà ngoại giao của mình rằng “chuyển ưu tiên sang sử dụng quyền lực mềm, tăng cường vị trí của tiếng Nga,” nhưng ông Sergei Karaganov, một nhà khoa học Nga, lại nói rằng sau cuộc tranh cãi với Georgia, Nga đã sử dụng “quyền lực cứng, trong đó có sức mạnh quân sự, vì nước này sống trong một thế giới nguy hiểm hơn nhiều…và vì nước này có ít quyền lực mềm – nghĩa là có ít sự hấp dẫn về xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế.”
Phần lớn quyền lực mềm của Mĩ là do xã hội dân sự chứ không phải chính phũ Mĩ tạo ra, đấy là các trường đại học và các quỹ, Hollywood và văn hóa đại chúng. Đôi khi nước Mĩ còn giữ được một phần sức mạnh mềm của mình là nhờ có một xã hội dân sự có thái độ phê phán và không bị kiềm duyệt, mặc dù hành động của chính phủ xói mòn nó (thí dụ như cuộc xâm lăng Iraq). Nhưng chiến lược khôn ngoan phải là quyền lực cứng và mềm hỗ trợ lẫn nhau.
Trong cuốn sách mới xuất bản, với nhan đề Trung Quốc sẽ trở thành cường quốc toàn cầu (China Goes Global), David Shambaugh, Giáo sư của đại học George Washington, chỉ ra rằng Trung Quốc đã chi hàng tỉ đô là trong “chiến dịch hấp dẫn” nhằm gia tăng quyền lực mềm của họ. Khác với các nước phương Tây, các chương trình trợ giúp của Trung Quốc cho châu Phi và Mĩ Latin không chỉ giới hạn trong những mối lo lắng về quyền con người. Người Trung Quốc thích hào phóng. Nhưng mặc cho những cố gắng như thế, Trung Quốc chẳng nhận được bao nhiêu. Những cuộc thăm dò dư luận về ảnh hưởng của Trung Quốc cho thấy họ có ảnh hưởng tích cực ở nhiều nước châu Phi và châu Mĩ Latin, nhưng nói chung là tiêu cực ở Mĩ, châu Âu cũng như ở Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Ngay cả những thành công vang dội của quyền lực mềm, thí dụ như Thế vận hội Bắc Kinh năm 2008, cũng nhanh chóng trở thành tiêu cực. Chẳng bao lâu sau khi những vận động viên cuối cùng ra đi, việc Trung Quốc đàn áp những nhà hoạt động nhân quyền ở trong nước đã làm tiêu mòn quyền lực mềm mà họ vừa thu được. Triển lãm ở Thượng Hải năm 2009 (Shanghai Expo) là một thắng lợi lớn, nhưng ngay sau đó là vụ bỏ tù Lưu Hiểu Ba, người được giải Noble về hòa bình và màn hình trên khắp thế giới chiếu chiếc ghế trống trong lễ trao giải ở Oslo. Có thể Putin hi vọng là quyền lực mềm sẽ được củng cố nhờ Thế vận hội mùa đông ở Sochi, nhưng nếu ông ta tiếp tục đàn áp những người bất đồng chính kiến thì có lẽ ông ta cũng sẽ thất bại.
Trung Quốc và Nga đã lầm khi nghĩ rằng nhà nước là công cụ chủ yếu của quyền lực mềm. Trong thế giới hiện nay, thông tin thì thừa, nhưng chú ý lại thiếu. Mà muốn được người ta chú ý thì phải khả tín. Tuyên truyền của chính phủ thường ít khả tín. Tuyên truyền tốt nhất là không tuyên truyền gì cả. Mặc cho tất cả những nỗ lực nhằm đưa Tân Hoa Xã và Truyền hình trung ương Trung Quốc thành những hãng cạnh tranh với CNN và BBC, chẳng có mấy người chịu xem hoặc nghe những chương trình sặc mùi tuyên truyền như thế. Như tờ Economist nhận xét về Trung Quốc “đảng không hiểu quan điểm của ông Nye rằng quyền lực mềm có xuất xứ chủ yếu từ các cá nhân, từ khu vực tư nhân, và từ xã hội dân sự. Vì vậy mà chính phủ tìm cách quảng bá những thần tượng của nền văn hóa cổ đại, họ nghĩ rằng những hình tượng đó có thể tạo được sức hấp dẫn trên toàn thế giới.” Nhưng quyền lực mềm không hoạt động theo cách ấy. Như ông Pang Zhongying ở trường Đại học Nhân dân (Renmin University) nhận xét, điều đó chứng tỏ “sự nghèo nàn trong tư duy” của các nhà lãnh đạo Trung Quốc.
Sự phát triển của quyền lực mềm không cần phải là một trò chơi có tổng bằng không. Tất cả các nước đều được lợi nếu thấy rằng họ là những nước có sức hấp dẫn lẫn nhau. Nhưng muốn thành công thì trong chính sách, Nga và Trung Quốc phải có lời nói đi đôi với việc làm, phải có thái độ tự phê bình và giải phóng toàn bộ tài năng của những xã hội dân sự của chính họ. Đáng tiếc là chuyện này sẽ không thể xảy ra trong một sớm một chiều.

Joseph S. Nye
Phạm Nguyên Trường dịch
Chia sẻ bài viết này