Thứ Năm, 1 tháng 8, 2013

27/07, chiến tranh và một thế kỷ buồn

Xích Tử

north korea armistice 60th anniversary

Cuộc biểu dương lực lượng của Bắc Triều Tiên với một rừng cờ và ảnh của hai lãnh tụ  Kim Il-Sung và Kim Jong-Il trong một cuộc diễn hành quân sự đánh dấu kỷ niệm 60 năm đình chiến trong chiến tranh Nam Bác Hàn vào ngày 27 tháng 7 năm 2013. (Ed Jones / AFP / Getty Images

27/07 là ngày kỷ niệm kết thúc chiến tranh Triều Tiên, cũng trùng là ngày thương binh liệt sĩ ở Việt Nam. Thứ tự chu niên của kết thúc chiến tranh Triều Tiên tính từ năm 1953; còn ngày thương binh liệt sỹ Việt Nam tính từ 1947, 2 năm tính từ cuộc chiến Đông Dương I.
Triều Tiên – Hàn Quốc, do chưa (không) thống nhất được nên mỗi miền tổ chức riêng, với qui mô, sắc thái, mục tiêu chính trị khác nhau.
Ở Bắc Triều Tiên, người ta làm đại lễ, có duyệt binh với sự biểu dương các loại vũ khí hiện đại, hùng mạnh nhất, có thể biến miền nam thành biển lửa, tức là biến bà con của họ thành than bụi. Họ huy động đến cả trăm ngàn người, áo quần khoe sắc, hát xướng linh đình, đến mức truyền thông đánh giá là lễ hội lớn nhất thế giới, để mừng kỷ niệm cái sự kiện trong lịch sử đã làm chết hàng triệu người dân xứ Cao Ly ấy. Trong buổi lễ, có thể dễ dàng nghe thấy tiếng loa hùng hồn, đằng đằng sát khí, rất đặc trưng của xứ sở này, hứa hẹn cho một cái lễ như vậy có thể diễn ra mấy chục năm sau, nếu chế độ vẫn trường tồn cùng với vị chủ tịch nước vĩnh viễn của họ.
Ở miền nam, buổi lễ chỉ có khoảng bốn ngàn người, sơ sài đạm bạc, với lời phát biểu của bà Tổng thống, giọng nhỏ nhẹ, rưng rưng ngợi ca những chiến binh đã chiến đấu cho nền tự do, bày tỏ những quan điểm cơ bản đối với việc giải quyết vấn đề bán đảo Triều Tiên trong những ngày này.
Có lẽ cách tổ chức như vậy là có chủ ý của mỗi bên, là cái điệu mà mỗi bên muốn dùng để bày tỏ tình cảm với cái quá khứ buồn. Những chi tiết nghịch nhau trong cách bày tỏ có chủ ý đó lại làm cho người ta hiểu được nguyên nhân của cuộc chiến: ảo vọng về sứ mệnh thiêng liêng trong cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh ý thức hệ của những cái đầu lãnh tụ u mê tại các nước nhược tiểu nhằm thực hiện sự đầu cơ lợi ích của các cường quốc.

Mẹ chờ tin con
Tại Việt Nam, từ vài tháng trước, đã bắt đầu cái phong trào lặp đi lặp lại chuẩn bị cho kỷ niệm ngày thương binh liệt sĩ. Các chương trình hoạt động có tính nhà nước cùng với bộ máy truyền thông quốc doanh tấp nập những sự kiện, thông tin về tri ân, đền ơn đáp nghĩa, với đủ các hình thức, từ thế tục đến tâm linh, từ cộng điểm cho bà mẹ Việt Nam Anh hùng đi thi đại học đến lễ cầu siêu thoát cho các liệt sĩ. Không biết, với các liệt sĩ, trong đó có đảng viên, sẽ chọn chỗ nào để nhận tấm lòng của hậu thế tưởng nhớ mình.
Ở Việt Nam, do đã “chiến thắng” và “thống nhất” nên việc tổ chức kỷ niệm chỉ một phía – bên thắng cuộc. Sự ngợi ca từ một phía, và những người được ngợi ca cũng là một phía – những người của bên thắng cuộc. Trong những lời ngợi ca ấy, nghe được rằng họ đã ngã xuống cho Tổ quốc, ngã xuống trên đất mẹ, đổ máu trên đất mẹ; xương cốt linh thiêng của họ đã hòa vào đất mẹ. Những điều đó hoàn toàn đúng, nếu trong cuộc chiến chỉ chỉ có một loại kẻ địch là ngoại bang.
Hỡi ôi, cuộc chiến trên đất nước này suốt mấy chục năm không phải thế. Cả triệu người Việt chết trận, chết do khủng bố ám sát khi tham gia phía bên thua cuộc, chết do cải cách cải tạo cũng là người Việt tóc đen da vàng máu đỏ. Họ cũng ngã xuống bờ tre góc ruộng của quê hương Tổ quốc này, danh chính ngôn thuận, có căn cước, quốc tịch số quân hẳn hoi. Máu họ cũng đổ xuống quê cha đất tổ; xương cốt thi hài một số trong họ cũng hòa vào đất mẹ. Thế nhưng, vì họ thuộc bên thua cuộc với một kẻ thắng cuộc chẳng xem ai ra gì nên họ bị trục xuất khỏi cộng đồng hương hồn người Việt.
Trong ngày 27/07, khi sự hòa hợp hòa giải dân như một thứ con tin, những lời hứa suông vô tâm hợm hĩnh, sẽ có rất nhiều gia đình Việt Nam có hai bàn thờ những đứa con đã mất; bàn thờ đứa liệt sĩ sẽ có hoa tươi, đầy tự hào; bàn thờ của đứa bên kia, lạnh lẽo.
Đó là hậu quả, cũng chính là nguyên nhân của cuộc chiến. Không vinh dự gì với cái gọi là chiến thắng với cuộc chiến oái ăm như vậy.
Xích Tử


CỘNG SẢN THÌ THẰNG NÀO CŨNG NHƯ THẰNG NÀO, KHÔNG BIẾT LÀM KINH TẾ, LÀM RA TIỀN, NHƯNG XÀI PHÁ TIỀN THÌ GIỎI

Bắc Triều Tiên kỷ niệm 60 năm ngày đình chiến, Bình Nhưỡng ca ngợi 'Ngày chiến thắng'


Nữ Bắc Triều Tiên diễu binh sĩ trong một cuộc diễu hành quân sự hàng loạt trên quảng trường Kim Il Sung ở Bình Nhưỡng để đánh dấu kỷ niệm 60 năm chiến tranh hiệp ước đình chiến Triều Tiên Thứ Bảy 27 tháng 7, năm 2013. (AP Photo / David Guttenfelder)



Đoàn Thanh Niên Cọng Sản tham gia cuộc diễn hành mang theo những lá cờ quốc gia của Bắc Triều Tiên, thứ Bảy 27 tháng 7, năm 2013 trong một cuộc diễn hàn kỷ niệm 60 năm ngày đình chiến Chiến tranh Triều Tiên ở Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên. (AP Photo / Wong Maye-E)




Phụ nữ Bắc Triều Tiên hô khẩu hiệu chào mừng lãnh đạo Kim Jong n trong một cuộc diễn hành  quảng trường Kim Il Sung ở Bình Nhưỡng để đánh dấu kỷ niệm 60 năm chiến tranh hiệp ước đình chiến Triều Tiên Thứ Bảy 27 tháng 7, 2013. (AP Photo / David Guttenfelder)


Cựu chiến binh Bắc Triều Tiên vẫy chào lãnh đạo heo Ũn trong một cuộc diễn hành trên quảng trường Kim Il Sung ở Bình Nhưỡng để đánh dấu kỷ niệm 60 năm chiến tranh hiệp ước đình chiến Triều Tiên thứ bảy 27 Tháng Bảy, 2013. (AP Photo / David Guttenfelder)



    












Cặp Song sinh

Minh Văn
Chia sẻ bài viết này

Đối với con người mà nói, từ tư duy cảm quan sẽ dẫn đến hành động, đó là một cặp phạm trù mang tính logic nhân quả. Hay nói cách khác, suy nghĩ nào thì việc làm nấy. Vì lẽ đó mà cách thức tư duy vô cùng quan trọng trong cuộc sống chúng ta, nó quyết định sự tốt xấu, thành bại của vấn đề. Xã hội có hạnh phúc phồn vinh hay không là phụ thuộc vào cách mà con người dựng xây nó. Hành động của chúng ta phụ thuộc vào phương pháp tư duy, mà người ta vẫn quen gọi là não trạng. Não trạng quyết định hành động, hành động tạo nên con người, và con người thì tạo nên xã hội. Có nghĩa là: Não trạng nào thì xã hội nấy.
Có não trạng dân chủ và có não trạng độc tài. Não trạng dân chủ tạo nên xã hội dân chủ, não trạng độc tài được nuôi dưỡng bởi xã hội độc tài.
Với xã hội dân chủ mà nói, thì những con người sống trong đó có thói quen hành xử bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau. Người ta sống và làm việc theo pháp luật, vì thế mà xã hội có quy củ và văn minh. Từ đó mà đất nước phát triển, cuộc sống tự do hạnh phúc. Nhân dân là người quyết định vận mệnh đất nước, bầu ra chính phủ, kiểm tra và giám sát nó. Chính phủ là người làm thuê cho dân và phải hết lòng phục vụ dân. Tất cả những thói quen hành xử đó là sự thực, không phải là khẩu hiệu lừa dối.
Môi trường xã hội nuôi dưỡng tư duy con người, do đó mà tư duy không ngừng tăng trưởng. Môi trường tạo nên con người, và con người quay lại cải tạo môi trường, tốt hay xấu là do xã hội đó quyết định. Xã hội tốt thì tư duy tốt, và tư duy tốt lại phụng sự xã hội. Ngược lại, xã hội sai trái thì đẻ ra tư duy sai trái, vì thế xã hội ngày càng rối ren bởi sự sai lầm mà tư duy đó mang lại.
Vì vậy mà chúng ta gọi “Tư duy não trạng” và “Xã hội” là một cặp song sinh.
Từ xưa tới nay, các chế độ độc tài vốn vẫn tồn tại dựa trên sự thống trị tuyệt đối của kẻ cầm quyền, kết hợp với sự phục tùng sợ hãi của nhân dân. Với kẻ độc tài mà nói, thì chúng bao giờ cũng đúng, và người khác bao giờ cũng sai. Chỉ có ý chí lãnh đạo chủ quan của kẻ cầm quyền và sự phục tùng vô điều kiện của người dân. Thái độ ích kỷ đó của kẻ độc tài giống như một đứa trẻ hư và dốt nát, chỉ biết có mình mà không bao giờ nghĩ cho người, chỉ biết mình đúng mà không nghĩ rằng người khác cũng có lý của họ. Đứa trẻ đó lớn lên nhất định sẽ trở thành tội phạm mà làm hại xã hội, gây nên những mất mát đau thương.
Có nhiều ý kiến cho rằng: Có lãnh đạo độc tài thì mới có thế độ độc tài.
Chúng tôi cho rằng ý kiến trên là sai. Vì rằng lãnh đạo độc tài là sản phẩm tất yếu của một xã hội có não trạng độc tài. Nếu không có môi trường độc tài nuôi dưỡng thì làm sao có lãnh đạo độc tài? Vì trong môi trường dân chủ, nếu tự dưng có một lãnh đạo độc tài nào đó xuất hiện thì cũng sẽ bị nhân dân lật đổ ngay. Do vậy mà những kẻ độc tài cố công gieo rắc não trạng và tư tưởng độc tài để phục vụ cho mục tiêu thống trị, làm nền tảng cho sự tồn tại của chúng.
Mối liên quan tương hỗ giữa não trạng tư duy và môi trường xã hội là không thể tách rời, nó là một cặp phạm trù hữu cơ.
Để xây dựng một xã hội dân chủ tốt đẹp thì phải có những con người có tư tưởng dân chủ. Biết và hiểu rõ về xã hội độc tài là điều rất cần thiết, nó giúp chúng ta đào thải cách thức tư duy xấu xa của những kẻ độc tài.
Chúng ta đang ở trong một chế độ độc tài vào loại hà khắc nhất trên thế giới, vì vậy mọi người dân Việt Nam hãy nhớ kỹ rằng: Đối với kẻ độc tài thì chúng bao giờ cũng đúng và người khác bao giờ cũng sai, chúng không bao giờ sai và người khác không bao giờ đúng, chúng sinh ra để đúng còn người khác sinh ra để sai, chúng sinh ra để thống trị còn người khác sinh ra để phục tùng.
Chính vì não trạng đó mà đã đẻ ra một xã hội độc tài phi nhân và hà khắc mà chúng ta đang phải sống hôm nay. Vì rằng não trạng và xã hội là một phạm trù, nó là một cặp song sinh.
01/08/2013

Lạm bàn về cái Đẹp

Phiếm đàm của Vương Văn Quang

Triết gia nào đó đã nói, cuộc sống là một hành trình chinh phục, vươn tới cái đẹp
Vậy cái đẹp là gì?
Cái đẹp của người đàn ông hiện đại tỷ lệ thuận với độ sang trọng của chiếc xe anh ta sở hữu và dãy số trong tài khoản ngân hàng của anh ta. Điều này đúng với mọi sắc dân trên thế giới
Phụ nữ thì đơn giản hơn.
Vẻ đẹp của phụ nữ chỉ phụ thuộc vào những thứ lặt vặt như độ dài của chân hay độ lớn của ngực hoặc độ mịn màng của làn da … Có khi rất đơn giản, chỉ cần một đôi môi gợi dục. Điều này chỉ đúng một cách tương đối bởi nó còn phụ thuộc vào lối sống, văn hóa hay quan niệm/trình độ thẩm mỹ của từng sắc dân. Chúng ta có thể dễ dàng quan sát, đối chiếu…Ví dụ, đồ trang sức của phụ nữ trong các bộ lạc vùng Tây Phi khác hẳn đồ trang sức của phụ nữ Bắc Âu, về mầu sắc, kích cỡ, chất liệu…
Như vậy, có thể thấy, để trở nên/thành cái đẹp, người đàn ông hiện đại chịu áp lực lớn hơn phụ nữ nhiều. Phụ nữ, chẳng cần cố gắng lắm, không phải vì họ là “phái đẹp” (gọi phụ nữ là “phái đẹp” là cách nịnh đầm vô cùng lố bịch của đàn ông, và hơn thế nữa, nó chứng tỏ tư tưởng nam quyền, phụ hệ) mà bởi vì phụ nữ nào cũng có một hai chi tiết gì đó đẹp. (Trường hợp quá hẩm hiu, họ có thể nhờ sự can thiệp một cách dễ dàng nhanh chóng của y khoa hiện đại).
Vì đâu có sự bất bình đẳng này? Tất cả đều do sự bất cẩn của Thượng Đế cùng với những thiếu sót cẩu thả khi ông ta chế tác loài người cho dù thật ra ông ta khá cẩn thận và rất cố gắng cho sự công bằng. Nguyên tắc của Thượng Đế khi nhào nặn chế tác loài người như sau (theo từ điển bách khoa toàn thư Hy Lạp-Việt Nam cổ trung đại, gọi tắt là Hy-Việt):
Nếu phụ nữ có những đường cong tuyệt mĩ thì đàn ông có những đường thẳng huy hoàng. Để bù lại bộ ngực đẹp tuyệt vời (đẹp đến kinh khủng hoảng) của phụ nữ, đàn ông được Thượng Đế chắp cho đôi cánh nho nhỏ hồng hồng chỉ để làm dáng chứ không bay được như các thiên thần…, và vân vân nhiều thứ bù trừ khác nữa.
Nghĩa là, sự đẹp ở hai phái thủa ban đầu là như nhau, rất cân bằng. Nhưng sau khi quyết định trao cho phụ nữ chức năng sinh đẻ, Thượng Đế ngắm nghía lại loài người và ông ta chợt giật mình đánh thót khi nhận ra rằng mình đã không công bằng, thậm chí, cực kì bất công. Hai bên cùng đẹp như nhau mà một bên phải sinh đẻ nuôi con trong khi một bên chỉ rong chơi thì công bằng cái nỗi gì? Nghĩ vậy nên ông ta quyết định lập lại sự công bằng bằng cách lột sạch sẽ những ưu điểm, những cái đẹp của đàn ông. Nào đường thẳng huy hoàng, nào đôi cánh nho nhỏ hồng hồng, nào nào nào… v.v. và v.v
Và hậu quả là, như chúng ta đã thấy, đàn ông ngày nay nếu trừ đi quả trjm, hắn chỉ còn là một sinh vật vô cùng dị hợm. Chính vì điều này nên vị bác sĩ có óc tưởng tượng phong phú nhất thế kỉ 20, Sigmund Freud, đã tưởng tượng ra chứng bệnh “ám ảnh ghen dương vật” nơi nữ giới. Nói chung, những căn bệnh do S.Feud tưởng tượng ra vẫn còn ảnh hưởng một cách sâu sắc tới giới y khoa ngày hôm nay.

Cái đẹp [hình chỉ mang tính minh họa]
Để nỗ lực cân bằng vẻ đẹp với nữ giới, người đàn ông cổ đại lấy sức mạnh, sự nhanh nhẹn làm yếu tố đo lường vẻ đẹp, hay nói cách khác, đàn ông cổ đại đã tuyên truyền, áp đặt ý chí lên thế giới, rằng sức mạnh cũng là tiêu chí của cái đẹp (thực ra, với Thượng Đế, những yếu tố này không được coi là cái đẹp. Vì vậy, những yếu tố ấy ngài ban phát rất đều cho cả hai phái. Nhưng do chăm chỉ luyện tập, dần dần sức mạnh người đàn ông trở nên vượt trội) nên đàn ông ra sức xiển dương cổ vũ cho sức mạnh, hay sự nhanh nhẹn. Tóm lại, đàn ông đạt được những phẩm chất này bằng một sự khổ luyện duy ý chí. Hắn vào rừng săn thú, lặn xuống sông bơi ra biển đánh cá bắt tôm, leo lên núi sưu tầm dược thảo …, tất cả những hành vi đó không phải hoàn toàn chỉ để thoả mãn nhu cầu tồn tại, mà phần lớn những hành vi đó chính là sự luyện tập để tăng cường sức mạnh hòng lấy đó để cân bằng cái đẹp với nữ giới.
Ở người đàn ông hiện đại, khi nhu cầu sinh tồn bằng thú săn không còn (Ngày nay, muốn có bất kì thứ thịt gì, người ta đâu cần vào rừng, mà chỉ cần vào siêu thị), hắn chỉ còn một cách luyện tập duy nhất là ra sức kiếm tiền. Hãy nhớ rằng, kiếm tiền cũng tựa như đi săn thú, bắt cá…, nghĩa là, kiếm tiền không hoàn toàn là để sống, tồn tại, mà kiếm tiền chủ yếu là để thể hiện cái đẹp.
Kiếm tiền thì như tất cả chúng ta đều biết, không thể kiếm tiền nhanh nhiều bằng sức mạnh đôi tay sức bật tốt cặp chân hay phản xạ nhậy bén, mà chủ yếu bằng mưu mẹo, tức là sức tư duy của bộ não. Bởi vậy, người đàn ông hiện đại buộc lòng luyện tập sức mạnh của bộ não. Chính vì điều này nên đàn ông ngày nay có vẻ như thông minh hơn phụ nữ. Nhiều người cho rằng, cấu tạo bộ não của đàn ông ưu việt hơn phụ nữ. Và, họ cho rằng, đó là do ý muốn của Thượng Đế. Thực tế thì bộ não đàn ông và đàn bà là như nhau, và đó mới chính là ý đồ của Thượng Đế.
Qua một số phân tích như trên, có thể thấy rằng, một số phụ nữ ngày nay đã khẳng định mình bằng cách làm tất cả những gì giống như đàn ông, thậm chí từ chối khả năng sinh đẻ, từ chối thiên chức làm mẹ và họ gọi đó là “nữ quyền” là một sai lầm một sự hoang tưởng vĩ đại.
Như vậy, lịch sử loài người cũng là lịch sử tranh giành cái đẹp giữa hai phái, chứ không hẳn như triết gia nào đó đã nói (như trên dòng đầu tiên của bài viết này) cuộc sống là hành trình vươn tới cái đẹp. Mà cái sự tranh giành ấy lại chủ yếu là do đàn ông tranh với đàn bà. Lỗi này không phải do đàn ông, không phải tại đàn ông nhỏ nhen ti tiện, mà hoàn toàn do Thượng Đế, khi ông ta tước bỏ mọi cái đẹp của người đàn ông.
Cái gì cần tranh giành mới đạt được, cái đó là quyền lực. Điều đó là tiên đề. Như vậy, cái đẹp cũng chính là quyền lực. Mà tiền cũng phải tranh bỏ mẹ mới có, do đó tiền cũng là quyền lực. Suy theo logic tam đoạn luận, tiền cũng là cái đẹp.
Karl Marx, cha đẻ học thuyết dị mọ, thuyết cộng sản, tức là thuyết dùng chung, công cộng tài sản. Có lần ông ta đã viết như sau:
“Vì tiền có đặc tính là có thể mua được bất cứ thứ gì, có thể sở hữu mọi vật, nên nó là thứ giá trị nhất… Phạm vi quyền lực của tôi lớn như quyền lực của lượng tiền mà tôi sở hữu… Do đó, tôi là ai và tôi có thể làm gì không mảy may bị cá tính tôi quyết định. Tôi xấu, nhưng tôi có thể mua cho mình những người phụ nữ đẹp nhất. Vì thế tôi không xấu, khi tác động của cái xấu, khả năng gây chán chường, bị tiền tiêu hủy”- trích theo một tiểu luận của Umberto Eco
Nhận xét này, có lẽ, không cần bàn cãi. Vì nó đúng. Quá đúng. Đúng quá. Chỉ có điều, do hạn chế về năng lực nên Marx diễn giải hơi tối tăm rối rắm, kém trong sáng, kém duyên dáng và hấp dẫn.
Riêng xã hội Việt Nam ngày nay, điều này càng trở nên đúng hơn hết, hay nói cách khác, sự đúng của điều này trong xã hội Việt Nam hôm nay đang trở nên tuyệt đối.
Những diễn giải bên trên cộng hưởng & giao thoa với nhận định của triết gia Karl Marx, khiến ta có thể đưa ra định lý sau:
Tôi có tiền, vậy tôi đẹp (togo eum yomo ghum)
Và đảo lại, định lí vẫn mang nguyên nghĩa, tức vẫn đúng:
Tôi xấu, vì tôi không tiền
Theo định lý này, ta hãy thử xem xét, trong xã hội Việt Nam ngày nay, ai là người đẹp và ai là kẻ xấu.
Qua quan sát bằng nhiều cách, tham khảo bằng nhiều nguồn, ta thấy (một cách rõ ràng) rằng, kẻ xấu nhất trong xã hội Việt Nam ngày nay là tầng lớp lao động tay chân, dân nghèo (xếp theo thứ tự từ nghèo mạt rệp [xấu điên] tới hoàn cảnh khó khăn túng bấn [hơi bị ô mai sấu]):
- Công nhân
- Nông dân
- Thợ thủ công
- Trí thức
- Tiểu thương
- Doanh nghiệp nhỏ (có tính chất gia đình)
- … và còn nữa, do thống kê hơi bị vội nên chưa đầy đủ
Và những người đẹp (xếp theo thứ tự nứt đố đổ vách [cực đẹp] tới ăn tiêu hồn nhiên, không phải tính toán nghĩ ngợi nhiều [duyên dáng Việt Nam]) là những người thuộc các tầng lớp linh tinh, không có tính đại diện xã hội:
- Uỷ viên trung ương đảng
- Thành phần trong nội các chính phủ
- Quan chức công chức hàm chuyên viên
- 87,5% đảng viên cộng sản làm cán bộ các loại từ trung ương tới địa phương (12,5% còn lại bị mắc chứng tâm thần nên không thích tiền)
- Con ông cháu cha
- … và còn nữa, nhưng chưa kịp thống kê chính xác/sát
Như vậy, chúng ta có thể thấy, sự xấu đẹp trong xã hội ta là khá cân bằng. Cú này lại phải ngửa mặt lên giời mà gào lên một mệnh đề triết học: Ơn Bác! Ơn Đảng!
Vậy hoa hậu các loại hoa khôi các kiểu, minh tinh màn bạc, ngôi sao sân khấu ca nhạc thời trang…, nói chung là giới nghệ sĩ, hay nói theo cách sành điệu là giới celeb, celebrity… họ có đẹp không?
Tất nhiên, họ cũng thuộc hàng người đẹp, tuy nhiên, vẻ đẹp, cái đẹp của họ là cái-đẹp-bị-động. Nghĩa là hôm nay thì đẹp nhưng mai có thể xấu như ma. Bởi vì tầng lớp này thường được/bị những người đẹp nhất trong xã hội mua làm đồ chơi, đồ giải trí, thư giãn. Do đó, khi những người đẹp nhất chán chơi bời, thư giãn, thì đương nhiên, giới người-đẹp-bị-động, sẽ bị họ, những người đẹp nhất quẳng vào sọt rác hoặc cân kí bán ve chai. Khi đó, những người-đẹp-bị-động này có thể còn xấu hơn cả những kẻ xấu nhất như là công nhân hay nông dân.
VVQ - viết vào cái đêm hôm ấy đêm gì - 2006

Dân khí suy đồi và trách nhiệm của người Việt Nam

Võ Thị Hảo
Chia sẻ bài viết này
“Dân khí nước ta bị suy giảm quá tệ… Khiếp sợ quen thói, nghe và thấy chật hẹp, tai như điếc, mắt dường mù… Người dưới phải làm điều đê tiện mà không biết hổ, phải chịu sự ô nhục mà không biết thẹn…
(Phan Bội Châu – Bức thư viết bằng máu và nước mắt từ đảo Lưu Cầu).
Chuyện cướp bóc ở làng Vĩ Đại
Làng ấy nhỏ, nhưng có tính vĩ cuồng nên tự đặt tên là làng Vĩ Đại.
Ông Cột sống giữa làng Vĩ Đại gồm ba mươi ba người. Xung quanh có ông Kèo, bà Ninh, người làng cùng một số côn đồ.
Đám côn đồ chuyên hà hiếp cướp đoạt. Mỗi tháng tại làng có trung bình 9 vụ cướp bóc.
Người làng nhìn thấy nhưng lờ đi, chỉ đến khi mình là nạn nhân, mới kêu khóc thì đã muộn.
Không đành lòng, ông Cột, ông Kèo và bà Ninh bèn bênh vực những nạn nhân. Đám côn đồ phải chùn tay. Số vụ cướp bóc giảm còn 6.
Đám côn đồ ấy tức lắm, một hôm liền dựng ra một vụ đánh ghen, xúm lại đánh ông Cột, đã thế còn hô hào dân làng vào đổ tội, bêu riếu, làm nhục, làm chứng giả. Ông Cột bị ném đá gãy nát một chân, rồi từ đó cũng ê chề vì người làng xử ác, không dám lên tiếng nữa.
Số vụ cướp bóc tăng lên 1/3, lại trở thành 9 vụ.
Ông Kèo và bà Ninh vẫn liều mạng bênh vực người lành. Bọn côn đồ thấy chiêu dối trá bạo lực hiệu quả, liền đổ cho ông Kèo tội ăn cắp. Tòa án làng dẫu biết Kèo vô tội nhưng vẫn tống Kèo vào ngục.
Thế là chỉ còn bà Ninh đơn thương độc mã. Số vụ cướp bóc tăng lên thành 15. Thu nhập của đám côn đồ tăng theo. Mỗi tháng, tại làng Vĩ Đại có khoảng 15 nạn nhân.
Bọn chúng được đà, lại đổ tội làm giấy tờ giả, đưa tiếp bà Ninh vào tù. Số vụ cướp bóc tăng lên 20 rồi 25…
Bây giờ thì những người không phải côn đồ đều trở thành nạn nhân. Nhiều người trong đám côn đồ cũng bị kẻ mạnh hơn hà hiếp.
Lúc đó, có người dân làng Vĩ Đại mới đập đầu kêu khóc mà rằng: Bây giờ chúng ta dở sống dở chết, chẳng còn ai cứu giúp. Giá như ngày trước chúng ta dám kêu lên, không mặc kệ ân nhân bị hành hạ, không làm chứng dối, ném đá tiếp tay cho bọn cướp hãm hại người lành thì đâu đến nông nỗi này…”.
Sự dối, bạo lực và dân khí suy đồi
Câu chuyện trên đây là thực tế đang có ở nhiều nơi tại VN, khi rất nhiều người trong chúng ta đã bỏ qua lương tri và sự thật, im lặng, vô cảm trước sự oan khuất của đồng bào mình.
Nhiều người đã từng chua chát tự hỏi, trong đám đông chen chúc kia, trong đồng nghiệp, trong hàng xóm, trong bạn bè, trong những nhà chức trách tại cơ quan đoàn thể… khi chúng ta làm điều đúng, khi bị oan khuất, liệu có bao nhiêu người trong số họ dám đứng ra nói sự thật và bênh vực ta?
Ai? Hy vọng nào ở đám người hoặc hèn nhát hoặc tham lam vô cảm chỉ sáng tối làm bóng lộn bộ da và căng đầy cái dạ dày của mình, sống chết mặc bây?
Hy vọng nào từ đa số dân biểu, quan chức, cơ quan đoàn thể, nhà báo, luật sư, văn nghệ sĩ, quan tòa, quân đội, công an, nhà khoa học, nhà giáo… – những người có công cụ ngôn ngữ, quyền lực hoặc vũ khí có thể bảo vệ công lý nhưng đã và đang cúi đầu khoanh tay câm lặng, chỉ lên tiếng khi đụng đến quyền lợi của chính họ?
Đa phần mọi người đều nói rằng tìm người có dũng khí và trung thực bây giờ thật khó như tìm kim đáy biển.
Chính bởi thế, chúng ta là số đông, gần cả trăm triệu người, nhưng lại bị gọi là một đám đông hèn yếu, thậm chí còn không dám mở miệng cất lời bảo vệ chính mình, cam tâm nô lệ, còn nói gì đến việc bảo vệ người khác!
Đó là sự suy đồi của dân khí.
Vấn đề thịnh suy của một đất nước, đương nhiên ở trách nhiệm nhà cầm quyền, nhưng không thể không tính đến nguyên nhân dân khí.
Khí chất và khí phách của người dân thể hiện trong tính cộng đồng, trách nhiệm xã hội, trong sự lựa chọn, dám tôn vinh sự thật, biết tri ân những người vì cộng đồng và công lý, dám chống lại bất công, bạo ngược.
Dân khí mạnh buộc kẻ ác phải chùn tay và phải cư xử đúng mực. Dân khí cũng khiến mỗi người có được sức mạnh tinh thần để thoát vòng nô lệ luôn chờ chực bủa vây.
Chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu từng xót xa khi bàn về dân khí.
“…Cái tệ ấy buổi đầu là do tính nhu nhược, theo mãi, hóa ngu hèn đến nỗi … có miệng lưỡi mà không biết trình bày,…u mê gàn dở, không chút căm giận, sao mà hèn nhát sút kém đến thế…( Phan Bội Châu toàn tập, tr 145. NXB Thuận Hoá Huế, 1990).
Hãy ngẫm nghĩ tiếp những lời của Phan Bội Châu: “ …Các người chỉ là một khối thịt sống, ù ù cạc cạc không biết cái gì, chỉ ngồi mà trách cứ lẫn nhau, trông mong lẫn nhau mà thôi…. đến nỗi cùng xô đẩy dắt díu nhau xuống hồ cả một lũ, một đoàn… Ngó lại các ngươi, ta chỉ hổ thẹn với con chó của tên Đạo Chích…” (Thời thế và anh hùng - Phan Bội Châu toàn tập, tr175-176, NXB Thuận Hóa Huế, 1990).
Những lời đó đã phản ánh tình trạng dân khí của người VN trong những năm đầu thế kỷ XX. Thời đó, với sự hà khắc của chế độ phong kiến, nếu dám trái ý triều đình, có thể bị tội tru di tam tộc.
Tệ thế, nhưng thời đó vẫn có những chí sĩ yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh và đông đảo người ủng hộ… Đám tang người tù yêu nước Phan Chu Trinh ngày 4/4/1926 có tới khoảng sáu vạn người Nam Kỳ (có tài liệu nói là khoảng mười vạn, tức là khoảng 1/3 dân số Sài Gòn) theo sau quan tài ông để bày tỏ lòng biết ơn và chí khí, bất chấp sự ngăn cấm của chính quyền, phong trào truy điệu để nối chí ông được tổ chức khắp ba kỳ.
Thật đáng buồn là sau hơn một thế kỷ, những nhận định của Phan Bội Châu vẫn mang tính thời sự, thậm chí thực tế ngày nay còn đáng đau xót hơn hơn.
Làm sao tưởng tượng nổi là không khí quy chụp tư tưởng, vu oan giá họa, xét xử bất cần công lý thuở Cải cách ruộng đất những năm 50 của thế kỷ trước dường như đang sống lại ở thời này ở nhiều vụ việc, tạo vô số dân oan ở nơi nơi. Trong một số bài báo và phóng sự truyền hình, thật nhục nhã cho nghề nhà báo khi một số người thay vì làm rõ sự thật như sứ mạng, thì lại “gắp lửa bỏ tay người” chỉ để đổi lấy tiền bạc, chức vị hoặc sự yên ổn!
Trên thực tế, tỷ lệ người trộm cắp cướp đoạt không lớn so với dân số nhưng sự hoành hành của chúng thật không giới hạn. Chỉ có thể ngăn chặn bằng cải cách thể chế. Một mặt khác, mỗi công dân cũng không thể không nhìn lại trách nhiệm của mình trong việc đã để dân khí suy đồi.
Tù nhân lương tâm - những Tráng sĩ công lý
Những tù nhân lương tâm – nằm trong số hiếm hoi những tráng sĩ vì đấu tranh cho lợi quyền chung, nhiều người trong số họ đang bị giam cầm đày đọa sau song sắt – lẽ nào ta không nợ họ?!
Khi tù nhân lương tâm Nelson Mandela khốn khổ vì bị nhà cầm quyền Nam Phi kết án chung thân, đày đọa ông trong tù tới 27 năm, mỗi người Nam Phi và người dân trên thế giới, kể cả người Việt Nam, đều nợ ông vì ông đã vì dám dũng cảm đứng lên chống lại chế độ phân biệt chủng tộc, bảo vệ quyền con người và tự do.
Mặc dù nhà cầm quyền đổ cho ông vô số trọng tội, bôi nhọ bằng mọi cách, nhưng ông đã được tôn vinh là người anh hùng của Nam Phi và thế giới, lĩnh tới hơn 250 giải thưởng, trong đó có giải Nobel Hòa bình, trở thành vị tổng thống dân cử đầu tiên của Nam Phi và là một trong những vị cứu tinh của nhân loại.
Tương tự, bà Aung San Suu Kyi đã bị chế độ độc tài quân phiệt Myanma nhục mạ, kết tội, giam cầm và quản thúc tới gần 21 năm chỉ vì bà lãnh đạo cuộc đấu tranh bất bạo động cho việc thiết lập một nền dân chủ và thể chế tiến bộ cho người Myanma. Bà cùng những đồng chí của mình đã thức tỉnh chế độ quân phiệt tàn bạo, khiến đất nước này gần đây phải chuyển đổi theo thể chế dân chủ và tự do. Bà là vị cứu tinh của Myanma, cũng được giải Nobel Hòa bình và được tôn vinh là một trong những vị anh hùng của thế giới.
Mỗi người Myanma, nếu có lương tri, đều biết rằng mình may mắn được nợ bà - nợ những nỗi thống khổ mà bà đã vì họ mà chịu đựng. Nợ những hoạt động nhằm xóa bỏ chế độ độc tài quân phiệt mà bà đã bền gan thực hiện cho bà và cho họ.
Khi xã hội loài người tiến lên được một bước về phía tự do, bình đẳng và công lý thì thường lại có rất nhiều người phải hy sinh trong công cuộc đấu tranh chống lại những thế lực luôn lấy việc cưỡng đoạt hạnh phúc của người khác để phục vụ cho quyền lợi riêng của chúng làm lẽ sống.
Suy cho cùng, không ai sống trên đời mà lại có thể chối bỏ hân hạnh gánh trên vai những món nợ tinh thần phải trả cho mình và cho cộng đồng, cho niềm hạnh phúc của con người.
Bởi thế bất kỳ công dân nào cũng có trách nhiệm đương nhiên phải đấu tranh cho tự do, nhân quyền và công lý cho mình và cho mọi người.
Đó là khí chất làm người, là dân khí, là nhân tố cốt lõi tạo nên nền công bằng và vững mạnh cho một đất nước.
Cần ý thức rằng, khi một người chối bỏ trách nhiệm đó, là đem lại tổn thương cho chính mình và cho xã hội. Trong nỗi oan khuất của người vô tội này bao giờ cũng hàm chứa mối đe dọa về nỗi oan khuất rồi cũng sẽ đến với những người khác.
Khi công dân ý thức được điều đó, nghiễm nhiên sẽ có phẩm giá của loài hiểu biết, hãnh diện về khí chất làm người của mình, sẽ không còn sợ hãi bóng tối và những sự đe dọa.
Khi nhận thức được như thế, sẽ có sức mạnh tinh thần để biết tạ ơn và biết hành động để trả nợ, để không chỉ sống cho ta, trong kiếp ngắn ngủi này, mà biết còn hân hoan sống cho cộng đồng.
Người Việt Nam hãy “mở miệng”
Người Việt Nam, đương nhiên mỗi người cũng mang món nợ của mình.
Như người làng Vĩ Đại nợ những giọt máu, nợ cái chân gãy, nợ sự oan khuất và tự do bị tước đoạt của ông Cột ông Kèo bà Ninh…
Ta hân hạnh nợ nần bao nhiêu người anh hùng bảo vệ đất nước, chống tham nhũng - ma túy - cướp bóc, những nhà tư tưởng và nhà khoa học vì con người. Ta nợ bao Tráng sĩ lương tâm – họ xứng đáng được tôn vinh là Tráng sĩ – vì có bản lĩnh dám chỉ ra những cái sai cho nhà cầm quyền biết, thực chất là họ đã giúp nhà cầm quyền để củng cố nền hòa bình, công lý và tự do.
Thật đau lòng là nhiều người trong số họ lại đang bị giam cầm và hành hạ sau song sắt nhà tù. Đa phần trong số họ là vô tội. Càng bị đàn áp, bôi nhọ, bản lĩnh và phẩm chất của họ càng tỏa sáng.
Những người dám nói lên sự thật, đòi quyền làm người, dám phản đối cái ác và bất công, hoàn toàn không hề là người đối lập với đảng và chính phủ Việt Nam, mà chính nhiều cá nhân, tổ chức nằm trong hệ thống quyền lực đã có những hành vi ngày càng đối kháng với quyền lợi chính đáng của nhân dân, đất nước.
Nhưng danh sách tù nhân lương tâm tại Việt Nam tăng theo mức độ đàn áp. Chỉ trong nửa đầu năm 2013 này đã có tới khoảng 50 người bị bắt giam. Theo công luận và nhiều luật sư, họ đã bị kết tội oan. Đặc biệt bất công là trường hợp quy tội “trốn thuế” cho Điếu Cày và luật sư Lê Quốc Quân để bỏ tù và đối xử tàn nhẫn với họ, trong khi vô số cá nhân, công ty, đại gia, người trong giới biểu diễn… thiếu thuế hàng chục, hàng trăm tỷ đồng, thì chỉ truy thu và được gọi là “kê khai thiếu chứ không phải trốn thuế” (theo trả lời PV của bà Lê Thị Thu Hương, Phó cục trưởng Cục thuế TP HCM - Theo VNExpress- 27/7/2013).
Gần đây, việc bị dồn vào tình thế phải tuyệt thực liên tiếp của một số tù nhân lương tâm như Cù Huy Hà Vũ, Lê Quốc Quân, Điếu Cày… và cuộc nổi dậy bất đắc dĩ của tù nhân tại trại giam Z30 A Xuân Lộc – Đồng Nai ngày 30/6/2013 vừa rồi đã lại làm phẫn nộ thêm nhiều người có lương tri trong và ngoài nước.
Hiện trạng ấy khiến cho dư luận đặt ra nhiều câu hỏi nhức nhối. Thật trái đạo lý, và có khôn ngoan không, khi nhà chức trách đang chọn cách giải quyết những vấn nạn chính trị - kinh tế - xã hội bằng súng và xiềng xích đe nẹt tự do ngôn luận thay vì cải cách thể chế và cải cách kinh tế?
Chỉ tìm cách đổ lỗi cho các “thế lực thù địch diễn biến hòa bình” bên ngoài chứ không cắt bỏ khối ung bướu ngay trong thể chế, đó thực ra là một sự “tự sát”, không những làm trầm trọng thêm các vấn đề cấp bách hiện nay mà còn khiến Việt Nam càng thêm giảm uy tín và khiến cộng đồng quốc tế không thể làm ngơ.
Việt Nam hiện đang bị xếp thứ gần chót hạng (172/179 quốc gia) trong bảng Chỉ số Tự do Báo chí thường niên 2013 do tổ chức Phóng viên Không biên giới thực hiện.
Không phải vô cớ, không chỉ có sự đòi hỏi từ một số đồng bào Việt Nam, mà ngày càng dồn dập tăng số lượng cá nhân và tổ chức trung lập có uy tín trên thế giới bày tỏ sự ủng hộ đối với những nhà phản biện và tù nhân lương tâm Việt Nam, đòi phải lập tức trả tự do cho họ.
Ngày 18/4/2013, Quốc hội chung châu Âu thông qua nghị quyết tố cáo Việt Nam đàn áp tự do ngôn luận và hạn chế tự do tôn giáo.
Ngày 17/6/2013, có tới 12 tổ chức NGO, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền Thế giới, Trung tâm nhân quyền Kennedy (Mỹ) và một đoàn gồm 12 nghị sĩ Mỹ… cũng lên tiếng mạnh mẽ yêu cầu chính phủ Việt Nam phóng thích ngay luật sư vô tội Lê Quốc Quân, đồng thời yêu cầu chấm dứt việc đàn áp các luật sư và các nhà chỉ trích chính phủ về vấn đề nhân quyền.
Ngày 27/6/2013, bản Dự thảo về luật nhân quyền cho Việt Nam được Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ thông qua, đưa ra cảnh báo dứt khoát cho Việt Nam là phải cải thiện về nhân quyền, nếu không muốn có những tổn hại về kinh tế và thương mại, hoặc những nguồn viện trợ nằm ngoài chính sách nhân đạo từ Mỹ.
Một Dự luật nhân quyền cho Việt Nam và Dự luật chế tài nhân quyền Việt Nam, hiện đang được trình cho Hạ nghị viện và rồi Thượng nghị viện Mỹ, là những hành động cảnh báo mạnh mẽ để Việt Nam cân nhắc lại và hành xử cho đúng với những văn bản đã ký cam kết về Quyền con người cùng thế giới.
Trong hoàn cảnh Chủ tịch nước Việt Nam vừa ký văn bản cam kết hợp tác toàn diện với Mỹ, nếu Việt Nam không cam kết suông, thì vấn đề cải thiện nhân quyền tại Việt Nam lại càng cấp bách hơn bao giờ hết.
Mỗi người Việt Nam xin hãy tỉnh táo để tránh thảm họa đều trở thành nạn nhân của nạn côn đồ cướp bóc, như người dân làng Vĩ Đại. Hãy mở miệng bảo vệ chính chúng ta và các Tráng sĩ công lý.
Mỗi người Việt Nam vốn đều mang căn tính thiện và dũng khí trong mình, với lòng yêu công lý, hòa bình và hạnh phúc.
Vậy hãy để cho căn tính này được tự nhiên bộc lộ.
Hãy hồn nhiên “mở miệng” như tạo hóa vốn tạo nên ta thế. Như một sự xác tín rằng ta là con người, xứng đáng được hưởng những quyền tối thiểu đương nhiên của con người đã được tạo hóa ban cho. Nếu sống mà không có quyền tự do ngôn luận, quyền được hưởng công lý và bình đẳng, thì sống khác nào đang chết.
Mỗi công dân Việt Nam, nếu cố gắng vượt qua sự sợ hãi và vô cảm thì chắc chắn sẽ chấn hưng được dân khí.
Người Việt Nam cũng biết hân hạnh mang nợ và trả nợ lương tâm. Như thế không phải là chống đối nhà cầm quyền, mà là thức tỉnh họ phải trở lại con đường đồng hành cùng nhân dân xây dựng một nền dân chủ, tự do, đất nước toàn vẹn lãnh thổ và giàu mạnh.
V.T.H.

Bàn về hiệu quả thực tế của những “vũ khí” giữ gìn Biển Đông

Hà Sĩ Phu
Chia sẻ bài viết này


(Tham luận gửi Trung Tâm Minh Triết)
Trước hết xin cảm ơn anh Nguyễn Khắc Mai, giám đốc Trung tâm Minh triết đã có thư mời tôi đến dự cuộc họp mặt của các tác giả có công trình về chủ quyền Biển Đảo Việt Nam.
Tôi rất muốn có mặt để trực tiếp được nghe ý kiến các tác giả đã dày công nghiên cứu sưu tầm tư liệu về chủ quyền nước ta tại Hoàng Sa - Trường Sa và chia sẻ quyết tâm sắt đá giữ gìn Biển Đảo, nhưng do điều kiện sức khỏe không ra Hà Nội dự được, tôi xin có một lời bàn ngắn ngủi gửi đến cuộc họp mặt, với sự hiểu biết còn hạn hẹp, cũng mong góp phần nhỏ vào cuộc trao đổi thân mật và rất có ý nghĩa này.
Trước hết, dù là vũ khí chính trị, vũ khí ngoại giao, quân sự, lịch sử, văn hóa, dân vận…xin gọi chung là “vũ khí”.
Về vũ khí lịch sử, chúng ta đã sưu tầm được những văn bản, những bản đồ, hiện vật chứng minh từ hàng thế kỷ nay Hoàng Sa-Trường Sa đã thuộc vùng quản lý của tổ tiên ta, trong khi chính bản đồ của Trung Quốc từ năm 1904 đã cho thấy ranh giới của họ chỉ đến đảo Hải Nam, những tư liệu lịch sử ấy rất quý giá, kết tinh tấm lòng và công sức của nhiều người, như những vũ khí rất có giá trị. Đã có nhiều tác giả, nhiều công trình, nhiều sáng kiến đáng tôn vinh trong buổi gặp mặt này, nhưng để các “vũ khí” phát huy được hiệu quả mong muốn, tôi xin bổ sung mấy điều sau đây:

1/ Phải có chỗ cho chứng cứ phát huy

Ta nói đó là những chứng cứ “không thể tranh cãi” nhưng không thể tranh cãi là trong một môi trường có CÔNG LÝ và NHÂN TÂM, chứ vô tác dụng trước một kẻ đã quyết một bề truyền kiếp xâm lược, chỉ cãi chày cãi cối, ngổi xổm lên Nhân tâm và Công lý, những lời thiện tâm chỉ là giả vờ để che mắt và bịt miệng. Vậy làm thế nào để buộc đối phương phải đối mặt với Công lý và Nhân tâm?
Về Công lý, muốn buộc đối phương phải đối mặt cần đưa các bằng chứng ấy lên Tòa án quốc tế, mà Philippines đã cho ta một tấm gương. Chủ trương đối thoại tay đôi với kẻ mạnh đang ức hiếp mình chính là vô tình hay hữu ý tiếp tay cho nó “ngọt ngào thôn tính” đất nước mình. Không chống được sai lầm này thì những chứng cứ của ta cũng vô tác dụng.
- Về nhân tâm, nếu song song với những chứng cứ lịch sử, mà nhà nước lại bỏ tù những người lên tiếng chống kẻ xâm lược thì khác nào tạo ra một môi trường phản nhân tâm, cả nhân tâm trong nước và nhân tâm thế giới, còn ai tin vào kế sách chống xâm lược của một nhà nước như thế? Trong một môi trường thiếu vắng sức mạnh của Nhân tâm như vậy thì chứng cứ lịch sử phỏng có giá trị gì?

2/ Giá trị thời gian trong chuỗi chứng cứ

Trong môi trường của Nhân Tâm và Công Lý thì những chứng cứ lịch sử càng có niên đại xa xưa càng có giá trị, càng đáng tin cậy, càng thuyết phục lòng người. Trái lại trong môi trường “chày cối” và ức hiếp thì dẫn chứng càng xa xưa càng không đáng để ý, càng thua kém những sự thực đang diễn ra trước mắt.
Để dễ hiểu ta lấy ví dụ vườn tược nhà anh A bị anh B láng giềng bày mưu chiếm lĩnh. Anh A đem gia phả nhà mình ra chỉ cho tên hàng xóm thấy chủ quyền của A. Tên hàng xóm chẳng hề nao núng, liền bảo: Tôi cóc cần biết đây là của cụ 5 đời hay 10 đời của anh, đấy là việc của gia đinh anh, chỉ biết mới năm ngoái chính bố anh lúc còn sống đã xác nhận khu vườn ấy là của tôi rồi, có chữ ký của bố anh rành rành ra đây! Con cháu đã đem gán nợ cho người ta rồi còn giở gia phả làm chi cho rách việc?
Vì thế công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 là một căn cứ quan trọng để họ khẳng định ý kiến của Việt Nam đã chấp nhận Hoàng Sa - Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Quốc, bất chấp những bằng chứng xa xưa. Muốn giữ Biển Đảo thì phải phủ định giá trị pháp lý của Công Hàm ấy là việc cần phải làm. Nhưng như thế vẫn chưa đủ, những ký kết, những nhượng bộ và những thái độ im lặng (hay chỉ phản đối lấy lệ) trước những hành vi xâm lược diễn ra sau Công Hàm 1958, từ cuộc cầu hòa ở Thành Đô đến nay, của đảng và nhà nước Việt Nam còn mang giá trị cam kết cao hơn nhiều so với Công Hàm 1958. Cứ thế, bước đi sau còn tệ hơn bước đi trước. Ta biết trong chuỗi các văn bản, chuỗi các ứng xử, các cam kết thì cái sau luôn có giá trị hơn cái trước, nhưng những cam kết bí mật những năm gần đây giữa hai ĐCS thì dân lại không được biết, chúng ta không được biết!!!

3/ Mặt trận giữ nước phải liên hoàn

Tóm lại việc trưng ra những chứng cứ lịch sử phải đi kèm với việc đưa ra Tòa án quốc tế, với sử dụng sức mạnh đa phương, với việc trả tự do và vinh danh những người đã dũng cảm lên tiếng chống bọn xâm lược mới, với việc không chấp nhận thủ đoạn 16+4 (là thứ yêu thương giả để cắn xé thật)…nếu không thì những chứng cứ lịch sử quý giá mà ta tìm được cũng chỉ để cho ta “nhâm nhi” nâng chén tự sướng với nhau trong khi kẻ cướp cứ yên chí lấn dần bờ cõi! Đất nước sẽ mất dần trong sự đã rồi, trong sự lãng quên của cộng đồng thế giới vốn đầy rẫy cảnh cá lớn nuốt những con cá bé ham mồi, dại dột và cô độc.
Nếu không đấu tranh từng bước liên hoàn với những hoạt động trong và ngoài nước như trên đề cập thì tôi e công phu sưu tập vũ khí lịch sử của chúng ta chẳng những bị uổng phí, mà biết đâu nếu nạn Bắc thuộc trở lại (dưới cái áo khoác mới) thì những chứng cứ quý giá ấy của dân tộc Việt Nam mình sẽ bị thu sạch, đốt sạch hoặc mang về Bắc quốc như lịch sử nghìn năm Bắc thuộc còn ghi!

4/ Phải giữ nước trước tiên bằng “vũ khí chính trị”

Sau cùng xin nói: Đánh giặc giữ nước tất nhiên cần vũ khí quân sự. Nhưng vũ khí nào cũng cần một bộ phận châm ngòi “phát hỏa” như cò súng, ngòi nổ hay các nút bấm… Những nút bấm điều khiển ấy luôn thuộc về thuộc bộ phận CHÍNH TRỊ!
Kế hoạch giữ nước trước hết là phải giữ nước từ Chính trị và bằng Chính trị. Một nền chính trị ưu việt để giữ nước mạnh hơn mọi vũ khí. Một quyết định chính trị khôn ngoan có thể hiệu quả hơn hàng tỷ đô la mua vũ khí. Trong trường hợp ngược lại, một chữ ký có thể làm vô hiệu toàn bộ lực lượng vũ trang của một quốc gia. Nếu không biết những nút bấm thuộc về đâu thì tàu ngầm, tên lửa, máy bay hiện đại mua của Nga của Mỹ…cũng đều vô dụng, có khi còn tự hại mình.
Xét về giá trị trong đấu tranh thì chính trị cao hơn quân sự, thực tại cao hơn quá khứ, hành động cao hơn ngôn từ, thực tế cao hơn mơ tưởng…Chỉ khi nền chính trị tạo được sự đồng thanh cả nước một lòng chống giặc, từ người lãnh đạo cao nhất, đến các lực lượng võ trang, đến các trí thức và mỗi người dân, với sự hỗ trợ của thế giới văn minh, thì khi ấy những “vũ khí” trong đó có vũ khí quân sự và vũ khí lịch sử của chúng ta mới được sử dụng có hiệu quả, mới có ý nghĩa. Một khi nhà nước đã “hợp tác chiến lược” với giặc Bành trướng bằng kế sách 16+4, tức cái gọng kìm rất mềm ngày càng khóa chặt, trong khi đất nước và nhân dân chính là đối tượng xâm hại của kế sách rất hiểm đó, thì không hiểu những vũ khí sẽ nằm trong tay ai, ai sẽ sử dụng, sử dụng để làm gì, hỏi ai mà không lo lắng?
Tôi tin tất cả chúng ta trong cuộc gặp mặt này đều hiểu được điều đơn giản ấy. Điều đơn giản ấy chắc người cầm quyền cũng thừa sức nhận ra, nhưng vì sao không muốn thoát ra hoặc không thoát ra được, trả lời câu hỏi này chắc hẳn cần những bài viết và những cuộc thảo luận khác nữa.[*].
Xin gửi đến cuộc họp mặt một lời thân thiết và trân trọng. Mong được tiếp nhận những cao kiến từ cuộc họp mặt thân mật này. Vô cùng cảm ơn.
H.S.P - Đà Lạt ngày 30/7/2013
_________________________________________________
[*] Xin tham khảo bài “Giải Cộng nhi thoát”

Một cách dạy văn không có ở Việt Nam

Nguyễn Thông
Nguyễn Thông:
Bữa trước, bậc đàn anh của tôi, anh Nguyễn Khắc Nhượng- cựu Tổng thư ký tòa soạn báo Thanh Niên bảo rằng nếu anh còn làm, anh sẽ mở mục "Nhìn ra nước ngoài" trên trang giáo dục để thường xuyên giới thiệu những cái hay cái đẹp của bạn bè. Tôi xin phép anh được thực hiện điều đó trên blog này. Thiết nghĩ các nhà làm giáo dục, nhất là thầy cô giáo có thể rút được ít nhiều bài học thiết thực, bổ ích từ những câu chuyện như chuyện sau đây. Xin cám ơn anh Nguyễn Khắc Nhượng.
Chia sẻ bài viết này

Một buổi học chuyện cổ tích Cô bé Lọ lem (Cinderella)

Giờ học văn bắt đầu. Hôm nay thầy giảng bài chuyện Cô bé Lọ lem.
Trước tiên thầy gọi một học sinh lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em học sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.
Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa rồi?
Học sinh (HS): Thích Cô bé Lọ lem Cinderella ạ, và cả Hoàng tử nữa. Không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.
Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?
HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm !
Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất lịm, cả lớp cười ồ). Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy !
HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.
Thầy: Vì sao thế ?
HS: Vì … vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con mình trở thành hoàng hậu.
Thầy: Đúng. Vì thế chúng ta thường cho rằng các bà mẹ kế dường như đều chẳng phải là người tốt. Thật ra họ chỉ không tốt với người khác thôi, chứ lại rất tốt với con mình. Các em hiểu chưa? Họ không phải là người xấu đâu, chỉ có điều họ chưa thể yêu con người khác như con mình mà thôi. Bây giờ thầy hỏi một câu khác: bà mẹ kế không cho Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử, thậm chí khóa cửa nhốt cô bé trong nhà. Thế tại sao Cinderella vẫn có thể đi được và lại trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong vũ hội ?
HS: Vì có cô tiên giúp ạ, cô cho Cinderella mặc quần áo đẹp, lại còn biến quả bí thành cỗ xe ngựa, biến chó và chuột thành người hầu của Cinderella.
Thầy: Đúng, các em nói rất đúng ! Các em thử nghĩ xem, nếu không có cô tiên đến giúp thì Cinderella không thể đi dự vũ hội được, phải không?
HS: Đúng ạ !
Thầy: Nếu chó và chuột không giúp thì cuối cùng Cinderella có thể về nhà được không ?
HS: Không ạ !
Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong các em có càng nhiều bạn càng tốt. Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem, nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không ?
HS: Không ạ ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng tử, không được hoàng tử biết và yêu.
Thầy: Đúng quá rồi ! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử ?
HS: Chính là Cinderella ạ.
Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể ngăn cản Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào ?
HS: Phải biết yêu chính mình ạ!
Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng không ?
HS: Đúng ạ, đúng ạ !
Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa hợp lý không ?
HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.
Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn vĩ đại mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này có ai trong số các em muốn trở thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?
Tất cả học sinh đều hứng thú vỗ tay reo hò.
Đó là chuyện lớp học bên Mỹ, với những thầy cô yêu nghề, phân tích sâu sắc, phương pháp sống động, mang đầy nét sáng tạo và tích cực.

Bài học nào từ Cách Mạng Tháng 8?

Ban biên tập Tổ Quốc


Việt Nam kỷ niệm Cách Mạng Tháng 8 lần này, lần thứ 68, vào giữa một khúc quanh lịch sử quan trọng: Ban lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa chọn đứng hẳn vào quỹ đạo Trung Quốc với những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Nhìn lại Cách Mạng Tháng 8 chúng ta có thể rút ra bài học nào?
Ngày 19 tháng 8 năm 1945 đã là ngày người Việt Nam đứng dậy vất bỏ ách ngoại thuộc và xác nhận dân tộc Việt Nam phải có chủ quyền. Mọi người Việt Nam đều muốn độc lập, đều sẵn sàng hy sinh để đất nước được độc lập và cũng rất đoàn kết. Đảng Cộng Sản Việt Nam là chính đảng duy nhất có tổ chức và lực lượng vào lúc đó và cũng đã góp phần hy sinh lớn nhất, không ai phủ nhận công lao và vai trò lãnh đạo của Đảng. Cũng không ai tranh giành vai trò lãnh tụ với Hồ Chí Minh. Bối cảnh thế giới sau Thế Chiến II cũng rất thuận lợi cho việc giải phóng các dân tộc bị trị, hơn nữa nước Pháp lại đang hoàn toàn kiệt quệ. Cách Mạng Tháng 8 nếu chỉ là cuộc cách mạng giành độc lập đã có thể thành công nhanh chóng, mở ra một kỷ nguyên dân chủ và phồn vinh cho nước ta. Nhưng thực tế đấy chỉ là khởi đầu một giai đoạn chiến tranh dài và khốc liệt. Lý do là vì độc lập không phải là mục tiêu chính của những người lãnh đạo cộng sản. Cách Mạng Tháng 8 đã bị cướp đoạt để biến thành một cuộc cách mạng áp đặt chủ nghĩa cộng sản. Không phải là một sự tình cờ mà những người lãnh đạo cộng sản gọi ngày 19/8/1945 là ngày họ "cướp chính quyền". Do một sự cuồng tín khó tưởng họ đã đặt lý tưởng cộng sản lên trên hết và đã tiêu diệt thẳng tay tất cả những ai không chấp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin. Chính sách khủng bố trắng này đã gây chia rẽ và hận thù trầm trọng dân tộc và đưa nước ta từ thảm kịch này đến đổ vỡ khác, với kết quả là chúng ta đã là chúng ta ngày nay: một nước nghèo khổ và tụt hậu bi đát, không giữ được cả những biên giới trên đất và biển đã được qui định từ lâu. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã là thảm kịch cho nhiều dân tộc, nhưng nạn nhân đau đớn nhất là Việt Nam.
Ngày nay cũng chính chủ nghĩa Mác-Lênin đã là nguyên nhân khiến ban lãnh đạo cộng sản chấp nhận lệ thuộc Trung Quốc và thế lệ thuộc đó vừa trở thành toàn diện sau chuyến đi Bắc Kinh tháng trước của Trương Tấn Sang. Trước đây họ tin tưởng một cách mê cuồng vào nó, ngày nay dù đã biết nó độc hại họ vẫn còn cần nó để duy trì chế độ độc đảng và vì thế phải thần phục Bắc Kinh để có chỗ dựa.
Điểm chung của những người lãnh đạo cộng sản trước đây và bây giờ là sự mù quáng. Chủ nghĩa cộng sản không ưu việt như họ tưởng ngày xưa mà chỉ là một sự nhảm nhí đẫm máu. Trung Quốc không vững vàng như họ tưởng ngày nay mà chỉ là một sự phá sản chưa thú nhận.
Nhưng tại sao họ đã có thể lấy những quyết định tồi tệ cho đất nước như thế mà vẫn không bị loại bỏ? Không phải là tại dân tộc Việt Nam. Dân tộc nào cũng thế thôi và cũng cần được lãnh đạo. Lý do chỉ là vì dù có một lịch sử dài và không thiếu những học vị chúng ta đã thiếu tư tưởng chính trị và một tầng lớp trí thức chính trị. Như một người thiếu ánh sáng và đôi mắt.
Bài học của Cách Mạng Tháng 8 vẫn còn nguyên vẹn: những con người ít ỏi có trí tuệ, ý chí và lòng yêu nước phải biết nhận ra nhau và quả quyết tìm đến với nhau trong một đội ngũ. Vì một nước Việt Nam dân chủ và hòa giải.

hời đại truyền thông “một mình một chợ” của Cộng Sản Việt Nam đã hết!

Đông Hải Long Vương
Chia sẻ bài viết này
Trong tháng 7/2013, việc ra đời công khai Mạng Lưới Blogger Việt Nam (MLBGVN) có thể xem như là một cột mốc kế tiếp đánh dấu sự thay đổi về chất cho những người đấu tranh cho tự do ngôn luận, cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn trong thời đại toàn cầu hóa, phổ cập Internet. Dĩ nhiên để có thành quả ngày hôm nay đã có những mất mát của những con người ở các thế hệ, thời điểm khác nhau phải chịu đày đọa, tù tội khi nói/viết lên công khai chính kiến của mình.
Tôi rất tự hào được ký tên trong bản tuyên bố của MLBGVN nhưng cũng tự thấy mình còn có những khiếm khuyết nhất định. Thành thực mà nói chuyện viết lách không phải là sở trường và cũng không phải là nhu cầu chính khi tôi quan tâm đến các vấn đề xã hội, chính trị. Mong ước thầm kín của tôi đó là sớm dứt điểm ra khỏi Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) và đầu quân cho một chính đảng theo đường hướng của các lãnh tụ Quốc Gia tiền bối. Đó là một nhu cầu chính đáng và tự nhiên của những người có ước vọng tham gia hoạt động chính trị.
Tôi nhận thấy MLBGVN còn phôi thai cần phải được sự hưởng ứng của những nhà báo giàu kinh nghiệm, những người có chuyên môn trong giới truyền thông/truyền hình, các nhà văn/nhà thơ khả kính…Từ đây cho ra đời những tạp chí định kỳ theo tuần/tháng/quí, chuyên đề nhằm phổ biến rộng rãi cho người đọc trong và ngoài nước. Có những giải thưởng định kỳ thi đua nhằm thúc đẩy người viết hoàn thiện hơn, đi sâu sát hơn vào các vấn đề xã hội và bao quát hơn các vấn đề lớn của đất nước. Bằng không dù danh sách ký tên MLBGVN có đông đến mấy chỉ gây ồn ào một thời gian vì mục đích ký tên cho có hay ủng hộ tinh thần cho nhau là chính.
Tôi hi vọng sự ra đời của MLBGVN là một tiền đề gây được sự chú ý của liên hiệp quốc, các nước trên thế giới và quan trọng nhất là được sự ủng hộ đông đảo người đọc trong nước. Từ đó theo đà tiến lan tỏa cảm hứng ra đời các nhà xuất bản/tờ báo, các tổ chức văn hóa/nghệ thuật, các hiệp hội hoạt động có tính chất xã hội độc lập.
Tôi cho rằng vì là Mạng Lưới cho nên tự thân mỗi cá nhân, nhóm nhỏ khi kết nối vào MLBGVN sẽ có tính chất như những Nút Mạng độc lập. Nếu chúng ta muốn người ta biết đến sự đóng góp của mỗi cá nhân thì từng Nút Mạng phải gia tăng nỗ lực hoạt động, viết lách có hiệu quả thiết thực. Mỗi khi một ai đó (kể cả tôi) vì lý do nào đó dừng cuộc chơi, đi ngược lại tiêu chí chung cũng không làm ảnh hưởng đến sự phát triển, vận hành của MLBGVN. Thậm chí ngay các những blogger “phò Đảng”, Dư Luận Viên cũng phải được xem như những Nút Mạng của MLBGVN (nếu kết nối).
Nếu đâu đó còn e ngại MLBGVN chưa tuân thủ luật pháp của nước Việt Nam?
Xin thưa: nói cho đúng luật pháp hiện hành là luật pháp mang danh nghĩa nước CHXHCNVN; là luật pháp do ĐCSVN độc quyền chấp bút và thao túng. Luật pháp này không thể hiện ý chí, khát vọng của đông đảo tầng lớp nhân dân trong tình hình hiện nay.
Quốc Hội này, Chính Phủ này, Tòa Án này, Quân Đội này là “của Đảng, do Đảng và vì Đảng”
Vài lời mạo muội đóng góp xin gửi tới MLBGVN và các blog/web thông tin để rộng đường dư luận.
(*) Ghi chú : bài viết thể hiện chính kiến của cá nhân với việc ra đời của MLBGVN