Thứ Bảy, 4 tháng 5, 2013

Trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?


Nguyễn Gia Kiểng
Chia sẻ bài viết này
“... Chế độ toàn trị sẽ cáo chung và sắp cáo chung. Việt Nam sẽ là một nước dân chủ đa nguyên với quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam. Không thể khác...”
Nhiều nguồn tin cho thấy là đang có dự định bỏ tên nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam để trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp cũng đã ghi nhận đề nghị này như một trong những vấn đề để biểu quyết với nhận xét thuận lợi. Nếu đúng như thế thì chỉ là thay thế một sai lầm bằng một sai lầm lớn hơn.
Bỏ quốc hiệu CHXHCNVN là việc phải làm bởi vì nó loại trừ những người không tán thành chủ nghĩa xã hội, nghĩa là gần như tất cả mọi người Việt Nam hiện nay. Nó là một thách đố xấc xược đối với dân tộc Việt Nam. Hơn nữa chủ nghĩa xã hội, hay chủ nghĩa Mác – Lênin, đã bị thế giới vất bỏ như một chủ nghĩa tội ác. Trên thế giới hiện nay Việt Nam là nước duy nhất còn tự xưng là "cộng hòa xã hội chủ nghĩa" (1).
Tuy vậy, trở lại với quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chọn lựa khó tưởng tượng.
Cụm từ "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" trước hết là một sai phạm về ngữ pháp ở thời điểm 1945 khi ảnh hưởng của tiếng Trung Quốc trên tiếng Việt còn quá nặng. Ngày nay cách viết tiếng Việt như vậy là sai, cũng sai như nếu viết "Đức Dân Chủ Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Dân Chủ Đức hay "Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa Cộng Hòa" thay vì Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, điều mà chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng đã nhận ra từ lâu rồi. Cụm từ sai ngữ pháp này là do ông Hồ Chí Minh ở nước ngoài quá lâu nên không còn nắm vững tiếng Việt, cũng như như hai tiếng "đả đảo", có nghĩa là "đánh đổ", chưa từng có trong ngôn ngữ Việt Nam mà ông du nhập từ Trung Quốc cùng một lúc. Duy trì một sai lầm ngữ pháp ngay trong quốc hiệu không khác quệt một vết nhọ trên mặt.
Hơn nữa những thuật ngữ "dân chủ cộng hòa", "cộng hòa dân chủ", "cộng hòa nhân dân" cũng có nghĩa chính trị rõ rệt của chúng. Đó là những thuật ngữ đồng nghĩa được Liên Xô chế tạo ra dưới thời Stalin để chỉ các chế độ cộng sản hoặc thân cộng, để chống lại cái mà họ gọi là "dân chủ tư bản", nghĩa là dân chủ như cả thế giới chấp nhận hiện nay và chúng ta cũng đang muốn tiến tới. Dùng quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là phủ nhận dân chủ ngay trong tên nước. Về nghĩa chính trị "dân chủ cộng hòa" và "xã hội chủ nghĩa" chỉ là một. Điều này cả thế giới biết. Sự kiện một số trí thức dân chủ, điển hình là nhóm Kiến Nghị 72, đề nghị trở lại quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một điều rất đáng tiếc.
Nghiêm trọng hơn, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là quốc hiệu của một chế độ hung bạo đã phạm nhiều tội ác lớn.
Ngay sau Cách Mạng Tháng 8, nó đã tàn sát thẳng tay hàng trăm nghìn người yêu nước trong các đảng phái không cộng sản, gây đổ vỡ lớn trong dân tộc và khiến cuộc đấu tranh giành độc lập trở thành nhiều lần khó khăn và đẫm máu hơn vì bị đồng hóa với cuộc đấu tranh áp đặt chủ nghĩa Mác-Lênin. Rất nhiều người tham gia mặt trận Việt Minh đã phải quay lưng lại với nó vì tính mạng của họ bị đe dọa và chủ nghĩa đã được đặt lên trên lợi ích dân tộc. Những năm đầu của giai đoạn kháng chiến 1945 – 1954 đã là những năm kinh hoàng. Khẩu hiệu lúc đó "giết nhầm còn hơn tha nhầm". Người ta có thể bị giết vì bị tình nghi là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng hay Đại Việt và người ta cũng có thể bị giết chỉ vì trong người có cái gương nhỏ để chải đầu hay có miếng vải mầu xanh hay mầu đỏ vì bị kết tội là làm dấu hiệu cho máy bay hay mang cờ Pháp. Không có mục tiêu nào dù cao cả đến đâu có thể biện hộ cho những tội ác này, huống chi đây là cuộc chiến tranh đáng lẽ không có, hay dù có cũng dễ dàng và nhanh chóng hơn nhiều, nếu chủ nghĩa Mác – Lênin không được đặt cao hơn tổ quốc. Ngày nay nhiều vị cách mạng lão thành biện luận rằng họ đã chỉ đi theo kháng chiến vì độc lập dân tộc. Họ có thể thành thực nhưng đó không phải là lập trường của những người lãnh đạo cộng sản, nghĩa là những người quyết định tất cả.
Ngay sau Hiệp Định Genève là cuộc tàn sát những người bị coi là thuộc thành phần địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất. Họ bị giết không phải vì đã làm gì bị coi là có tội mà chỉ vì bị xếp loại là thuộc thành phần địa chủ. Ai có thể quên được câu "thơ" Tố Hữu "giết, giết nữa, bàn tay không chút nghỉ"? Theo cuốn "Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam" do Viện Kinh Tế Việt Nam xuất bản năm 2009 con số nạn nhân bị thảm sát được ghi nhận là 172.008 người. Một con số kinh khủng. Theo định nghĩa của công pháp quốc tế đây là một tội ác lớn đối với loài người.
Rồi đến chiến dịch đàn áp trí thức văn nghệ sĩ, điển hình là vụ Nhân Văn – Giai Phẩm, để dập tắt mọi tư duy độc lập, kiểm soát đến cả miếng ăn manh áo để thực hiện theo nghĩa đen và tuyệt đối chế độ toàn trị. Đặng Phúc Lai (1934 – 2003) là một nhà nghiên cứu toán và triết. Ông vừa 20 tuổi năm 1954 khi đất nước bị chia cắt. Ông chọn ở lại miền Bắc thay vì theo gia đình vào Nam vì cảm tình với Việt Minh và lãnh tụ Hồ Chí Minh. Khi sang Paris để trị bệnh ung thư năm 2002 ông kể là đã bị giam giữ suốt 13 năm chỉ vì bị tình nghi là chống Đảng. Nhà văn Trần Hoài Dương (1943 – 2011) mà tôi gặp tại London kể lại cho tôi nghe chuyện anh tới thăm nhà thơ Trần Dần. Trần Dần đang ngồi uống "nước trà không có trà", nghĩa là nước sôi rót vào bình trà dù không có trà để cố tưởng tượng hương vị trà, thì bà vợ đi buôn chợ trời về báo tin mất mấy đôi dép. Hôm đó là ngày 01-9. Trần Dần hỏi vợ đã treo cờ trước cửa nhà chưa vì ngày mai là lễ quốc khánh. Khi vợ trả lời là chưa treo thì ông la lên: "Treo ngay đi! Nhà ai quên thì còn được chứ nhà mình mà quên treo cờ thì khổ lắm". Người ta cũng chưa quên câu nói của Nguyễn Tuân: "Tao mà còn sống được là nhờ biết sợ". Và hai câu thơ nổi tiếng trong giới trí thức văn nghệ sĩ: " bắt phanh trần phải phanh trần, cho may ô mới được phần may ô". Người ta cùng khổ và uất ức nhưng vẫn phải nói dối là rất sung sướng, rất hân hoan, rất phấn khởi hồ hởi. Ai còn muốn sống lại giai đoạn này?
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là một chế độ khủng bố. Khủng bố để áp đặt cuộc nội chiến Nam - Bắc 1960 – 1975 kéo dài 15 năm làm đất nước tan hoang và sáu triệu người chết và tàn phế. Một trong những cái giá phải trả để theo đuổi cuộc chiến thảm khốc này là phải tôn sùng "anh cả Liên Xô và anh hai Trung Quốc". Đó là chế độ đã ký công hàm 14/9/1958 nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa và đã im lặng khi Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Đó cũng là chế độ sau tháng 4-1975 đã ngạo nghễ thi hành chính sách cướp bóc trắng trợn, hạ nhục và bỏ tù tập thể đối với miền Nam, cùng với vô số biện pháp phân biệt đối xử khác, làm tan vỡ tình nghĩa dân tộc. Cũng chính nó, do một sự mê muội khó tưởng tượng, đã chọn tự hóa thân thành CHXHCNVN để rập khuôn theo Liên Xô vào lúc mà đế quốc này sắp sụp đổ. Sự xấc xược tàn bạo đã đi tay trong tay với sự mù quáng.
Người ta còn có thể nhắc lại nhiều điều khác, như chính sách hợp tác xã dẫn cả miền Bắc tới sự đói khổ cùng cực.
Có mọi lý do để quên đi chế độ Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa. Trở lại với quốc hiệu VNDCCH là trở lại với quốc hiệu của một trong hai phe nội chiến, với những tội ác và những sai lầm kinh khủng, và ngoáy dao vào những vết thương vẫn còn rướm máu trong lòng dân tộc. Thật khó tưởng tượng có thể còn có những người đề nghị như vậy. Không những thế nó còn là chọn lựa bất lợi cho mọi người. Đối với đảng cộng sản đó là sự thú nhận rằng giai đoạn 37 năm của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã là một sự lầm lạc, nhưng nó cũng không có giá trị của một sự sửa sai mà chỉ là sự trở lại với một chọn lựa còn độc hại hơn và chứng tỏ đảng cộng sản hoàn toàn không hối hận. Đối với nhân dân Việt Nam nó nhắc nhở một giai đoạn của đói khổ, giết chóc, thù hận, dối trá và độc ác. Xét cho cùng giai đoạn Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam không tệ hại bằng giai đoạn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Nhưng thực tế là đã có nhiều người đưa ra đề nghị này trong đó có cả những trí thức muốn đổi mới. Và họ đều có cùng một lập luận. Các trí thức đưa ra đề nghị này cũng như Ủy Ban Sửa Đổi Hiến Pháp đều viện dẫn lý do Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là chế độ do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập. Hình như sự kiện "do chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập" tự nó đủ để bảo đảm sự đúng đắn của đề nghị. Trên nhiều vấn đề khác cũng thế, người ta viện dẫn "chủ tịch Hồ Chí Minh" như là một bảo đảm cho lập luận của mình.
Đã đến lúc phải nói chuyện thẳng thắn với nhau.
Đảng Cộng Sản Việt Nam và chế độ cộng sản Việt Nam đặt nền tảng trên ba huyền thoại : 1/ lý tưởng cộng sản; 2/ thành tích chiến đấu thắng Pháp, thắng Mỹ đem lại độc lập và thống nhất đất nước; và 3/ thần tượng Hồ Chí Minh, một nhà tư tưởng lớn, một nhà chính trị lỗi lạc, một mẫu mực về đạo đức, đồng thời cũng là một người giản dị, khắc khổ chỉ sống cho đất nước. Ngày nay lý tưởng cộng sản không những đã sụp đổ mà còn bị lố bịch hóa và lên án; các cuộc chiến chống Pháp, chống Mỹ ngày càng bị đánh giá là không cần thiết, thậm chí có hại cho đất nước, vả lại đàng nào cũng quá xưa rồi và không liên quan gì với những người lãnh đạo hiện nay. Còn lại thần tượng Hồ Chí Minh, bùa hộ mạng cuối cùng của chế độ. Chính vì thế mà chế độ đánh bóng ông, tô điểm ông và bảo vệ ông. Bộ luật hình sự coi việc xúc phạm lãnh tụ (diễn nghĩa: đả kích Hồ Chí Minh) là một tội nặng. Và người ta đã gán ghép cho Hồ Chí Minh những đức tính mà ông không hề có. Đối với giới trí thức phản biện Hồ Chí Minh cũng là một lá bùa hộ mệnh. Đề cao ông chứng tỏ mình không phải là kẻ thù của chế độ, chỉ muốn cải tiến; phê phán những người lãnh đạo là không làm theo đúng lời dạy của Bác Hồ vừa tương đối an toàn vừa dễ lọt tai khối đảng viên cơ sở đã được nhồi sọ để tôn thờ lãnh tụ. Dần dần sự sợ hãi -sợ bị đi tù, sợ mất quyền lợi hay sợ mất lòng khối đảng viên cơ sở- được coi như một sự sáng suốt thay vì một sự nhút nhát. Một người bạn trong nước nói với tôi một cách tự nhiên: "Nói gì thì nói nhưng không nên đụng tới ông Hồ Chí Minh". Tại sao không? Thóa mạ và bôi nhọ một người đã chết thì dứt khoát là không nên rồi nhưng sự thực thì vẫn có thể nói và không những thế còn có bổn phận phải nói ra để tránh cho quần chúng khỏi là nạn nhân của những xuyên tạc bịp bợm.
Huyền thoại Hồ Chí Minh chỉ là một sự dàn dựng dối trá. Ông chỉ học tới lớp 7 rồi bỏ học sinh sống bằng những nghề lặt vặt như phụ bếp và tô ảnh. Không có bằng chứng nào là ông đã cố gắng tự học. Ông tuyệt đối không có kiến thức nào về khoa học, kỹ thuật, luật pháp, kinh tế, tài chính v.v. nói chung là những kiến thức tối cần thiết cho một người lãnh đạo. Và ngay cả về nông nghiệp. Trong cuốn sách "Mấy kinh nghiệm Trung Quốc cần phải học" mà ông viết dưới bút hiệu Trần Lực (nhà xuất bản Sự Thật, 1958, tr. 41), ông tin và kêu gọi mọi người tin là một mẫu ruộng tại Trung Quốc có thể đạt được năng suất 333 (ba trăm ba mươi ba) tấn lúa mỗi năm. Ông cũng không phải là người có đạo đức. Ông bỏ rơi bà vợ Trung Quốc Tăng Tuyết Minh, ra lệnh giết hoặc chấp nhận để người ta giết cô Nông Thị Xuân, người phụ nữ trẻ đã có con với ông và bỏ rơi luôn đứa con để giữ hình ảnh giả dối của một người cha già dân tộc giản dị khắc khổ chỉ biết sống cho đất nước. Ông đã để mặc cho bà Nguyễn Thị Năm bị giết oan về tội "địa chủ gian ác" mặc dù biết rõ bà Năm không những vô tội mà còn có công với Việt Minh.
Và ông phải chịu trách nhiệm chính về hai tội ác lớn nhất tại nước ta trong thế kỷ 20: tội tàn sát những người yêu nước không cộng sản sau Cách Mạng Tháng 8 và tội tàn sát địa chủ trong đợt Cải Cách Ruộng Đất 1955. Không gì có thể biện hộ cho ông vì lúc đó ông thực sự cầm quyền và hơn nữa có toàn quyền.
Thành tích quan trọng nhất không ai chối cãi của Hồ Chí Minh là đã du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam nhưng đây chỉ là một tai họa cho nước ta và tố giác sự thiếu văn hóa và tầm nhìn của Hồ Chí Minh vì lúc đó chủ nghĩa Marx đã bị bác bỏ trên chính quê hương của Marx từ 70 năm rồi (2).
Tất cả các trí thức trong nước mà tôi có dịp tiếp xúc đều biết khá rõ về Hồ Chí Minh và chẳng ai thực sự kính trọng ông. Trong chuyện trò riêng tư họ đều đánh giá ông là một người thiếu cả văn hoá và tầm nhìn lẫn đạo đức và tình cảm. Tất cả đều cho rằng về kiến thức cũng như đạo đức Hồ Chí Minh rất dưới mức trung bình. Tuy vậy trong những gì viết và nói công khai họ vẫn tỏ ra tôn kính ông. Nhiều người còn cho đó là một chiến lược khôn ngoan để đấu tranh cho dân chủ. Tôi chưa bao giờ tán thành quan điểm này. Đó chỉ là nói dối với chính mình đồng thời đóng góp lừa dối người khác và sự nói dối nào cũng đáng xấu hổ. Khối đảng viên cơ sở bị tuyên truyền nhồi sọ về thần tượng Hồ Chí Minh cần được soi sáng thay vì được củng cố trong niềm tin sai. Thảm kịch của đất nước, hàng trăm ngàn nạn nhân vô tội bị sát hại và hàng triệu nạn nhân của cuộc nội chiến buộc ta phải nói lên sự thực. Im lặng đã là có tội, hùa theo sự dối trá càng có tội hơn. Tôi không thích nói về Hồ Chí Minh vì đó là công việc của các sử gia, vả lại những sự thực về ông đã được nhiều người phơi bày. Ông đã thuộc về quá khứ và nên được để yên trong quá khứ. Tôi miễn cưỡng nói về ông vì lần này huyền thoại Hồ Chí Minh đang được sử dụng để vận động cho một đề nghị quốc hiệu mà nếu được chấp nhận sẽ là một bước lùi cho tiến trình dân chủ hóa và sẽ chia rẽ dân tộc một cách trầm trọng vào giữa lúc chúng ta đang cần hòa giải dân tộc để cùng hướng về một tương lai chung. Bình sinh ông Hồ Chí Minh đã gây nhiều đổ vỡ, không nên để ký ức ngụy tạo của ông lôi kéo đất nước vào bế tắc một lần nữa. Nhiều trí thức cũng cần nghĩ lại để đừng rơi vào cái bẫy của chính mình. Họ muốn sử dụng biểu tượng Hồ Chí Minh như một vũ khí giai đoạn để thay đổi chế độ nhưng vô tình họ cũng đóng góp củng cố chế độ vì huyền thoại Hồ Chí Minh chính là chỗ dựa còn lại của chế độ.
Trong một cái nhìn sáng suốt về tương lai Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu đúng nhất. Cộng hòa theo từ nguyên Hy Lạp res publicae của nó có nghĩa là "của toàn dân". Các nước có ảnh hưởng Hán văn dịch ra là "dân quốc" hoặc "cộng hòa". Bên hữu thích dân quốc và bên tả thích cộng hòa; hai danh từ này có cùng một nghĩa. Đài Loan là Trung Hoa Dân Quốc và Nam Cao Ly là Đại Hàn Dân Quốc trong khi Hoa Lục, Bắc Cao Ly và Việt Nam tự xưng là những nước cộng hòa. Trường hợp miền Nam Việt Nam trước đây, với quốc hiệu Việt Nam Cộng Hòa (cũng sai ngữ pháp như Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa), là một ngoại lệ. Ngày nay danh từ "cộng hòa" đã trở thành thông dụng.
Quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam không chuyên chở một thiên kiến chính trị hay ý thức hệ nào mà chỉ có nghĩa là đất nước của mọi người Việt Nam, không loại trừ một ai. Đất nước là tài sản chung, trách nhiệm chung và tương lai chung. Cộng Hòa Việt Nam là quốc hiệu của hòa giải dân tộc, xác nhận chỗ đứng và tiếng nói ngang nhau cho mọi người Việt Nam. Đó chắc chắn sẽ là quốc hiệu của Việt Nam trong tương lai ngay cả nếu đảng cộng sản từ chối trong lúc này. Chế độ toàn trị sẽ cáo chung và sắp cáo chung. Việt Nam sẽ là một nước dân chủ đa nguyên với quốc hiệu Cộng Hòa Việt Nam. Không thể khác.
Nếu sáng suốt thì chính Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng nên chọn quốc hiệu này ngay từ bây giờ. Họ sẽ tiết kiệm thời giờ cho một chính quyền dân chủ sau này, đồng thời để lại một di sản được gìn giữ và trân trọng, thay vì chỉ được nhớ đến cùng với những sai lầm và tội ác.
Nguyễn Gia Kiểng
(05/2013)
(1) Còn một nước có quốc hiệu gần như thế: Cộng Hoà Dân Chủ và Xã Hội Chủ Nghĩa Sri Lanka. Nhưng đây là một nước nhỏ và bị coi như một "đất nước không thành" (failed state) vì tụt hậu, nghèo đói và nội chiến.
(2) Tại đại hội Gotha, tháng 5-1875, phong trào xã hội Đức (do sự thống nhất của Tổng Hội Công Nhân và Đảng Lao Động Dân Chủ Xã Hội), xương sống của phong trào cộng sản Châu Âu lúc đó, đã bác bỏ chủ nghĩa Marx và chọn đường lối cải tổ ôn hòa. Marx và Engels đã trả đũa bằng cách viết cuốn Phản bác cương lĩnh Gotha, nhưng cuốn sách này không được hoan nghênh vì những lý luận và dự đoán của Marx đã bị thực tế chứng minh là sai.

Đất, khát vọng và nghịch lý



Khát vọng của ai? Khát vọng của người nông dân, và vì vậy cũng là khát vọng của cả dân tộc từng dựng nước, mở nước trên một bán đảo của miền nhiệt đới gió mùa với nghề trồng lúa. "Cấy cày vốn nghiệp nông gia"[ca dao], những người "côi cút làm ăn toan lo nghèo khó... Chỉ biết ruộng trâu, ở theo làng họ. [Nguyễn Đình Chiểu. "Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc"]. Nông gia, nông dân cũng là dân tộc đấy thôi. Liệu có người Việt nào không có gốc gác từ làng quê hoặc có mối liên hệ giây mơ rễ má với cái lũy tre làng quen thuộc? “ Trên đồng cạn, dưới đồng sâu, Chồng cày vợ cấy, con trâu đi bừa” là hình ảnh tiêu biểu của khung cảnh xã hội Việt Nam trong hệ văn minh lúa nước vùng nhiệt đới.
Tự bao đời “côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó, việc cuốc việc cày việc bừa việc cấy, tay vốn quen làm” [Nguyễn Đình Chiểu], người nông dân gắn bó với đất, cái quý nhất đối với họ và cũng là khát vọng bao đời của họ. Cho dù chính “cái nghiệp nông gia” gắn với “đất”, tư liệu sản xuất cơ bản nhất ấy cùng với lối tư duy tiểu nông "con trâu đi trước, cái cày theo sau" ấy là nguồn cơn của sự lạc hậu triền miên như bước chân trâu ì ạch trên ruộng bùn, nền sản xuất xã hội không sao chuyển nổi sang kinh tế hàng hóa. Nhưng cũng vì thế, mảnh đất ấy là vốn quý, đời cha để lại cho đời con, đời cháu. Con cháu đẻ thêm ra ngày một nhiều nhưng đất thì không sinh sôi nảy nở! “Tấc đất tấc vàng” là bảo vật cha truyền con nối.
Tiến trình dựng nước, từ miền trung du tiến về vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Mã cũng là để mở đất. Mở đất cũng có nghĩa là “mở nước”. Tiến trình “mở nước” về phía nam cũng là sức lao động của người nông dân “mở cõi” bằng những nhát cuốc, đường cày, khai hoang thục hóa, thau chua rửa mặn để có những cánh đồng màu mỡ hôm nay. Ấy vậy mà, lối tư duy tiểu nông lại được biến thái và thăng hoa trong chủ nghĩa giáo điều, duy ý chí khước từ kinh tế thị trường đã làm chậm bước tiến của lịch sử khiến cho trong sự ổn định trì trệ kéo dài này, cái cày chìa vôi từ đời Lý vẫn còn hiện diện cùng với máy cày, máy gặt đập trên cánh đồng Việt Nam thế kỷ XXI :
“Dưới đồng ông lão đi bừa,
Hệt như cụ cố ngày xưa đi cày
 [Ca dao mới]
Đây là hình ảnh vừa xót xa vừa giục giã những quyết sách ở tầm vĩ mô phải đưa ra được những kiến giải thông minh mang tính đột phá khi mà lịch sử chưa bao giờ và không bao giờ thong dong đi trên con đường phẳng phiu, mà luôn "vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh". Lịch sử là một sự vận động trong thế tương quan giữa nhiều lực nhằm tìm ra một hợp lực, vạch ra con đường đi của nó. Ngày từ đầu, và cho đến bây giờ và mãi mãi, những hợp lực ấy vẫn do các cá nhân hiện thực tạo ra song vẫn không là phụ thuộc vào cá nhân họ. Cái hợp lực tạo ra sức mạnh của một dân tộc, viết nên những trang hào hùng của lịch sử dân tộc, chính là quần chúng nhân dân : những người theo mệnh lệnh của trái tim đã có mặt đúng lúc, đúng thời điểm cần có họ. "Người lên như nước vỡ bờ. Nước Việt Nam từ trong máu lửa. Rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa"[ Nguyễn Đình Thi]. Ngày 30 tháng Tư năm 1975 là một minh chứng sống động cho điều vừa nói đồng thời cũng là mở đầu cho một nghịch lý mà vào cái buổi người nông dân "việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm " nhưng theo mệnh lệnh của trái tim yêu nước đã "đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không" [Nguyễn Đình Chiểu] để rồi không sao hình dung nổi sự thể lại xoay ra phải đi khiếu kiện để đòi lại đất!
Tiếp theo những biến động dồn dập của CMT8, của các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc và bành trướng, không ai khác mà chính nông dân là đội quân chủ lực “đạp quân thù xuống đất đen, súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa”. Ấy thế mà rồi, xem ra sau khi " súng gươm vứt bỏ " người nông dân lại không "hiền như xưa" nữa rồi! Thì đấy, hãy cứ nhìn lại một đoạn rất vắn của lịch sử đất nươc trong vòng hai thập niên qua, từ sự kiện Thái Bình năm 1997 đến sự kiện Tiên Lãng 2012 đủ để hiểu được những gì cần phải đặt ra một cách thật nghiêm cẩn trong tư duy cũng như trong sách lược, chiến lược và trong những ứng xử ở tầm quốc gia.
Có lẽ trước khi sự kiện Thái Bình bùng nổ, ít ai nghĩ rằng tại nơi đây, quê hương của lá cờ đầu sản xuất nông nghiệp “chị Hai năm tấn quê ở Thái bình”, nơi đây cũng là lá cờ đầu của “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” trong kháng chiến, lá cờ đầu của hầu hết các hoạt động, từ sản xuất đến văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, xây dựng đời sống mới… Thái Bình tự hào về người quê mình từng có mặt tại những điểm hẹn của lịch sử: bắt sống tướng Đờ Cát tại Điện Biên Phủ tháng 7 năm 1954, cắm cờ trên Dinh Độc lập vào trưa ngày 30/4/1975, cũng là người Việt Nam “chân dép lốp mà bay vào vũ trụ”…
Ấy thế rồi những ngày cuối cùng của tháng 6 năm 1997 có tới 5 trên 7 huyện và thị của tỉnh gồm xã Quỳnh Phụ, Hưng Hà, Tiền Hải, Ðông Hưng, Thái Thụy có khiếu kiện tập thể của bà con nông dân về những vấn đề dân chủ và công bằng xã hội trong nông thôn. Không được tiếp nhận và giải quyết thỏa đáng, những sự biến xảy ra dồn dập hơn, mãnh liệt hơn, và có chiều hướng bạo lực từ cả hai phía: chính quyền và dân. Và rồi, sự xuất hiện của cảnh sát cơ động đã đặt các cuộc biểu tình ôn hòa và hợp thức vào tình thế bế tắc. Xu hướng bạo lực ngày càng gia tăng. Sự kiềm chế và tính tổ chức ở những người biểu tình càng giảm sút thì các sự biến xã hội càng khó kiểm soát. Một cuộc khủng hoảng chính trị xã hội thực sự trong nhiều xã và huyện của nông thôn Thái Bình đã bùng nổ. Mười lăm năm sau, tiếng súng tuyệt vọng của gia đinh họ Đoàn ở xã Vinh Quang, Tiên Lãng, Hải Phòng là một biến tấu mang tinh logic của quy luật lịch sử nếu có một cái nhìn thấu dáo, khách quan và đầy tính trách nhiệm về đất đai và những nghịch lý đang diễn ra.
Còn nhớ vào dịp Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho gọi đến báo cáo về cuộc nghiên cứu xã hội học về “Sự kiện Thái Bình”, khi nghe tôi nói … “vấn đề dân cày” mà Qua Ninh và Vân Đình [bút danh của Trường Chinh và Võ Nguyên Giáp] đặt ra những năm 40 dường như vẫn còn những dấu tích nguyên vẹn cho dù những biến tấu của chúng thì phức tạp hơn rất nhiều. Nhưng dù phức tạp thế nào thì cái cốt lõi vẫn là chuyện đất đai”, ông tỏ ra đặc biệt quan tâm : “ Thế anh cũng có đọc cuốn sách ấy à, nhưng đấy là chuyện trước Cách mạng Tháng Tám, anh nói rõ chuyện hôm nay đang như thế nào”.
“Vâng ạ, đúng là cuốn sách “Vấn đề dân cày” ra đời trước CMT8, tôi thưa, "cứ tưởng với thắng lợi của CMT8, của hai cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc, hoàn thành trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, rồi cuộc chiến tranh biên giới chống lại bọn bành trướng xâm lược mà nông dân là đội quân chủ lực làm nên mọi chiến thắng vẻ vang ấy, thì rồi vấn đề nông dân sẽ được đặt ra trên một bình diện mới của chiến lược phát triển đất nước tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Thế nhưng, thật là đáng tiếc, vấn đề nông dân đi liền với nông thôn và nông nghiệp của nước ta đã chưa được giải quyết đúng".
Để khỏi phải nói dài khi biết rằng thời gian của Đại tướng dành cho buổi gặp này không thể nhiều được, tôi dẫn ra nhận định sâu sắc của Từ Chi, nhà dân tộc học đáng kính được dùng làm điểm tựa cho sự phân tích về “sự kiện Thái bình”: "Làng là tế bào của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là sản phẩm của tự nhiên tiết ra từ quá trình định cư và cộng cư của người dân Việt trồng trọt. Hiểu được làng Việt là có trong tay cơ sở tối thiểu và cần thiết để tiến lên hiểu xã hội Việt nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung trong sự năng động lịch sử của nó, trong ứng xử cộng đồng và tâm lý tập thể của nó, trong các biểu hiện văn hóa của nó, cả trong những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó".
Nói một cách nghiêm cẩn thì chúng ta đã ứng xử không đúng đối với vấn đề có ý nghĩa cực kỳ lớn này để rồi phải gánh chịu“những phản ứng của nó trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó".“Sự kiện Thái Bình 1997” và sau đó 15 năn, "Sự kiện Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng 2012" là minh chứng hiển nhiên cho điều này. Thật ra, sự kiện Đoàn Văn Vươn xảy ra sau 15 năm, được công luận lập tức lên tiếng là nhờ có sự phát triển vượt bực của công nghệ thông tin và mạnh internet khiến người ta cố tình bưng bít cũng không bưng bít nổi. Sự kiện Thái Bình trước đó 15 năm, nếu xét về quy mô thì lớn hơn rất nhiều nhưng "nghệ thuật ém nhẹm" điêu luyện đã khiến cho nó chóng chìm vào quên lãng. Đừng quên rằng, vào lúc ấy, đã có 5 trong số 7 huyện có khiếu kiện đông người và xảy ra xung đột mà sau ngôi nhà của cán bộ xã An Ninh huyện Quỳnh Phụ bị nông dân xã này đốt cháy lúc nửa đêm nói lên tính bạo liệt của sự xung đột đó. Quên lãng là một cách nói, chứ thực ra, cội nguồn của sự kiện, bản chất của mâu thuẫn giữa vấn đề sở hữu đất đai với hệ ý thức về sở hữu toàn dân và cách quản lý đất đai tùy tiện nhằm dung túng cho lợi ích của nhà cầm quyền tác oai, tác phúc, thì người nông dân không hề quên.
Mà quên làm sao được khi "đêm đêm rì rầm trong tiếng đất. Những buổi ngày xưa vọng nói về" [Nguyễn Đình Thi]. "Tiếng gọi của đât", khát vọng ngàn đời của người dân cày. Tiếng gọi đó giằng co quyết liệt với "lực hút của đất" đủ sức làm chuyện “chết đuối người trên cạn mà chơi”![Nguyễn Gia Thiều] Chỉ có điều, “dìm chết người trên cạn” tại Tiên Lãng trước tết Nhâm Thìn dạo nọ hay tại Thái Bình năm 1997…không phải do “: trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán” mà do tham nhũng đất đai, nguồn tham nhũng béo bở, quá dễ dàng khi quyền đã nắm trong tay, nhân danh sở hữu toàn dân "quy hoạch" rồi "giải tỏa, đền bù" thì quá gọn! Mà trò đời, “quyền” đi liền với “tiền”, “trong tay đã sẵn đồng tiền, dầu lòng đổi trắng thay đen khó gì”[Nguyễn Du] !
Các đạo diễn bậc thầy của quy hoạch” để “chuyển đổi mục đích sử dụng” rồi “hoá giá”, rồi “đền bù, giải tỏa” được thực thi trong sự “đồng thuận” của cả “hệ thống quyền lực” một cách nhanh gọn và ngoạn mục mà một đại biểu Quốc hội trong phát biểu tại nơi diễn đàn tôn nghiêm này gọi là “siêu nhanh”. Ở đây cho thấy có cả một mạng lưới khép kín và tinh nhuệ của quy trình hoá giá “của chung ai khéo vẫy vùng làm riêng”. Chính sự "vẫy vùng" tái diễn cái nghịc lý bao đời “cướp ngày là quan” xưa kia đã diễn ra tại Tiên Lãng nhân danh pháp luật của “nhà nước địa phương” để thực hiện việc cưỡng chế tàn bạo và vi hiến, rồi người chỉ huy còn biểu dương đây là một cuộc “hiệp đồng tác chiến cực kỳ hay…. có thể viết thành sách”. Chao ôi sách!
Nhân đây xin nhắc lại một nhận định vẫn nóng bỏng tính thời sự của Phạm Văn Đồng khi nghe báo cáo về cuộc Khảo sát Xã hội học về sự kiện Thái Bình, do người viết báo cáo trình bày. Ông đã không đồng tình khi người báo cáo giải thích rằng: “Ở đây không có chuyện địch ta, mà chỉ là mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân”. Ông yêu cầu chỉnh lại: “Đây là mâu thuẫn giữa một bên là những người cầm quyền hư hỏng, thoái hóa biến chất đè nén, áp bức để dân không còn chịu được nữa, và bên kia là người dân phải vùng dậy đấu tranh. Phải phân tích như vậy mới tìm ra được giải pháp đúng”!
Rõ ràng là vấn đề dân cày và gắn liền với nó là khát vọng ngàn đời của họ sẽ được lý giải một cách suôn sẻ bằng những định hướng tốt đẹp và những chính sách vĩ mô đúng đắn, thế nhưng những cuộc khiếu kiện liên miên xoay quanh chuyện đất đai với những ngôn từ mới mẻ "quy hoạch, thu hồi, giải tỏa, đền bù"... xuất hiện cho, thấy còn quá nhiều vấn đề đặt ra.
Ai có thể ngờ cái cảnh "Đau đớn bấy mẹ già ngồi khóc trẻ,?ngọn đèn khuya leo lét trong lều; Não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng cơn bóng xế dật dờ trước ngõ" cụ Đồ Chiểu miêu tả từ một thế kỷ trước nay lại có thể tái hiện với những biến tấu mới cực kỳ phức tạp sau chuyện "cưỡng chế, thu hồi" để thực hiện đúng quy hoạch của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa! Kỷ cương phép nước đương nhiên phải giữ vững. Nhưng sau những ngôn từ đẹp đẽ đó là lực hút của đất đang tạo ra những mối lợi quá lớn mà khó có một đầu tư kinh doanh sản xuất nào sánh kịp đã đẩy tới những thủ đoạn đen tối của các nhóm lợi ích.
Cứ ngỡ rằng, từ buổi "rũ bùn, đứng dậy, sáng lòa" [Nguyễn Đình Thi"] ấy, nông dân, người trĩu trên vai mình gánh nặng nhất của công cuộc dựng nước và giữ nước, sẽ có được sự đền bù xứng đáng với máu xương của cha anh họ, với sức lực của chính họ đã bỏ ra cứu nguy cho nền kinh tế đi vào khủng hoảng trầm trọng, khi mà công nghiệp, dịch vụ và đô thị đều rơi vào suy thoái, tăng trưởng âm. Chỉ bằng sự bền bỉ, nhẫn nại của nông dân mà nông nghiệp vẫn tăng trưởng, đưa lại những khởi sắc! Nhưng rồi, những thành quả của Đổi Mới, của công nghiệp hóa, đô thị hóa và hiện đại hóa thì chỉ đến nỏ giọt với nông dân và nông thôn. Và không chỉ thế, hệ lụy trực tiếp đến với họ, oái oăm thay, từ quá trình nói trên là nhỡn tiền, mà gay gắt nhất là chuyện mất đất. Ấy thế mà, động đến vấn đề đất là động đến cái khát vọng ngàn đời của họ. Các cuộc khiếu kiện kéo dài triền miên có nguồn gốc từ khát vọng bao đời đó bị động chạm. Phản ứng dây chuyền của chuyện đất đai mà tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ là nhờ mạng lưới thông tin đại chúng với internet nối mạng toàn cầu.
Thế rồi, cuộc sống đang chứng kiến sức năng động xã hội đang từ âm ỉ đến bột phát. Những "bàn chân nổi giận" xuống đường trong các vụ khiếu kiện đang đặt ra những câu hỏi mới cho những ai quan tâm đến thế cuộc và vận mệnh đất nước. Để giải đáp thỏa đáng những câu hỏi ấy, tư duy của người có trách nhiệm phải được chiếu rọi bởi một ánh sáng mới. Liệu cái ánh "sáng lòa" mà nhà thơ Nguyễn Đình Thi nói kia đã đủ làm sáng tỏ thời cuộc hay cần phải có thêm cái ánh sáng từ bộ óc lớn của Victor Hugo từng mở đường cho thời đại văn minh :
"Ánh sáng, Ánh sáng! Biết đâu đấy, những khối u minh dày đặc ấy lại không trở thành trong suốt. Những cuộc cách mạng chẳng phải là những cuộc thay hình đổi dạng là gì?... : "Hãy làm cho tư tưởng dậy lên như gió lốc. Cái đám quần chúng kia có thể trở nên phi thường, tuyệt vời. Ta hãy biết khai thác các đám cháy mênh mông những nguyên lý, những đạo đức đôi khi tóe lửa, chói lòa, rung động trong những giờ phút nào đó"? Từ nhận thức đó mà đại văn hào Pháp khuyến cáo : "Hãy nhìn qua dân chúng, bạn sẽ tìm thấy chân lý"[*]! Liệu cái "chân lý" mà V. Hugo nói đến có phải là chân lý đang tiềm ẩn trong sự vận động của lịch sử đẩy tới tốc độ của dòng sông cuộc sống.
Rõ ràng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp là một bước đi tất yếu của lịch sử để nông thôn và nông dân thoát khỏi thực trạng ì ạch "con trâu đi trước cái cày theo sau" với nền độc canh lúa trên những mảnh ruộng manh mún. Đô thị hóa cũng là một giải pháp góp vào việc chuyển đổi cơ cấu lao động và ngành nghề, đa dạng hóa các sản phẩm nông nghiệp, nâng cao trình độ cho người lao động nông thôn trước đây đang từng bước làm quen với những ngành nghề lao động mới. Thế nhưng, hiện đại hóa, công nghiệp hóa, đô thị hóa thế nào là cả một đại vấn đề trong một xã hội sản xuất nông nghiệp với tập quán "nông vi bản".
Phi nông bất ổn không là một nhận thức đã bị vượt qua, mà đang là một thách thức đối với cung cách tư duy đương đại. Nói đến nông nghiệp, nông dân thì vấn đề cốt lõi vẫn là vấn đề đất. Thế nhưng, nói đến công nghiệp, đến đô thị, dù có "hóa" kiểu nào, theo cách nào, nếu không có "đất", một nhân tố quyết định của "kết cấu hạ tầng" thì cũng chỉ là nói trên giấy.
Mà động đến "đất" cũng có nghĩa là động đến vấn đề gay cấn nhất, cam go nhất trong đời sống xã hội, một xã hội còn đến hơn 70% dân số găn bó với nông thôn. Vì vậy, đã quá muộn, song muộn còn hơn không, vấn đề nông dân liên quan đến quyền sở hữu đất - cái không thể sinh sôi nảy nở trong khi người thì cứ tăng mãi lên gắn liền với chuyện đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa phải đặt ra một cách nghiêm cẩn đúng tầm vóc của một quyết sách lớn, không chỉ liên quan đến định hướng phát triển đất nước, mà còn tác động lớn đến kết cấu hạ tầng tâm lý xã hội.
Trong dòng chảy lịch sử với những biến tấu nâng dần lên về lượng và chất của tâm trạng nông dân, chỉ tạm dừng lại ở cột mốc “Sự kiện Thái Bình 1997” mười lăm năm trước “Sự kiện Tiên Lãng 2012” và những gì đang tiếp diễn và lan rộng không dừng lại chỉ ở một vài điểm "nóng", để thấy cho ra "những phản ứng của làng quê trước những hình thái mà lịch sử đương đại đặt vào nó"! Chính ở đây đòi hỏi một tầm vóc tư duy mới vượt lên khỏi những lợi ích cục bộ và phiến diện có thể đẩy tới nhưng xung đột xã hội với những hậu quả khó lường!
Có thể nói dòng sông cuộc sống nói ở trên đang trải qua những bước gấp khúc, ở đó đang xuất hiện những đoạn “nước xoáy”! Tại đó, váng bẩn nổi lên nhiều và dạt vào bờ, con mắt trực quan rất dễ nhìn thấy. Nhưng, sức cuộn chảy từ bên dưới thì lại không dễ nhận ra! Vậy mà, những sục sôi trên bề mặt thật ra là do sức dồn nén trầm tích từ sức cuộn chảy bên dưới. Sức cuộn chảy từ bê dưới ấy đang quyết định tốc độ của dòng chảy.
Phải có đôi mắt tỉnh táo nhìn cho ra những cái gì đang và cái gì sẽ xảy ra để có quyết sách đúng, nhất là không được để cho những quyết sách đó bị khúc xạ qua lăng kính của những nhóm lợi ích thao túng quyền lực. Những cái đang xảy ra ấy đúng là đang chuyển động từ tự phát sang tự giác về quyền của chính mình. Nếu quyền ấy bị tước đoạt một cách phi pháp nhân danh những gì to tát mang tính lừa mị sẽ không còn làm lóa mắt họ nữa, họ sẽ quyết liệt đấu tranh. Khi nhà đại văn hào Pháp đòi hỏi "Hãy làm cho tư tưởng dậy lên như gió lốc"phải chăng là lúc ông nghĩ đến "cái đám quần chúng kia có thể trở nên phi thường, tuyệt vời" một khi họ đã nhận ra được quyền của họ.
Với người nông dân Việt Nam, quyền ấy đã được trịnh trọng tuyên bố từ "Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9" khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Quyền ấy được ghi trong Hiến Pháp. Với họ, vấn đề đất đai, khát vọng bao đời của họ đang đối diện với những nghịch lý cần phải được kiến giải một cách sòng phẳng và công khai. Đó là một đòi hỏi chính đáng mà cuộc sửa đổi Hiến pháp đang tiến hành phải đặt ra, và Luật đất đai nhằm giải quyết những nghịch lý về đất để đáp ứng khát vọng ngàn đời của người nông dân nên được thông qua sau khi có Hiến pháp mới tiếp thu đầy đủ trí tuệ của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Quá trình tiếp thư và sửa đổi Hiên Pháp, cùng với chuyện "đại sự" đó là lấy ý kiến về Luật đất đai mà người cần được hỏi và được tỏ bày một cách công khai, minh bạch là người nông dân, chủ thể của ruộng đất, mảnh đất đã thấm đẫm mồ hôi và cả máu của cha anh họ. Và quá trình hỏi ý kiến, lắng nghe ý chí và nguyện vọng của người nông dân đồng thời cũng là quá trình nâng cao ý thức của người nông dân về quyền của họ, "quyền không ai được xâm phạm" mà Tuyên ngôn Độc lập ngày 2.9 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã dõng dạc tuyên bố với thế giới. Đấy cũng là quá trình mà đại văn hào Pháp chỉ ra "Hãy làm cho tư tưởng dậy lên như gió lốc".
Hội Nông dân, một hình thái của Xã hội Dân sự, sinh ra là để làm chuyện này. Nếu chưa làm thì đây là lúc nên làm. Làm để giải tỏa nghịch lý và đáp ứng khát vọng của người nông dân.
[*] Victor Hugo. "Những người khốn khổ". NXBVNTPHCM.1999, tr.358, 359
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 2-5-13

Tương Lai
Chia sẻ bài viết này

Thứ Sáu, 3 tháng 5, 2013

MỘT BÀI NHẠC HAY THƯ GIÃN CUỐI TUẦN.: Mother In Dream


Gần đây, cư dân mạng xôn xao trước giọng hát đầy xúc cảm của cậu bé Mông Cổ tên Uudam trong cuộc thi China's Got Talent 2011. Thế nhưng, một sự thật đáng buồn được phát hiện là giọng ca thật cậu bé đã bị thay bằng giọng hát khác khi phát sóng trên truyền hình.
Một lần nữa, nhà đài Hoa ngữ lại "giở chiêu" đánh lừa khán giả truyền hình khi dùng giọng hát của Ba Đặc Nhĩ thu âm từ năm 2007 thay thế cho giọng hát của Uudam khi phát sóng chương trình. Ba Đặc Nhĩ cũng là người Mông Cổ, hiện đang theo học tại Học viện nghệ thuật Mông Cổ. Điều này làm dấy lên nghi ngờ cậu bé Uudam gian lận hát "nhép" khi khán giả phát hiện ra sự giống nhau trong giọng của Uudam và Ba Đặc Nhĩ. 


https://www.youtube.com/watch?feature=fvwp&v=Q4W9qYemEo8&NR=1
(Click vào để xem, Clip khg post ở đây)


(MỘT Ý KIẾN KHÁC: Có người đã chỉnh sửa cái đoạn hát của Uudam lại, hạ tone thấp xuống và chỉnh méo mó tiếng nhằm để mọi người hiểu sai về Uudam. Chứ ko có chuyện đoạn nhạc hát bằng giọng thật bị lộ mà lại có tiếng vỗ tay, có cả tiếng của MC nữa chứ. Mình cũng là người chuyên về kĩ thuật âm thanh nen cũg biết. Mình ko nói mình giỏi nhưng các bạn làm như vậy để làm gì bôi nhọ cậu bé này chăng? Cậu bé chỉ mới có mười mấy tuổii thôi, và hát bằng cả trái tim đấy, các bạn làm vậy có đánh đc tâm lý của khán thính giả hay ko?_@Clark Phạm)

(MỘT Ý KIẾN KHÁC: Bạn dăng bài này dù giọng cậu bé có như vậy thì bạn cũng thiếu từ bi chỉ nhìn vào điểm chưa đc ko biết thông cảm cho ng khác .còn nếu giọng cậu bé hay mà bị giảm tông thì bạn sẽ bị tổn phước đấy_ Trang Tran)


https://www.youtube.com/watch?feature=player_detailpage&v=igPlTtNxQrg




Xôn xao bài thơ “tóm tắt truyện Kiều” của học sinh chuyên Toán

Xôn xao bài thơ “tóm tắt truyện Kiều” của học sinh chuyên Toán


Bên cạnh những bài thơ “nức lòng” dân mạng, “thi sĩ” Phạm Quốc Ðạt vừa tiếp tục cho ra lò bài thơ "Tóm tắt truyện Kiều" khiến người đọc cười nghiêng ngả.

Bài được đọc trong buổi thảo luận về Truyện Kiều của HS lớp 10. Tác giả là Phạm Quốc Ðạt, lớp 11 chuyên Toán (Trường PTTH Chuyên Lê Quý Ðôn - Vũng Tàu.)
Trước đó, "thi sĩ" cũng vừa giành huy chương bạc cuộc thi Olympic Toán học 30/4 diễn ra tại TP.HCM.

Thi sĩ Cuốc Ðất ở giữa cùng hai bạn giành huy chương tại Olympic Toán 30/4.
Thi sĩ "Cuốc Ðất" ở giữa cùng hai bạn giành huy chương tại Olympic Toán 30/4.

Xin giới thiệu bài thơ mới nhất của "thi sĩ Cuốc đất":

"Mình xin thay mặt tổ hai,
Bàn về tác phẩm của ngài Nguyễn Du.

Ðời Kiều sóng gió cầm tù,
Giờ đây hồn đã ngàn thu giấc tròn.
Sắc, tài sánh với nước non,
Khách hồng nhan vốn chẳng còn điểm chê.
Gặp Kim, như trúng bùa mê,
Cùng nhau ước hẹn quên thề Ðạm Tiên.
Bỗng đâu oan lớn ập liền,
Thuý Kiều buộc phải kiếm tiền chuộc cha.
Chẳng may mắc bẫy Tú Bà,
Biến Kiều bỗng chốc thành quà thanh lâu.
Ðương cơn nhục nhã tủi sầu,
Thúc Sinh xuất hiện, phép mầu nhuộm lên.
Tưởng rằng Kiều đã gặp hên,
Hoạn Thư đày đoạ như tên ngục tù.
Nàng đau trong nỗi căm thù,
Phận đời sóng gió mây mù xa trông.
Bạc Bà giết những kiếp hồng,
Lầu xanh Kiều lại vào tròng lần hai.
Chẳng còn nhờ vả được ai,
Kể như nàng đã tương lai mịt mù.
Từ Hải khí phách trời thu,
Kiều được giúp đỡ trả thù bấy lâu.
Ngỡ là chấm dứt nỗi sầu,
Lại Hồ Tôn Hiến hiểm sâu đánh lừa.
Từ Hải chết đứng không thưa,
Thuý Kiều lại kiếp ngày xưa quay về.
Ðớn đau, nhục nhã ê chề,
Nàng nay chẳng muốn quay về nhân gian.
Tiền Ðường kết liễu kiếp oan,
Giác Duyên giăng lưới nhặt khoan sẵn chờ.
Rời xa nhân thế bẩn dơ,
Nàng nương cửa Phật - cõi mơ nâu sồng.
Ngày kia hết kiếp long đong
Tái duyên Kim Trọng, thong dong sắt cầm.
Ðến đây xin phép được ngừng,
Cảm ơn cả lớp chẳng ngừng lắng nghe!"

Theo Nguyễn Hiền
Vietnamnet





Xôn xao đơn xin nghỉ học bằng…thơ

"Hôm nay em viết đơn này/Kính xin được nghỉ một ngày dưỡng thương/Em tuy vẫn nhớ lớp, trường/Nhưng mà sức khỏe khó lường mối nguy..." -đơn xin phép nghỉ học của học sinh được viết bằng thể thơ lục bát với những ngôn từ hóm hỉnh, hài hước đang gây xôn xao trên các trang mạng xã hội.

Ðơn xin phép nghỉ học bằng thơ
Ðơn xin phép nghỉ học bằng thơ.
Ðây là tờ đơn xin phép nghỉ học của một học sinh tên là Phạm Quốc Ðạt, lớp 11 Toán 1 (không có tên trường) đã được lưu truyền trên mạng với tốc độ nhanh chóng.
Lá đơn xin nghỉ phép được viết bằng thể thơ lục bát rất ngay ngắn, sạch đẹp trên giấy vở ô ly.


Cùng đọc lá đơn bằng thơ:

ÐƠN XIN PHÉP
Gửi ban giám hiệu trường ta.
Cùng cô chủ nhiệm chính là cô Nhung.
Hôm nay em viết đơn này
Kính xin được nghỉ một ngày dưỡng thương
Em tuy vẫn nhớ lớp, trường
Nhưng mà sức khỏe khó lường mối nguy
Suốt đêm em sốt li bì
Trán nay nóng hổi, yếu suy quá chừng
Việc học chắc phải tạm ngừng
Ðể còn điều trị kẻo chừng… thăng thiên!
Bài ghi em sẽ chép liền
Em xin lỗi đã làm phiền thầy cô!

Trên trang Facebook của Ths Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu cũng chia sẻ và có hàng nghìn người “like” và bình luận về đơn xin phép này. Thạc sĩ tâm lí học Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu cũng chia sẻ ý kiến của mình bằng thể thơ lục bát:

"Ai bảo đi học khô khan?
Nếu mà sáng tạo thì ngàn cái hay!
1 like nhóc viết cái này
1 like khác nữa cho thầy dạy Văn”.

Nhiều ý kiến cho rằng đây là một sự sáng tạo và phá vỡ cấu trúc khô khan của một tờ đơn xin phép nghỉ học thông thường.

Ths Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu phân tích thêm: “Ðơn này thì viết chơi thôi, chứ thầy nghĩ bạn ấy không có nộp đâu. Nhưng nếu là ban giám hiệu, thầy sẽ chấp nhận đơn này, tuy không chỉn chu như kiểu mà thầy cô mong muốn, nhưng đáng được chấp nhận vì sự phá cách, sáng tạo mà không phải học sinh nào cũng có. Quá khắt khe làm gì, sao ta không để cho học sinh sáng tạo? Nếu mắng bạn ấy là vớ vẩn, vô phép thì lần sau bạn ấy mà muốn sáng tạo thì chẳng còn hứng thú gì nữa. Giết chết mầm mống của một con người sáng tạo đấy!”.

Theo Nguyễn Thị Sự
Tiền Phong

Lá đơn xin nghỉ học gây sốc

Cậu học sinh lớp 10 viết lá đơn xin phép nghỉ học đáng suy ngẫm được cho là Trần Văn M. một học sinh lớp 10 của một trường THPT.

Lá đơn có đầy đủ Quốc hiệu, tiêu ngữ, tiêu đề, ngày tháng và nội dung đơn.



Nguyên văn nội dung đơn: “Hôm lay, em viết cái Ðơn lày mong cô và nhà trường cho em ngỉ học vì chong lúc Học em quá đùa nghích và Học Hành còn yếu và làm cho lớp 10H xa xút và không thể vươn lên Ðược, và làm cho nhiều thầy cô gia phải nhác nhở lên em ngĩ em không xứng Ðáng làm học sinh của chường…”

Hãy khoan bàn về mặt hình thức, những lời bạn học sinh viết trong đơn đáng để chúng ta suy ngẫm. M đã dám nói thẳng, nói thật những khuyết điểm của mình. Ðó là bạn còn đùa nghịch, học hành còn yếu làm ảnh hưởng đến bạn bè, thầy cô, đến lớp, đến trường. Ðể rồi, bạn xin được nghỉ học với một lời cảm ơn. Thiết nghĩ, những điều trên không phải là hiếm, nhưng để thẳng thắn thừa nhận và nói ra không phải ai cũng làm được. Lòng tự trọng đã không cho phép M tiếp tục “Ngồi nhầm chỗ”…hay M không thể chịu được những áp lực?
 
Nhưng, điều đáng nói hơn, qua lá đơn của T.V.M, cũng làm nóng lên những vấn đề về công tác giáo dục. Tại sao một học sinh lớp 10 lại viết sai lỗi chính tả khủng khiếp đến như thế? Ðọc một câu mười chữ thì có đến năm sáu chữ là sai lỗi chính tả. Lời văn thì lủng củng, một câu có đến ba bốn chữ “và”… Những điều đó không được phép sai vì đúng ra, học hết lớp 1 là đã phải đọc thông, viết thạo. Ðây là hiện tượng ngồi nhầm lớp. Và đáng ngại hơn là ngồi nhầm nhiều lớp.
                                   
Năm học 2006-2007, Bộ GD&ÐT phát động cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”. Khi đó, tình trạng học sinh “ngồi nhầm lớp” đã trở thành một vấn nạn nhức nhối.
Theo Nhật Linh
VietNamNet

Lại xôn xao “thầy cô” đối lại đơn xin nghỉ học bằng... thơ

Ngay sau khi lá đơn xin nghỉ học bằng thơ “có một không hai” của học sinh được truyền, một đoạn thơ lục bát khác được coi như là lời đối đáp của “thầy cô” cũng đã được tung lên mạng với giọng điệu khá hài hước.

Lá thư xin nghỉ học của cậu học trò viết:

 “Gửi ban giám hiệu trường ta.
Cùng cô chủ nhiệm chính là cô Nhung.
Hôm nay em viết đơn này
Kính xin được nghỉ một ngày dưỡng thương
Em tuy vẫn nhớ lớp, trường
Nhưng mà sức khỏe khó lường mối nguy
Suốt đêm em sốt li bì
Trán nay nóng hổi, yếu suy quá chừng
Việc học chắc phải tạm ngừng
Ðể còn điều trị kẻo chừng… thăng thiên!
Bài ghi em sẽ chép liền
Em xin lỗi đã làm phiền thầy cô!”.

Theo thông tin nhiều bạn đọc cung cấp, đơn xin nghỉ học “độc nhất vô nhị” xôn xao cư dân mạng trong thời gian vừa qua do cậu học trò Phạm Quốc Ðạt, lớp 11 Toán 1 trường THPT L.Q.Ð (TP. Vũng Tàu) sáng tác.

Ðơn xin phép nghỉ học bằng thơ
Ðơn xin phép nghỉ học bằng thơ.

Ngay sau khi lá đơn xin nghỉ học bằng thơ “có một không hai” của học sinh được truyền trên mạng, một đoạn thơ lục bát khác được coi như lời đối đáp của “thầy cô” cũng đã được tung lên mạng với giọng điệu khá hài hước.

“Thầy cô trả lời”:

Thầy cô nhận được đơn rồi.
Sốt cao cứ nghỉ chứ đừng ngại chi
Bài vở sau khỏe hãy ghi
Em lo điều trị kéo thì Thăng Thiên
Thầy cô không sợ làm phiền
Chỉ sợ em ngủ , mơ tiên dẫn đường
Biết rằng nhớ lớp nhớ trường
Hãy vì sức khỏe mà thương lấy mình...!!!
Khi nào sức khỏe an bình.
Cố gắng đến lớp chúng mình gặp nhau.
Về trường có trước có sau.
Ðừng vì cái vụ em đau... hết tiền.
Cô kêu lên bảng liền liền
Bài tập cô vặn cho điên cái đầu.
Hỏi : sao vở lại nát nhàu.
Bài ghi không đủ mặc dầu có ghi.
Cô không gợi ý đề thi
Cuối năm điểm kém tức thì lưu ban?

Một “cô giáo” khác cũng có lời hồi đáp với học trò của mình:

"Thương em bị sốt li bì
Ðồng ý em nghỉ tiếc gì em đâu
Lo cho sức khỏe là đầu
Thầy cô các bạn luôn cầu cho em
Khỏe rồi đi học cố lên
Học sinh ngoan giỏi có tên của trò”.

Khá nhiều bạn cho rằng đây là “sự sáng tạo phá vỡ sự khô khan vốn có của lá đơn xin nghỉ học bình thường”.

Theo chia sẻ của Ths Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu tuy thơ của bạn học sinh không chỉn chu như kiểu mà thầy cô mong muốn nhưng "đáng được chấp nhận vì sự phá cách, sáng tạo mà không phải học sinh nào cũng có”.

Theo Phong Ðăng
Vietnamnet


Tác giả đơn xin nghỉ học bằng thơ lại làm thơ trong... bài thi

Không chỉ nổi tiếng với việc viết đơn xin nghỉ học làm xôn xao cư dân mạng, Phạm Quốc Ðạt (lớp 11 Toán, THPT chuyên Lê Quý Ðôn, TP Vũng Tàu) còn viết thơ “thương vợ” trong bài thi giữa kỳ của mình.

Vừa qua, lá đơn “Xin nghỉ phép” bằng thơ của cậu học trò Phạm Quốc Ðạt (lớp 11 Toán, THPT chuyên Lê Quý Ðôn, TP Vũng Tàu) đã gây xôn xao cư dân mạng.

Không chỉ có vậy, bằng tài làm thơ của mình, Ðạt đã sáng tác ngay 8 câu thơ trong bài thi giữa kỳ với đề bài phân tích bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương.

Phạm Quốc Ðạt tiếp tục nổi như cồn với đoạn thơ Thương vợ trong bài thi giữa kỳ
Phạm Quốc Ðạt tiếp tục "nổi như cồn" với đoạn thơ "Thương vợ" trong bài thi giữa kỳ.

8 câu thơ cuối bài thi giữa kỳ của Phạm Quốc Ðạt:

Ðau thay thân phận đàn ông
Nhìn vợ chịu khổ mà không giúp gì
Cuộc đời lắm chuyện thị phi
Một thời phong kiến làm gì được đây.

Thương thay bà Tú rạc gầy
Nuôi chồng rồi lại một bầy con thơ
Ðến đây đã hết thì giờ
Em xin dừng bút, một tờ vậy thôi!

Ðạt thường viết thơ trong những dịp nào?

Do chương trình học cũng khá nặng nên những lúc thư giãn, thay vì chơi game thì em làm thơ để đăng vào hội “Văn thơ lớp Toán”.

Không phải chỉ riêng mình em mà trong lớp Toán ai cũng có tâm hồn lãng mạn cả. Thay vì làm thơ thì các bạn đánh đàn, ca hát khiến lớp lúc nào cũng rất vui!

Phạm Quốc Ðạt tiếp tục nổi như cồn với đoạn thơ Thương vợ trong bài thi giữa kỳ
Chàng trai Phạm Quốc Ðạt, lớp 11 Toán, THPT Chuyên Lê Quý Ðôn, TP. Vũng Tàu nổi tiếng cộng đồng mạng với những vần thơ di dỏm của mình.

Ðược biết em có bài thơ xin nghỉ học gây sốt cư dân mạng và cả đoạn thơ “Thương vợ” trong bài thi giữa kỳ. Vì đâu trong những hoàn cảnh đó em lại nghĩ sẽ sáng tác thơ?

Em không muốn mọi thứ diễn ra buồn tẻ, kể cả việc học. Chính vì thế nên em quyết định mạnh dạn phá cách để tìm thấy niềm vui trong môn Văn. Và do thơ cũng dễ viết, it “tốn kém” nhất nên em cứ theo khẩu hiệu của lớp Toán: “rẻ, đơn giản nhưng phải hoành tráng” để tiến hành!

Các thầy cô đã phản ứng như thế nào khi nhận được bài thơ em viết trong những hoàn cảnh đặc biệt như vậy?

Những bài thơ đó đã được các thầy cô tận mắt đọc ạ. Trường em cũng hay khuyến khích học sinh sáng tạo trong học tập nên em không bị phạt. Thầy chỉ nhắc nhở em không nên sáng tạo ở những văn bản hành chính, những bài thi đại học thôi.

Ngoài việc sáng tác thơ lúc rảnh rỗi, trong các bài kiểm tra, vậy những lúc khác thì sao?

Ngoài những dịp lễ hay sinh nhật bạn bè, đôi lúc em cũng bị bạn bè “ép” phải ứng khẩu thành thơ ngay lập tức. Tuy có hồi hộp nhưng cũng rất vui!

Phạm Quốc Ðạt tiếp tục nổi như cồn với đoạn thơ Thương vợ trong bài thi giữa kỳ
Ðạt cho biết, không chỉ mình Ðạt mà các thành viên khác trong lớp cũng đều có tâm hồn thơ văn, ca hát.

Nhiều người cho rằng em đang muốn “chơi trội”. Ðạt có buồn khi có người đang suy nghĩ như vậy về mình?

 Những hiện tượng bất thường như vậy đúng là khó chấp nhận thật. Thực sự thì khi em viết những bài thơ đó, em chỉ nghĩ nó được lưu hành trong trường thôi, chứ không ngờ lại phát tán trên mạng như vậy. Nếu là người ngoài cuộc thì em cũng sẽ nghĩ như các bạn thôi. 

Ðạt đã bao giờ gặp rắc rối với những bài thơ mình viết chưa? 

Có lần trên Facebook, em bình luận bằng thơ. Nhưng rồi một bạn lại hiểu sai ý nghĩa của nó nên khiến em rất lo lắng và phải xoá bài thơ của mình. Từ đó em đã rút được kinh nghiệm là phải cẩn thận về câu từ hơn.

Những tình huống hài hước bất ngờ và oái oăm nhất sau khi em công bố những bài thơ của mình là gì?

Giờ đây nhiều thầy cô trong trường đã biết đến lá đơn đó. Nên khi gặp em mọi người lại trêu đùa. Những lúc như thế em thấy các thầy cô thật gần gũi và dễ thương.  

Cũng vì bài thơ đó mà rất nhiều người đã kết bạn trên facebook với em. Hầu hết để làm quen và trò chuyện. Nhưng cũng có những bạn lại nhờ em làm giùm thơ để… tán gái!


Tập thể lớp chụp ảnh với thầy Viên dạy Toán (đứng giữa) - người đã truyền cảm hứng thơ văn cho Ðạt
Tập thể lớp chụp ảnh với thầy Viên dạy Toán (đứng giữa) - người đã truyền cảm hứng thơ văn cho Ðạt.

Bố mẹ đã phản ứng gì khi biết được những bài thơ nổi tiếng của em trên mạng?

Hình như bố mẹ em không ngạc nhiên lắm, vì cả bố và mẹ đều là những “nhà thơ” nghiệp dư! Hồi còn trẻ hai người viết thơ cho nhau nhiều đến nỗi phải đóng thành tập. Bố mẹ chỉ cười và bảo em đừng vì thế mà xao nhãng việc học.

Sau này, khi định thổ lộ với bạn gái chắc hẳn Ðạt cũng sẽ làm thơ để tỏ tình chứ?

Chắc chắn rồi! Nhưng mà sẽ phải thêm một vài ý tưởng độc đáo hơn nữa chứ! Thú thực là em cũng chưa bao giờ tỏ tình nên không biết ra sao nữa!

Ước mơ sau này của Ðạt liệu có quan đến những vần thơ hay không?

Em muốn được trở thành một người thành đạt. Tìm được người phụ nữ yêu mình thật lòng. Và luôn tìm ra những ý tưởng mới. Ðược như vậy cuộc sống sẽ đầy chất thơ mà không cần ta cố gắng sáng tác nữa.

GỬI THẦY CÔ...
(Tập san lớp 11 Toán 1)

Ðợt này gấp rút thời gian,
Vầy nên nhức nhối tập san lớp mình.
Nhưng thôi ta quyết vì tình,
Làm bài bất hủ để rinh giải vàng!

Sân trường nắng rộng thênh thang,
Chẳng bằng ơn huệ Trường Giang của thầy.
Dạt dào gió thổi trời mây,
Làm sao sánh nổi ơn đầy của cô!

Mong sao dựng nổi cơ đồ,
Công thành người dạy giọt mồ hôi xưa.
Băn khoăn ai để đò đưa?
Em xin mạn phép xin thưa mọi người. 

Theo ta từ thuở lớp mười,
Thầy Viên dạy Toán tươi cười hiện ra.
Có thầy, môn Toán thêm hoa,
Trao em cảm hứng để mà học lên.

Ơn thầy mãi mãi chẳng quên,
Thầy là nguồn sáng mỗi đêm mịt mù.
Thầy là lãng tử trời thu,
Chúng em yêu mãi Vyvu Vũng Tàu.

Cô Hồng nghĩa nặng tình sâu,
Bộ môn Vật Lý dạy lâu một thời.
Ðến nay cô đã nghỉ rồi,
Nhường cho thầy Tuấn trau dồi tụi em.

Cô Nhung chủ nhiệm cặp kèm,
Nhớ sao cái lúc bao kem học trò.
Bao lần khấp khởi âu lo,
Cô thì chỉ muốn tốt cho tụi mình.

Cô Thủy đảm nhiệm môn Sinh,
Dạy em mọi thứ tạo hình thiên nhiên.
Học Sinh chẳng chút muộn phiền,
Trong lời cô giảng bình yên tìm về.

Cô Xuân dạy Sử khỏi chê,
Hăng say hết mực, mải mê dạy trò.
Ðồn rằng môn Sử đầy lo,
Nhờ cô, xóa bỏ vòng vo trong đầu.

Năm nay Ðịa Lý thiệt ngầu,
Cô em giảng dạy biết đâu là dừng.
Chao ôi hấp dẫn vô chừng,
Cảm ơn cô Thúy chẳng ngừng dạy em.

Lại về Toán Một mà xem,
Cô Tuyền Ngoại Ngữ tụi em tuyệt vời.
Thế nhưng cô đã chuyển rồi,
Giờ đây cô Thảo bồi hồi làm quen.

Môn Tin lớp Toán được khen,
Nhờ cô chỉ bảo cho nên sự thành.
Cô Trang dạy giỏi đã đành,
Lại còn xinh đẹp, xứng danh đại tài.

Thầy Long dạy tớ mới oai,
Tâm hồn lãng mạn, giảng bài cực hay.
Văn thơ phát triển chốn này,
Nên giờ làm lại, tặng thầy bài thơ.

Tính tình đạo đức bấy giờ,
Công Dân cô chỉ nên thơ thế này.
Cô Hương nghiêm khắc lắm thay,
Nhưng em nhờ thế có ngày rạng danh.

Còn môn Kĩ Thuật thực hành,
Thầy Hùng hứng khởi chuyển thành tình yêu.
Dạy em chớ có làm liều,
Trước khi hành động - mục tiêu rõ ràng.

Thầy Mừng hết mực nở nang,
Nhờ môn thể dục Bạc Vàng này đây.
Học không, căng thẳng nặng đầy,
Ði kèm thể lực mới xây được đời.

Mỗi môn một vẻ không lời,
Cùng nhau giúp sức cho người học sinh.
Em yêu mọi thứ lớp mình,
Chúc thầy cô giáo nghĩa tình nặng sâu!

Phạm Quốc Ðạt

Theo Phạm Thịnh
VTC News