Thứ Năm, 2 tháng 5, 2013

Mạn đàm văn học:Xuân Diệu và tình yêu


xuandieu

Trong thơ tình thời tình yêu được thăng hoa như lý tưởng nhân sinh, có lẽ khó tìm ra bài nào chan chứa yêu đương bằng bài: Ba lời cảm ơn. Chúng ta thử đọc trọn mười hai câu viết vội trên một mẩu giấy tặng người tri kỷ thì thấy ái tình thực bao la vượt khỏi giới hạn vốn có của ngôn ngữ:

Cảm ơn trời đất thật tài hoa
Đưa hết tình anh với đậm đà
Đem cả bài thơ và khúc nhạc
Sắc trời hương đất tạo em ra.

C
ảm ơn thầy mẹ khéo nhân duyên
Sinh tạc ra em khối diệu huyền
Dáng nét làm cho anh quyến luyến
Sáng ngời đôi mắt khiến anh điên.

L
ắm lúc nhìn em sững mắt anh
Cảm ơn em đã đón anh nhìn
Anh nhìn như thể rơi con mắt
Và cả thời gian cũng đứng im.

Một bài thơ tình thực khéo và thực đậm đà gửi cho người mình yêu dấu. Người trong bài thơ khó ngăn cảm xúc tuôn trào và ai khác đọc mà chẳng cảm động giùm cho kẻ yêu nhau và nhớ tới cuộc tình của mình, mà vì thiếu khả năng ngôn ngữ tài hoa, nay đành nhờ thi nhân thay lời.
Khéo ở chỗ mượn lời cảm ơn để ca tụng người mình yêu, đồng thời để bày tỏ lòng mình trân trọng và sayđắm người tình. Lòng biết ơn bày tỏ theo thứ tự từ cao xuống thấp, trời đất “tạo ra em”, thứ tới cha mẹ sinh thành và cuối cùng là cảm tạ chính thần tượng trước mắt vì “em đã đón anh nhìn”.
Cảm ơn trời và cũng ngỏ lời ca tụng hóa công, hòa hợp sắc trời, hương đất tạo ra một nhan sắc tuyệt trần. Tri ân thầy mẹ đồng thời cũng để ca tụng nhân duyên đẹp đẽ của đấng sinh thành giúp tạo ra một khối diệu huyền khiến người thơ say đắm. Nhưng quan trọng hơn cả là lòng biết ơn chính người mình chiêm ngưỡng vì “nàng” đã đón nhận tình cảm đắm đuối của người thơ. Có người khi đọc bài thơ lại nghĩ đến nhịp ba của một hôn lễ, những phút long trọng và thiêng liêng nhất của một cuộc tình nào là lạy trời, nào là lạy cha mẹ và lúc mặt nhìn mặt hai kẻ bước vào hôn nhân thì vái nhau.
Đọc kỹ mới thấy ba lời cảm ơn thực ra có thể thu vào một lời. Cái khéo ở chỗ dùng nhiều hình ảnh, minh họa cũng như ẩn dụ, nhằm làm nổi bật chân dung người yêu. Ai mà trong tình yêu đam mê như thế? Tình yêu nào mà chất lãng mạn bay bổng tới mức đó?
Nếu biết chân tướng của bài thơ và rõ thi sĩ là ai thì phần đông chúng ta đều ngạc nhiên và phải nhận rằng do cảm xúc, do sức mạnh của vần điệu tạo nên tưởng tượng đã dẫn ta tới sai lầm trong khi thưởng ngoạn văn chương. Bài thơ trên là của Xuân Diệu và không phải gửi cho một cô gái mà tặng một chàng trai. Bài thơ được sáng tác vào năm 1982 ở Mạc tư khoa khi Xuân Diệu gặp một người đồng hương đẹp trai có tên là Đặng Của tuổi đời thua ông gần hai giáp. Tặng một người con trai mà có những lời tha thiết như thế mới thực là kỳ lạ và ai lạc vào thế giới tình yêu của Xuân Diệu với hàng bốn năm trăm bài hẳn bỡ ngỡ với thứ tình trai chưa từng có trong thơ Việt.

Không phải ngày nay người đọc mới rõ tình yêu của Xuân Diệu có nhiều “ngang trái” so với bình thường. Từ lâu có một câu hỏi đặt ra: tình ái dưới ngòi bút của Xuân Diệu là thứ ái tình nào? Cho đến nay nhiều độc giả cứ tưởng đó là tình yêu trai gái mà chúng ta quen gặp trong văn chương lãng mạn Việt Nam tiền bán thế kỷ XX. Không phải chỉ chúng ta lầm mà một phụ nữ có kinh nghiệm như Bạch Diệp cũng lầm nên vào tuổi xấp xỉ 30, đã chấp nhận làm vợ Xuân Diệu, cứ tưởng sẽ được làm vợ “một nhà tình thơ lớn vào bậc nhất” và hy vọng kẻ đa tình sẽ mang cả tâm hồn và thể xác phụng sự mình. Kết cuộc cuộc hôn nhân là một bi-hài kịch. Đôi vợ chồng nằm chưa ấm chiếu và chỉ nửa năm sau đã chia tay. Thì ra Xuân Diệu “yêu rất nhiều” và “tham lam đòi hỏi quá nhiều” nhưng “nhận chẳng bao nhiêu” vì tình yêu của ông dành cho người đồng tính chứ không phải người khác tính.

Trong cuộc đời, từ lúc là thi sĩ lãng mạn có “mái tóc như mây vướng trên đài trán thơ ngây” như Thế Lữ mô tả, được bao người yêu thương, rồi thời cuộc biến thành tha hóa và trở thành cái loa tuyên truyền, Xuân Diệu chỉ có một người bạn đồng hành là Huy Cận.
Trước 1945, cả hai đã gắn bó trong cuộc sống. Xuân Diệu đưa Huy Cận vào tờ Ngày Nay và nuôi Huy Cậnđi học trường canh nông. Huy Cận thành danh, Xuân Diệu bỏ việc làm “đoan” ở Mỹ Tho trở về Hà nội sống với Huy Cận. Rồi Huy Cận lao đầu vào chính trị tìm hai chữ lợi danh, đã kéo theo Xuân Diệu, một kẻ tự nhận “tôi khờ khạo lắm ngu ngơ quá, chỉ biết yêu thôi chẳng hiểu gì”. Tình cảm của hai người là có thực và là tình trai. Chúng ta nếu đã có dịp đọc bài Tình trai của Xuân Diệu gửi Huy Cận thì không thể không đọc bài Ngủ chung mà Huy Cận đã ghi lại cảm giác yêu đương với người tình đầu đời:

Ôi rét! Đêm nay mấy học trò
Ngủ chung giường hẹp, trốn bơ vơ.
- Cô hồn vạn thuở buồn đơn chiếc
Có lẽ đêm nay cũng ngủ nhờ.

Lạnh lùng biết mấy tấm thân xương!
Ân ái xưa kia kiếp ngủ giường,
Đâu nữa tay choàng làm gối ấm;
Còn đâu đôi lứa chuyện canh sương...

Ai đắp mền cho, trải nệm là?
Đêm dày ướt rượi khí tha ma.
Coi chừng cửa mộ quên không khép,
Địa phủ hàn phong lọt cả mà.

Trốn tránh bơ vơ, chạy ngủ lang,
Hồn ơi! Có nhớ giấc trần gian
Nệm là hơi thở, da: chăn ấm,
Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn?

Khổ cuối của bài gợi nhiều hình ảnh tình trai nhất là câu “Xương cọ vào xương bớt nỗi hàn!”
Hàng chục năm sau, trong Hồi ký Song đôi, Huy Cận khi đã “gót danh lợi bùn pha sắc xám, mặt phong trần nắng rám mùi dâu” và vào lúc đã khóc bạn tình “Diệu ơi! Diệu đã về yên tĩnh”, đã thú nhận mối tình trai dưới dạng tình bạn:
“Chúng tôi sống giữa đời như hai anh em sinh đôi, nhưng bản lĩnh và phong cách văn chương thì rất khác nhau, khác nhau và bổ sung cho nhau thành một ‘quả đôi’… Tôi nhớ lại: Một tháng trước khi Diệu mất, một buổi chiều Diệu ngồi trệt giữa phòng nói với tôi: ‘Trong hai đứa mình, đứa nào chết trước là sướng, đứa nào ở lại sau chắc khổ lắm!’ Tôi nghe lặng người đi, không dám nói câu gì. Tôi cảm thấy nỗi đau trong lòng Diệu khi thốt ra câu ấy. Nào ngờ đó là lời trối trăng của Diệu cho tôi. Quả thật sau đám tang của Diệu, liền trong nửa năm, tôi nghe trong người tôi như hẫng đi, và thấy như cuộc đời hư lãng. Và rất nhiều lần Diệu về gặp tôi trong giấc chiêm bao”.
Nhưng không phải Xuân Diệu chỉ “yêu” Huy Cận mà nhà thơ tình của chúng ta tham lam lắm, đã san sẻ tình yêu cho rất nhiều chàng trai.
Trước 1945, Xuân Diệu thích Đinh Hùng vì Đinh Hùng (sinh năm 1920) đẹp trai (từng đóng vai người đẹpVân Muội trong kịch thơ của Vũ Hoàng Chương) nhưng tác giả Mê hồn ca không ưa Xuân Diệu vì nhiều tính xấu như tính tham ăn của nhà thơ đàn anh như ông đã hồi ức trong Đốt lò hương cũ.
Tô Hoài kể lại, trước 1945, tác giả O chuột đã quen biết Xuân Diệu và được Xuân Diệu coi như dàn em thân thiết vì Tô Hoài (sinh năm 1920) có dáng bạch diện thư sinh.
Tô Hoài không thể quên được “ân tình” của tác giả Thơ thơ đối với mình: “Dịu dàng âu yếm, Xuân Diệucầm cổ tay tôi, nắm chặt rồi vuốt lên vuốt xuống. Bốn mắt nhìn nhau đắm đuối, Xuân Diệu gắp thức ăn cho tôi. Cử chỉ thân thiết quá, hơi lạ đối với tôi, nhưng mà tôi cảm động... thỉnh thoảng Xuân Diệu lại lên nhà tôi ở Nghĩa đô (ngoại thành Hà nội). Vẫn nắm tay cả buổi, nhìn nhau tha thiết. Xuân Diệu yêu tôi”.
Chẳng phải Xuân Diệu chỉ yêu Huy Cận hay Tô Hoài mà đúng như ông đã từng ví mình:

Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ
Mà vạn vật là muôn đá nam châm
Nếu hương đêm say giậy với trăng rằm
Sao lại trách người thơ tình lơi lả!

Hình như Xuân Diệu đã bị thu hút bởi tất cả những chàng khỏe mạnh, xinh trai nên khi theo “kháng chiến” lên miền núi rừng phía bắc, ông đã từng bị “kiểm thảo”, “phê bình” tới mức phải khóc chỉ vì tội... đêm đêm tìm tình yêu nơi “đồng chí” đồng tính. Tô Hoài kể lại trong Cát bụi chân ai:
“Chẳng biết đêm hôm ấy có ông kễnh nào bị bàn tay nhung sờ vào rốn không. Cuộc kiểm điểm Xuân Diệukéo dài hai tối. Hồi ấy chưa biết phương pháp chỉnh huấn, nhưng hằng ngày chúng tôi làm việc giờ giấc nghiêm ngặt, mỗi tối lại hội ý rút kinh nghiệm, nêu hướng sửa chữa và trình bày công việc ngày mai của từng người. Cả cơ quan họp đến khuya. Chỉ có ông Phan Khôi lên đồi, màn vẫn mắc sẵn, đi ngủ từ chập tối, bỏ ngoài tai mọi việc.
Xuân Diệu chỉ ngồi khóc. Không biết Nam cao, Nguyễn Huy Tưởng, Trọng Hứa, Tô Sang và mấy thằng nữa, có ai ngủ với Xuân Diệu không, tất nhiên không ai nói ra. Tôi cũng câm như hến... trong đêm tối mình cũng điên kia mà, chứ có phải mình Xuân Diệu đâu. Không nói cụ thể nhưng ai cũng to tiếng, gay gắt nghiêm trang phê phán tư tưởng tư sản, tư tưởng tư sản xấu xa phải chừa đi. Xuân Diệu nức nở nói đấy là tình trai của tôi kia mà…! rồi nghẹn lời, nước mắt ứa ra, không hứa hẹn sửa chữa gì cả. Ít lâu sau, trong một cuộc họp ban chấp hành, Xuân Diệu bị đưa ra khỏi ban thường vụ. Và cũng thành thói quen kéo dài, từ ấy không ai nhắc nhở đến những việc chủ chốt ở ban thường vụ trước kia Xuân Diệu đã phụ trách. Bỗng dưng, Xuân Diệu thành một người có thì giờ chỉ chuyên đi và viết. Mà Xuân Diệu cũng tự xa lánh mọi công tác”.
Dù bị chỉ trích đồng tính luyến ái, Xuân Diệu vẫn là Xuân Diệu. Hễ có dịp nhà thơ vẫn lơi lả trong tình cảm:
“Một đêm thị trấn mời Xuân Diệu nói chuyện thơ. Bọn con trai choai choai kháu khỉnh xúm xít quanh nhà thơ. Tuổi trẻ, trai gái thấy nhau như có điện, dù điện yêu hay điện ghét, điện hút hay điện đẩy đi, thái độ hiện ngay ra con mắt, nụ cười, cái bĩu môi, dáng xóc cổ áo, cái nhổ bãi nước bọt. Đằng này, con gái đi ngang mặt, Xuân Diệu cứ dửng dưng như không, nhưng con trai thì xoắn xuýt vòng trong vòng ngoài. Sáng hôm sau còn đến chơi. Xuân Diệu nhìn dõi vào mắt, nắm cổ tay từng đứa, mân mê như chọn đẵn mía. Các cậu ấy còn đeo ba lô hộ, tiễn chúng tôi một quãng xa”.
Đấy là Xuân Diệu ở đời thường. Còn trong thơ văn thì sao? Nhà thơ không hề giấu giếm tình trai dù vớiHuy Cận và với ai chăng nữa.
Chúng ta thử đọc bài thơ sau đây vào năm 1965 ông gửi cho một thanh niên có tên Hoàng Cát mà ông đã tình cờ gặp gỡ và yêu thương. Bài thơ Em đi như những lời từ biệt muôn vàn tha thiết và đớn đau giữa hai người tình trong cơn binh lửa:

Em đi, để tấm lòng son mãi
Như ánh đèn chong, như ngôi sao
Em đi, một tấm lòng lưu lại
Anh nhớ thương em, lệ muốn trào

Ôi Cát! Hôm vừa tiễn ở ga
Chưa chi ta đã phải chia xa!
Nụ cười em nở, tay em vẫy
Ôi mặt em thương như đóa hoa!

Em hỡi! Đường kia vướng những gì
Mà anh mang nặng bước em đi
Em ơi, anh thấy như anh đứng
Ôm mãi chân em chẳng chịu lìa

Nhưng bóng em đi đã khuất rồi
Đứt lìa khúc ruột của anh thôi!
Tình ta như mối dây muôn dặm

Buộc mãi đôi thân, dẫu cách vời


Em hẹn sau đây sẽ trở về
Sống cùng anh lại những say mê…
Áo chăn em gửi cho anh giữ
Xin gửi cùng em cả hẹn thề

Một tấm lòng em sâu biết bao
Để anh thương mãi biết làm sao!
Em đi xa cách, em ơi Cát
Em chớ buồn, nghe. Anh nhớ, yêu...

Bài thơ làm người ta nhớ tới đoạn chia tay giữa chinh phụ và chinh phu trong Chinh phụ ngâm: “Nhủ rồi tay lại trao liền, bước đi một bước lại vin áo chàng” hay liên tưởng tới Thái Can trong bài Anh biết em đi. Có lẽ còn tình tứ và da diết hơn nữa. Ôi mối tình trai của Xuân Diệu quả thực là độc đáo!
Cũng tội cho nhà thơ mang nặng mối tình trai nên khi nhắm mắt chẳng có cô gái nào tiễn đưa. Người vợ trên danh nghĩa Bạch Diệp chỉ gửi đến viếng thi nhân một vành hoa trắng!
Có thấm thía tình trai của Xuân Diệu, người yêu thơ mới có thể thưởng thức được những vần thơ lãng mạn và trữ tình trong Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Đồng thời, nhờ nhận thức được chân dung đích thực của nhà thơ, chúng ta mới thấy phần lớn những tác phẩm chạy theo thời cuộc của Xuân Diệu sau 1945, kể cả tác phẩm Ngôi Sao được một giải thưởng văn học gây nhiều tranh luận vào năm 1956, chỉ khởi từ nguồn hư cấu, giả tạo và tẻ nhạt.

Hoàng Yên Lưu




Lính Mỹ Dạy Việt Minh 1945: Ông Hồ Tặng Gái, Thuốc Sex; Báo New York Times Tiết Lộ Bí Mật Của Những Người CS Dùng Người

WASHINGTON (VB) -- Ông Hồ Chí Minh đã từng đề nghị cung ứng đàn bà đẹp Việt Nam và thuốc kích dâm cho các lính Mỹ trong đơn vị gián điệp đang huấn luyện các đơn vị quân sự Việt Minh đầu tiên.


Bản tin này đăng trên báo New York Times ngày 24-4-2013 ở trang A-17 với tưạ đề “Henry Prunier, 91, Dies; Was Part of U.S. Mission To Train the Viet Minh” (Henry Prunier, 91 tuổi, Chết; Ðã Tham Dự Nhóm Công Tác Mỹ Huấn Luyện Việt Minh).

Henry Prunier đã dạy cho Tướng Võ Nguey6n Giáp cac1h ném lựu đạn.


Lúc đó là tháng 7-1945, sau khi Prunier và 6 lính Mỹ khác nhảy dù xuống một ngôi làng cac1h Hà Nội 75 dặm phía Tây Bắc trong công tác bí mật để huấn luyện một lực lượng thiện chiến gồm 200  du kích Việt Nam về cách sử dụng vũ khí Mỹ để chống lại quân Nhật, lúc đó Nhật đang chiếm Ðông Dương.


Các lính Mỹ này là thành viên của Office of Strategic Services (OSS), Sở Tình Báo Mỹ thời Thế Chiến 2, muốn nhờ du kích giúp chống lại Nhật.


Prunier sinh ở Worcester ngày 9 tháng 10-1921, học ở Ðại Học Assumption College nơi hầu hết các lớp dạy bằng Pháp ngữ, nhưng sau 3 năm thì đăng lính vào Bộ Binh. Thấy giỏi ngoaị ngữ, Bộ Binh đưa Prunier vào học tiếng việt ở UC Berkeley, nơi đây Sở OSS tới mời ông và 2 bạn học tham dự chiến dịch nhaỷ toán Ðông Dương, nói thẳng với rủi ro 50% là sẽ chết; tất cả đều từ chối.


Prunier được gửi tới trường mật mã và dự kiến vào một sư đoàn Bộ Binh để sang Pháp chiến đấu.


Nhưng đêm trước khi xuống tàu sang Pháp, ông được lệnh về Washington để vào toán OSS cho công tác đặc biệt, tên mật mã của nhóm là Deer Team (Toán Con Nai).


Năm 1995, Prunier có tới thăm Hà Nội, họp mặt với các chiến binh Việt Minh ông từng giúp. Nhận ra ông, Tướng Võ Nguyên Giáp cầm một trái cam và ra vẻ như ném lưụ đạn theo kỹ thuật Prunier đã dạy cho ông. Tướng Giáp nói, “Ðúng,  đúng thế.”


Ðặc biệt, Prunier kể lại, rằng trong khi nhóm lính Mỹ huấn luyện Việt Minh, ông Hồ Chí Minh đề nghị cung ứng đàn bà đẹp Việt Nam và thuốc kích dục Ðông y, nhưng nhóm lính OSS từ chối vì quân lệnh cấm.


Tuy nhiên, Prunier chấp nhận quà tặng từ ông Hồ là một tấm thảm dệt và sau đó ông đưa về treo ở tường nhà.

Cải chánh quy tà


hoangduyhungNước nào bị hiểm họa Cộng Sản, nước đó dân nghèo, nước hèn. Việt Nam sau 1985 đã “đổi mới” chạy theo tư bản, thế nhưng gần ba chục năm, coi bộ cũng không khá. Năm nào các cha (linh mục) cũng ra hải ngoại,  xin tiền về chữa bịnh cho trẻ em nghèo, trên TV lời năn nỉ “chỉ cần 2 dollars, gởi về VN, quý vị có thể cứu đói, giúp cho cho các cụ già ăn được một tuần” vv…
Đã có lắm chuyện thương tâm, như: Người mẹ Nguyễn Thị Mỹ Nhân, mới 48 tuổi, chấp nhận lấy cái chết, hy sinh để con cái mình được ăn học, (bài của Huỳnh Khánh Vy). Hay các cháu nhỏ ở bản Là Si ” thường vang lên những tiếng khóc não nề của trẻ nhỏ. Thiếu uý Nhâm giải thích bọn trẻ đói quá nên quấy khóc đấy! Còn thầy Sừng Phì Che thì nói: “Trẻ em ở đây có cháo loãng ăn là tốt lắm rồi. Gạo đấy là Nhà nước cứu đói, hết gạo thì ăn sắn nương. Hết sắn, có những đứa trẻ mới 6 tuổi đã phải cầm cuốc, thuổng vào rừng đào củ nâu, củ mài về nướng. Tìm không thấy củ nâu, củ mài thì ăn thân cây, dễ cây rừng, miễn sao có cái bỏ bụng để sống“. (Nông Nghiệp Việt Nam)
Cảnh dân nghèo lầm than, sau gần 40 năm “hòa bình thống nhất” muôn trùng, lớp lớp.
Hèn: Mấy ngày gần đây CSVN không biết nhục, đăng nhan nhản những bài ca ngợi:”Bộ đội giải phóng Hoàng Trường Sa” do lính “ngụy” chiếm đóng! đảng CSVN, toàn dân VN, kể cả thế giới đều biết, Hoàng Trường Sa thuộc “ngụy” chiếm đóng, suốt từ 1954 – 1975 chưa hề có bất cứ quân thù nào, dám bắt bớ, rượt đuổi ngư dân, chưa khi nào dám tịch thu tàu thuyền bắt phải chuộc, suốt hai mươi mốt năm “ngụy” trấn giữ, chưa hề có một ngư dân nào bị Trung Cộng bợp tai đá đít, bị đánh đập. Sau khi “giải phóng” ngư dân bị chà đạp bằng những hình thức nói trên, dẫn đến sạt nghiệp, đảng CS cúi đầu muối mặt, mặc cho Tàu Cộng hoành hành biển Đông.
Nước hèn, dân mạt. Nhưng đảng CSVN rất “anh hùng ” đối với dân, muốn tịch thu đất, ruộng, nghĩa trang, không ai dám chống lại, những cuộc biểu tình chống quân Tàu Cộng xâm lược, đảng ra sức triệt hạ. Đảng lại rất giàu có, giàu trên cả đại gia, giàu từ cá nhân tới qũy đen của đảng. Vì thế nhiều lúc tình thế đe dọa sự sống còn, đảng bỏ tiền mua vài cái miệng cu mồi ở hải ngoại, đem về trong nước gáy cho nó lạ tai, cái miệng của Hoàng Duy Hùng:
Khỏi cần lặp lại những lời ton hót, bợ đỡ của Hoàng Duy Hùng, cũng không cần nhìn lại hình ảnh HDH bá vai, chầu rìa những quan chức CS, vì đó là những tiếng cu mồi, đã lạc và khàn giọng, HDH mang về quê vài hào quang của bản thân như: Luật Sư, Nghị Viên, và “nhà chống cộng”
Luật Sư: HDH mở văn phòng, bị vì qúa “yêu nước” anh ta đi cà nghêu, cà ngỗng, khi thì kêu gọi góp tiền cho anh đặt bôm, bôm đặt không được, anh trả tiền lại, khi thì anh đã phá Việt Tân kịch liệt, lúc khác anh lại ngợi ca Việt Tân, do đó văn phòng LS ế ẩm, khách thuộc diện vãng lai, chủ yếu đến “thăm quan” chơi, chứ ủy thác cho anh một vụ kiện, hình như hiếm lắm.
Nghị Viên: Ở thị trấn Clarkston, tiểu bang Georgia, có anh bạn đồng hương NĐH, anh ta hiền lành, làm nghề bán bảo hiểm, công việc tương đối rảnh, anh ra ứng cử Nghị Viên, đậu với số phiếu 144 cử tri tín nhiệm, làm tôi liên tưởng tới mấy anh Thượng thiểu số: Đinh Ro, Đinh Rủi ở quê tôi: Tý Sé, Dùi Chiêng, Hiên Giằng, cũng đắc cử hội đồng nhân dân xã, nhưng phiếu tín nhiệm cao hơn cả mấy chục ngàn lận, Nghị Viên HDH chắc cũng “xêm xêm” Đinh Ro, Đinh Rủi, chớ gì!? Giá như HDH có quy tà theo đảng, như theo voi ăn bã mía, thì còn khuya dân ở “khu vực F” mới chịu theo Việt Cộng, về danh xưng Chủ tịch Cộng Đồng người Việt Quốc gia Houston và Phụ cận, tôi tin rằng, một là ông đã hết nhiệm kỳ, hoặc là đồng hương sẽ khai trừ ông nay mai, nếu đương nhiệm.
Nhà chống Cộng HDH với tổ chức gọi là “Phong trào quốc dân Việt Nam hành động”, thực chất chỉ là cái thây thối, trong thời kỳ qúa độ phân hủy, tại Georgia, HDH bắt cậu vợ làm trưởng cơ sở, từ năm 1999 đến nay, không hề có thêm một thành viên, HDH nói tổ chức đại hội để lấy ý kiến, từ bỏ con đường chống cộng, quay qua đối thoại là bịa đặt, bịa trắng trợn, vô liêm si.
HDH còn một chức danh rất to lớn và rất danh dự, bản thân anh quên, nhưng tôi nhớ, nhắc để chuyến về lần sau, anh khai luôn cho nó oai, đó là chức:
Chủ tịch hội Văn Bút, tiểu bang Georgia.
Năm 2000, tôi (người viết bài này) phục vụ trong BCH hội đồng hương Quảng Nam, chúng tôi đến thăm gia đình một đồng hương, có người thân đau nặng. Khi bước vào nhà, thấy đã đông khách, mới đầu tưởng anh em thăm bịnh như mình, sau chừng hai chục phút, mới hay rằng cả thảy bảy người, ngồi quanh một bàn tròn, đang họp để thành lập hội Văn Bút Georgia! Trong bảy người, có Hoàng Duy Hùng, có ông chủ nhà chúng tôi đến thăm, và năm người khác. Ngoại trừ hai người trong đám “văn bút,” có làm lạch quạch vài bài thơ, còn lại chưa hề viết lách, cũng có khi chưa đọc văn, thơ không chừng! Hội Văn Bút Georgia ra đời trong hoàng cảnh này, và HDH cũng được “bầu” làm chủ tịch HVBGA từ đó, suốt 13 năm trời hội chưa hề hoạt động, HDH trên danh nghĩa vẫn là chủ tịch hội VBGA! Đúng là một tổ chức, có cũng như không, không cũng như có, như một lũ ma xó. Một tuần sau bà vợ ông chủ nhà qua đời, chúng tôi tới phúng điếu. Lúc tiếp khách, ông ta nhắc lại sự kiện ra đời HVBGA, với chủ tịch HDH, tôi nói chú không nên như vậy, vì chú và nhiều người trong hội Văn Bút chưa hề viết lách, HDH từ Texas tới đây làm chủ tịch là điều trái nghịch, người có lý trí không ai làm như vậy, ông chủ nhà, chủ tang lễ chống chế: Tôi thương HDH, người có tâm chống Cộng và muốn giúp nó, tôi tiếp: Giúp chống Cộng, đồng ý, nhưng cần phải danh chính, ngôn thuận, tổ chức của chú mà ra đời, đồng hương sẽ cho là “ruồi bu cu ngựa”, chú để đó mà xem, hơn nữa HDH là loại người hữu thủy vô chung, theo tổ chức nào rồi cũng quay qua đánh phá chính tổ chức đó. HDH chỉ là một tên hám danh vô tích sự, HVBGA đã chết chưa kịp khai sinh, nhưng HDH vẫn là chủ tịch từ năm 2000 đến năm 4013! (bốn ngàn không trăm mười ba).
Tôi đã đọc bài: Ông Hoàng Duy Hùng dùng lập luận để chối bỏ vai trò là tuyên truyền viên cộng sản!  Của tác giả Thất Lĩnh, đăng trên DLB, tôi rất thán phục lối lập luận vững chắc và trong sáng của tác giả, điều mừng nhất là “Thất Lĩnh gọi HDH bằng chú” chứng tỏ thế hệ trẻ đầy chính khí, hào hùng, rất trưởng thành trong chính trị, đất nước có được mùa xuân hay không, hoàn toàn trông cậy nơi các bạn.
Từ bao thập kỷ qua, người dân Việt đã chịu qúa nhiều khổ đau, dưới hiểm họa Cộng Sản, gần đây những diễn tiến trong nước, cho chúng ta nhiều hy vọng xích xiềng đỏ sắp được bứt tung, hay ít ra bọn CSVN đã đến lúc vào ngõ cụt, đường cùng, HDH một con người từng đi con đường sáng đấu tranh cho: Tự Do – Dân Chủ – Nhân Quyền, cho quê hương, từ con đường sáng chính nghĩa, anh đã quy tà theo ton hót đám tạo ra tai ách cho lương dân. Biết rằng tiếng hót của con cu mồi, có tên Hoàng Duy Hùng, không mồi chài được ai, không vì thế mà củng cố được niềm tin của đồng bào với chính quyền, đảng CSVN, bởi niềm tin đã xoạc như đê vỡ.
Đảng CSVN qúa “đói” cu mồi mới tìm đến HDH. Công cuộc đấu tranh, giải thể một chế độ độc tài, phải dài lâu, có khi phải đi từ thế hệ này tới thế hệ khác, còn độc tài còn tranh đấu. Đường tranh đấu phải gian khổ, có khi rã rời chán chường, nhưng không bao giờ vì thế uốn lưỡi nói láo, nói ngược như Hoàng Duy Hùng, một trăm, hay một ngàn con cu mồi chẳng hại được ai, song sống trên đời làm kẻ phản phúc, chỉ rước lấy sự khinh bỉ. Trong chúng ta, ai cũng biết mẹ Vương Lăng, mẹ Từ Thứ (VL qua bài thơ của Vua Lê Thánh Tông). Biết để tự răn mình, gìn giữ nề nếp nhân cách một con người có giáo dục gia đình. Trên xứ Mỹ HDH được hưởng một nên giáo dục tốt về mặt chuyên nghiệp, (Luật Sư) song bị khiếm khuyết mặt giáo dục gia đình, nên mới phản trắc như ngày hôm nay.
Có những con người, nhưng hiện thân loài bồ câu, thích chạy theo thóc gạo. Chúng ta viết về những thói hư, tật xấu của người khác (HDH) để tự răn mình, cùng anh em nguyện đi trọn vẹn trên đường: Vì dân tộc dấn thân.
(Đây là bài Cải chánh quy tà 2, bài 1 đã viết khi có 1 người về hùa với VC, nay ông ta đã mãn phần).
© Ông Bút