Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Núi Bài Thơ

tcn02511131

Trần Công Nhung
Quê hương Việt Nam là một dải giang sơn gấm vóc của con Lạc cháu Hồng, đã là người Việt, ai cũng tự hào về điều đó. Chúng ta không lấy làm lạ khi thấy nhiều địa danh, nhiều danh lam thắng tích mang tên rất đẹp, rất “hoành tráng”, rất thần thoại. Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), động Tiên Sơn, Núi Thần Đinh (Quảng Bình), Núi Thiên Ấn (Quảng Ngãi), giòng Hương Giang, đồi Vọng Cảnh (Huế)… Cũng có khi dựa vào thực tế để gọi tên, hoặc tên gọi có gốc từ tiếng của dân tộc thiểu số: Hòn Rùa, Hòn Yến, cầu Hà Ra, Tháp Bà (Nha Trang), cũng có nhiều tên gọi mộc mạc lâu ngày thành quen như Hòn Đụn, Hòn Mun (Nha Trang). Khi nghe ở Quảng Ninh có Núi Bài Thơ, tôi nghĩ, có lẽ quả núi đẹp, nên thơ hoặc có sự tích sao đó mới được tên như vậy. Cũng như Núi Cô Tiên (Nha Trang), có dáng người thiếu nữ nằm xõa tóc, bầu ngực nhô cao, trên đỉnh có tượng người lính chiến, thế nên trường hạ sĩ quan Đồng Đế (trước 75) đã có câu:
Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,
Em nằm xõa tóc đợi chờ ai.
Lúc đi tìm nguồn gốc Núi Bài Thơ mới biết, tên gọi quả núi không có gì bí hiểm, không có gì ẩn dụ khó hiểu, chính núi có bài thơ thật, tất nhiên bài thơ phải là của thi hào, thi bá, của nhân vật lịch sử tiếng tăm, người đời mới truyền tụng như thế.
Núi Bài Thơ nguyên gọi là Truyền Đăng Sơn (núi rọi đèn). Thời ấy lính thú thường xuyên gác trên đỉnh núi, mỗi khi có thuyền giặc vào thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó có tên Núi Truyền Đăng. Núi là một phần bờ biển đá vôi phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, đỉnh cao 168m. 500 năm trước (1468), vua Lê Thánh Tông, cháu nội Lê Lợi, nhân một buổi tuần du qua vùng vịnh Hạ Long, thấy cảnh bắt mắt, giữa những mõm núi đá tai mèo tua tủa chĩa lên trời, có một tảng đá thẳng như vách hướng ra biển, trông rất đẹp. Nhà Vua dừng lại cho thuyền vào xem và tức cảnh sinh tình, vua Lê Thánh Tông đã viết bài thơ Hán tự gồm 56 chữ. Bài thơ được khắc lên mặt đá phẳng, khắc liền một mạch, không ngắt câu như hiện nay chép lại. Trong 56 chữ có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc, những chữ còn lại cũng rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phong hóa gần như hoàn toàn. Qua hơn 5 thế kỷ, mưa gió bào mòn, bài thơ không còn đọc được. May thay, bài thơ có chép trong thư tịch cổ, nhờ đó người đời sau mới có sử liệu chính xác mà nghiên cứu. Bài thơ được dịch ra nô:
Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào
Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời
Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ
Hàm hào cửu tam (đã định)
Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió
Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên
Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt
Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững
Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.
261 năm sau, vào năm 1729, chúa An Đô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê-Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua chốn này. Ông cho quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của vua Lê, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vận “yên” của bài trước, dùng lại 4 chữ “thiên” “quyền” “yêu” niên” trong bài của vua Lê.
Bài thơ của Chúa khắc theo lối chữ hành (chân) trên một tảng đá, mặt nghiêng xuống, nhờ vậy không bị mưa gió xói mòn nên còn đọc rõ cả bài.
Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy
Núi chìm xuống nước, nước tràn mây
Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng
Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.
Mùi tanh giặc thác còn đâu đó
Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây
Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ
Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.
(Bản dịch của Hào Minh)
Những năm đầu thế kỷ 20 nhiều tao nhân, mặc khách du ngoạn vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc 7 bài nữa, vừa chữ Hán, vừa chữ Quốc ngữ trên những vách đá lân cận. Đến nay có tất cả 9 bài. Do có những bài thơ trên vách núi mà dân chúng mới gọi Núi Truyền Đăng thành Núi Bài Thơ. Viết thơ lên vách núi thì có nhiều nơi, núi Ngũ Hành, núi bà Đen, núi Sam… nhưng đấy là thơ dân dã, kỷ niệm riêng của một người nên không tạo được tên tuổi như Núi Bài Thơ.
Khu vực Núi Bài Thơ trước đây gọi là phố Lò Vôi (có nung vôi bán). Cũng may chưa ai phá những bài thơ để nung vôi như có người đã phá núi Tô Thị ở Lạng Sơn (1)! Tuy nhiên nhà dân đang “bao vây” những bài thơ, du khách khó biết thơ nơi nào. Ngày nay, phố Lò Vôi đổi tên mới là phố Bài Thơ, và còn có câu ca dao:
Hồng Gai có núi Bài Thơ
Có hang Đầu Gỗ, có chùa Long Tiên
tcn02511132Chùa Long Tiên nằm ở phía đông núi Bài Thơ, mặt quay ra biển, giáp với phố Bến Tàu cũ, nay đổi thành phố Long Tiên. Chùa được khởi công xây cất vào năm 1939 và hoàn thành năm 1942. Tuy được xây dựng vào giữa thế kỷ này, nhưng kiểu cách, kiến trúc đều theo kiến trúc thời nhà Nguyễn. Ngoài có tam quan, qua một sân rộng là bái đường, trên nóc có tượng ghép gốm, rồng chầu mặt nguyệt, hai bên là hai cung tả hữu. Chính diện trên tam quan có ba chữ nổi Long Thọ Tiên, nhân dân gọi nôm na là chùa Long Tiên. Gọi là chùa nhưng lại thờ cả Thánh. Ở chính cung thờ Đức Phật Thích Ca, Phật Bà Quan Âm và các chư Phật. Hữu cung thờ Đức Trần Hưng Đạo, tả cung thờ Vân Hương Thánh Mẫu.
Trong chùa Long Tiên có rất nhiều câu đối, đại tự được điêu khắc rất tinh vi. Các bộ đồ thờ của chùa có Bộ Cửu Long nổi tiếng, chín con rồng chầu Phật, đây là một công trình khắc gỗ độc đáo. Phía tây núi Bài Thơ còn có đền thờ Đức ông Trần Quốc Nghiễn−một vị danh tướng đời Trần. Tương truyền ông được đặc cử canh giữ biên ải vùng Đông Bắc, trấn ở vùng Hồng Gai, đã lập nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông. Nhưng tiếc thay, đền lại dùng làm trường “Phổ thông cơ sở Hạ Long”.


Đấy là sự tích Núi Bài Thơ, nhưng sông núi mà chỉ biết qua thơ văn, chưa đủ. Với người nhiếp ảnh, phải được “nhìn tận mắt bắt tận tay” mới thỏa dạ kiếm tìm. Một chương trình leo núi sẽ thực hiện nay mai.
Theo dự tính, hôm sau mới đi Hạ Long, nhưng do cảm hứng bất chợt tôi đã gọi người bạn ảnh địa phương, anh Thái đi ngay sau buổi thăm làng lụa Vạn Phúc (2). Hạ Long cách Hà Nội chừng 160km, chúng tôi khởi hành lúc 12 giờ trưa. Đường khá tốt nhưng xe chạy nhanh lắm cũng chỉ 50km/giờ. Đến Bãi Cháy thì trời bỗng trong sáng lên. Mấy hôm nay trời âm u vì có gió mùa Đông Bắc. Du thuyền đưa khách đi chơi đảo đã bắt đầu quay về. Chúng tôi ra thẳng bến phà Quảng Ninh rồi qua bán đảo bên kia.
Anh Thái đã chụp ảnh Hạ Long nhiều lần, tưởng không còn gì lôi cuốn nữa, nhưng hôm nay nắng quá đẹp nên anh rất hứng thú trở lại cảnh cũ, anh nói:
- Tôi không ngờ hôm nay trời đẹp thế. Anh hên lắm. Nhiều anh em trong Nam ra cả tuần lễ chẳng làm ăn gì được.
- Anh à, tôi tưởng mình đi tàu ra đảo chứ?
- Cái đó để sáng mai. Đi đảo là phải đi từ sáng sớm mới kịp. Giờ mình qua bên kia rồi leo lên Núi Bài Thơ.
Anh vừa nói vừa chỉ cho tôi đỉnh núi cao sừng sững trước mặt. Tôi hơi lo, không biết có lên nổi không. Năm ngoái leo lên Đền Thượng chùa Thầy đã đuối, nay thấy núi mà ngán. Lại không hiểu lên đó rồi chụp cái gì. Tôi đang phân vân thì anh Thái nói tiếp:
- Từ trên đỉnh núi anh nhìn xuống mới thấy cái đẹp tuyệt vời và vẻ kỳ vĩ của vịnh Bái Tử Long.
- Đường lên có dễ không anh?
- Xưa thì gay lắm, nay người ta đã làm tam cấp, không khó, chỉ dốc thôi.
- Mất bao lâu để lên đỉnh?
- Ngày trước tôi leo 30 phút nay phải 45 phút.
- Nay đường dễ sao lại lâu?
- Dễ, nhưng mình lớn tuổi, yếu đi. Đến Hạ Long mà không lên Núi Bài Thơ thì kể như chưa biết Hạ Long. Chỉ sợ lên đến nơi trời còn nắng hay không.
Ý tưởng của người bạn làm tôi nhớ lại chuyện “anh thợ may khéo”. Một ông quan đi máy áo, người thợ hỏi: Ngài làm quan được bao nhiêu năm rồi? – May áo thì việc gì phải hỏi thế? – Dạ, nếu mới làm quan thì vạt trước dài hơn vạt sau, nếu làm quan lâu năm thì vạt sau dài hơn vạt trước! Thời gian vô tình đã làm thay đổi tâm sinh lý con người mà mình không nhận ra. Có người cứ tưởng trẻ mãi không già.
Tôi vừa lo, vừa nóng lòng. Phà cập bến chúng tôi vội đi ngay. Anh Thái nhìn đồng hồ trấn an: “Mới 3 giờ rưỡi, 4 rưỡi vẫn còn nắng”. Xe đưa chúng tôi quành qua một đoạn đường rồi dừng lại trước một dãy phố, nhà cửa đơn sơ, sát chân một ngọn núi cao mấy trăm mét. Thoạt trông chẳng thấy chỗ nào lên núi, nhà ở như một hàng rào chắn chạy dài. Tôi đang phân vân thì anh Thái giục: “Khẩn trương kẻo trời tắt nắng”.
Tôi theo anh vào một nhà dân gần đấy rồi men bờ tường ra sau hè, theo một lối mòn nhỏ lên núi. Tôi ngạc nhiên, sao một thắng cảnh nổi tiếng mà lại đi kiểu lạ vầy. Tôi sinh nghi. Lại vừa lo đề phòng, nhỡ có con chó nhào ra cắn thì thật tai hại. Xứ mình nuôi chó thả rong, mình lại không đi theo lối chính, thật không ổn. Nghĩ thế nhưng cũng phải nhanh chân cho kịp người dẫn đường.
Tôi cố giữ nhịp thở thật đều và xem như đây là một buổi đi tập hằng ngày. Mỗi ngày tôi mang ba lô máy đi bộ 5 khu phố khoảng nửa tiếng, nay phải leo tam cấp hẳn là vất vả hơn, song nghĩ mình sẽ được lên “tiên giới” nên lòng chẳng ngại gì. Phía trước, lâu lâu anh Thái nhắc chừng: “Mệt thì nghỉ nhé”. Từ ngày mổ tim làm bypass, tôi phải kiêng cữ nhiều thứ, từ ăn uống đi đứng và cẩn thận khi phải vận dụng sức lực trong mọi việc hằng ngày. Mười lăm phút đầu, “đường lên Tiên” có vẻ dễ chịu, cứ mươi lăm bậc cấp, đường lại ngang bằng một khoảng, sau đó thì cứ dốc đứng mà leo. Có lúc người trước phải kéo người sau. Tôi nghĩ thầm, vậy mà Núi Bài Thơ! Núi tập thở thì có, thở muốn hết hơi thì thơ đâu mà ra. Tôi hỏi vói lên:
- Đã được nửa đường chưa?
- Chưa đâu, nhưng lên một đoạn nữa anh sẽ thấy cái đẹp hoành tráng của Bái Tử Long.
Theo truyền thuyết, một thời xa xưa, Việt Nam bị giặc ngoại xâm, Trời sai một Rồng mẹ và đàn Rồng con xuống giúp. Rồng phun ra hàng ngàn châu ngọc (đảo) làm bức trường thành hay công sự chận đứng quân xâm lăng. Chỗ Rồng mẹ xuống gọi là Hạ Long, chỗ Rồng con xuống gọi là Bái Tử Long.
Nghe anh Thái mô tả làm lòng tôi phấn chấn lên. Trời còn nắng to. Bụng bảo dạ: “Đời có một lần thì ngại chi chuyện khó khăn”. Đã trót yêu nên “Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”.
Ít phút sau tôi nghe tiếng anh Thái vọng xuống:
- Ở đây anh đã có thể bấm máy được rồi.
Quả như lời, đến tảng đá bằng, nhìn xuống sườn núi bên trái, một vùng biển bao la xanh ngắt với hàng chục hòn đảo mở ra trước mắt tôi. Tôi sững sờ và không còn thấy mệt nữa. Tôi vừa lôi máy ra, tìm cách tránh mấy chòm lau trước mặt thì lại nghe tiếng gọi:
- Chỗ này còn hay hơn.
Tôi nghĩ, anh này có đọc kinh Pháp Hoa hay sao mà cứ làm theo lối “Hóa Thành Dụ”, Đức Phật thấy chúng sanh ngại đường xa biếng đi (tu học), nên lâu lâu Ngài cho tin: “Sắp đến thành” như để khích lệ người đi đường. Tuy nghe tiếng gọi, tôi cũng phải bấm mấy phát mới đi tiếp. Càng lên càng thấy đẹp, cảnh càng tráng lệ hùng vĩ hơn. Cứ lên vài bậc cấp tôi lại dừng chụp, “gỡ vốn trước cho chắc ăn”, lỡ đến nơi trời có hết nắng thì cũng huề.
Tôi lại gọi to:
- Gần đến chưa?
- Đến rồi.
tcn02511133

Tôi thở phào và khỏe như vừa bơi từ ngoài biển xa vào bờ. Đứng trên đỉnh Núi Bài Thơ, bao quát hết cả vùng biển từ trong Bãi Cháy ra tận phía bắc tỉnh Quảng Ninh. Đẹp nhất là vùng vịnh Bái Tử Long. Những đảo lớn nhỏ cao thấp được bài trí một cách vô cùng nghệ thuật. Trời nước liền một màu xanh sương mù. Nắng chiều xiên khoai làm cho đảo xanh nhuốm ít vàng, cảnh trở nên thần tiên, con người tự nhiên như vừa được rửa sạch bụi trần. Một đời mà được lên ngồi đây một lần là mãn nguyện lắm. Núi Bài Thơ, quả là lai láng hồn thơ cho những ai làm thi sĩ.
Trời còn nắng, ánh sáng tuyệt vời. Máy với ống kính tiêu cự 28-105 quét đi quét lại trong giác độ chừng 60. Chụp rồi mà tưởng như chưa, ngắm cả buổi mà tưởng như mới gặp mấy giây. Lòng đã thỏa mà tình còn lưu luyến mãi. Bởi quá ngỡ ngàng trước cảnh trí thần tiên mà người đời có tài ba đến đâu cũng khó mà tưởng tượng nổi. Tôi quay một vòng từ trái sang phải, tưởng như đi từ nơi bụi trần đến chốn bồng lai. Trên cao nhìn xuống cảnh núi đồi xanh mướt xen lẫn mái ngói đỏ, tưởng như cảnh bên châu Âu. Khác một điều nhà cửa xứ mình lí nhí mái nhỏ như con tem dán san sát, một hồ nước trong, một con đường vòng theo ven hồ không xe cộ qua lại… cảnh vắng yên.. Nhìn phía Bắc, bến cảng Quảng Ninh tuy không sầm uất như cảng Hải Phòng hay cảng Sài Gòn, nhưng có nét thiên nhiên gợi cảm, màu sắc tươi thắm. Quay ra biển Đông thì thôi khỏi nói, hàng hàng lớp lớp từng khóm đảo rất đa dạng nối tiếp nhau mãi tận chân trời rồi xóa nhòa cùng mây nước màu xanh mờ nhạt. Đảo trong vịnh Bái Tử Long cũng như Hạ Long hoàn toàn khác với đảo vùng Nha Trang, đảo là những đụn núi vôi có hình thù rất lạ, có đường nét nghệ thuật rất tinh. Một nghệ nhân non bộ giỏi cũng khó tưởng tượng được để tạo tác. Bàn tay Tạo Hóa gọt dũa sắp xếp, tạo cảnh thật tài tình mà ngay việc mô tả cũng đã khó chứ đừng nói chi khác. Tôi có cảm tưởng cảnh thiên tạo nơi đây là dành cho con Hồng cháu Lạc. Thật hãnh diện và tự hào biết bao.
Nắng dịu dần rồi chuyển qua ánh hoàng hôn. Sau khi chụp cảnh mặt trời chiều, chúng tôi dần xuống núi.
Đêm đó nghỉ lại một khách sạn trong Bãi Cháy, anh Thái kể cho nghe: Mấy năm về trước tự nhiên anh nghĩ đến đỉnh Núi Bài Thơ, anh nhớ năm 45 Việt Minh đã cắm cờ trên đỉnh núi, vậy tất có đường lên. Anh đã mày mò tìm ra đường leo lên. Nhưng hồi đó khó khăn lắm, phải măn từng tảng đá, cheo leo nguy hiểm vô cùng. Sau khi anh cho ra tác phẩm đầu tiên về Bái Tử Long, làng ảnh xôn xao và thiên hạ tủa ra đi tìm. Mấy năm liền anh hưởng nhuận ảnh mỗi mùa in lịch khá bộn. Riêng Đài Truyền hình Việt Nam, dùng ảnh của anh trong mục điểm thời tiết thì đến nay vẫn chưa cho anh xu nào (3).

Trần Công Nhung
—————–
(1) Xem bài Lạng Sơn, trang 27, QHQOK tập 1.
(2) Lụa Hà Đông, trang 149, QHQOK tập 1.
(3) Điều này rất bình thường đối với người Việt trong hay ngoài nước cũng thế, mọi thứ đều là của chùa cả.

Thư gửi bạn ta (30/11/13)

thuguiban02


Bùi Bảo Trúc
Ngày 18 tháng 11 năm 2013

Bạn ta,
Tôi không biết tấm banderolle này xuất hiện ở đâu, và vào thời điểm nào, nhưng chắc chắn là phải ở trong nước.

Tấm biểu ngữ nền đỏ, chữ vàng như tất cả những tấm banderolle xấu đau xấu đớn của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam. Và những chữ trên đó rõ ràng là để tôn vinh Hồ Chí Minh: CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH ANH HÙNG GIẢI PHÓNG DÂN TỘC DOANH NHÂN VĂN HÓA THẾ GIỚI!

Đọc kỹ lại thì thấy là họ Hồ lại có một nghề khác nữa.

Chàng không là DANH nhân văn hóa thế giới như các đàn em của chàng đã vận động (và thất bại), UNESCO không bao giờ tôn vinh chàng là danh nhân văn hóa cả. Hà Nội chỉ tự tổ chức sinh nhật thứ 100 của chàng mà thôi rồi nói phét là UNESCO đứng ra làm.

Mới đây (ngày 14 tháng 11 năm 2013) một bản tin đăng trên trang web của nhà nước khẳng định Việt Nam có 2 danh nhân văn hóa thế giới là Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, không hề nhắc đến Hồ Chí Minh.

Điều dễ hiểu là chàng chỉ có hai “tác phẩm”, một là cuốn sách ô nhục mà chính chàng viết để ca tụng chàng, ký tên là Trần Dân Tiên, và một tập thơ chữ Hán nhan đề Ngục Trung Nhật Ký chàng chôm của một anh Tầu thì danh nhân văn hóa ở chỗ nào?

Nguyễn Du là người viết Truyện Kiều, còn Nguyễn Trãi là tác giả bản “kim cổ hùng văn” Bình Ngô Đại Cáo, “Gia Huấn Ca”, một chiến lược gia văn võ song toàn mà đứa nào đưa chàng mon men đứng cạnh cũng sẽ bị lấy lá chuối lót tay quăng ra ngoài cửa. Hai ông Nguyễn Du và Nguyễn Trãi mới xứng đáng là danh nhân văn hóa thế giới.

Dứt khoát chàng không thể là danh nhân văn hóa thế giới được. Ngay cả một anh tây đen tham nhũng bê bối là anh Amadou Mahtar M’Bow ăn trúng bả Cộng Sản khi anh cầm đầu UNESCO cũng không chịu tôn vinh chàng là danh nhân văn hóa thế giới như ai cũng đã biết.

Nhưng nói chàng là DOANH nhân thì được. Doanh nhân là một anh lái buôn.
Như tấm banderolle viết rõ chình ình trên nền đỏ chữ vàng, chàng là DOANH nhân. DOANH là công việc buôn bán kiếm lời lãi. Doanh nhân là nhà buôn, là thương lái. Tấm banderolle khẳng định chàng là doanh nhân. Chàng làm nghề buôn bán. Chàng buôn cái gì? Chàng bán cụ Phan Bội Châu cho Pháp lấy tiền. Chàng bán nước cho Tầu, ra lệnh cho đàn em Phạm Văn Đồng ký cái công hàm ô nhục công nhận những tuyên bố mà Chu Ân Lai đưa ra để lấn chiếm biển đảo của Việt Nam trong khi chàng còn sống sờ sờ ra đấy thì không phải là doanh nhân bán nước hay sao?

Tấm banderolle gọi chàng là doanh nhân do chính đàn em của chàng treo ngoài đường khẳng định chàng là một tên bán nước thì cãi thế chó nào được nữa.

Cho vào cái nhà ỉa công cộng cực kỳ xấu, xấu vào bậc nhất thế giới (public toilet) ở Ba Đình như một web site của Trung quốc cũng đúng rồi còn cãi gì nữa.

* * *
Ngày 20 tháng 11 năm 2013

Bạn ta,
Đã lâu lắm, trước năm 1975, tôi đọc được mấy dòng quảng cáo của một tiệm may đăng trên báo ở Sài Gòn, mà đến nay tôi vẫn còn nhớ như chỉ mới ngày hôm qua. Tiệm may cho biết có thể cắt được những chiếc áo rất đẹp cho khách hàng bất kể vóc dáng của khách hàng có như thế nào đi chăng nữa.

Tiệm cho biết có thể may được những chiếc áo cho cả những người không có eo mà vẫn có được áo có eo: “không có eo cắt vẫn có eo”, như những dòng quảng cáo đã nói rõ.

Như vậy thì giỏi thật. Ít nhất thì vòng số hai cũng phải… có thì áo, khi mặc vào, mới cho thấy cái eo chứ không có bột làm sao gột được nên hồ!
Tôi không có nhu cầu may áo dài nên không tìm hiểu thêm để biết điều chủ nhân quả quyết như thế có đúng hay không.

Nhưng bây giờ, tôi tin chắc chuyện ấy là chuyện thật.

Ở Việt Nam, những chuyện tưởng như không bao giờ có thể làm được thì vẫn xảy ra như thường.

Ngày 20 tháng 11 là ngày Nhà giáo Việt Nam. Trong ngày ấy, nhà nước tuyên dương những nhà giáo dạy giỏi, hết lòng vì học sinh, có công lớn với giáo dục Việt Nam. Đây là một việc làm có ý nghĩa, rất nên làm.

Tại Bình Phước hôm 15 tháng 11 có diễn ra buổi lễ trao bằng khen dạy giỏi toàn quốc và trong số những người được trao bằng khen có một người đàn ông tên là Nguyễn Ngọc Tỉnh, người giữ một chức vụ quan trọng của Sở Giáo Dục và Đào Tạo của tỉnh Bình Phước. Báo Người Lao Động, số ra ngày 17 tháng 11, cho biết buổi lễ diễn ra tại hội trường Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Bình Phước.
Ngoài người đàn ông tên Tỉnh này, còn có 97 cá nhân khác cũng được vinh danh với bằng khen “Giáo viên dạy giỏi”. Việc ghi nhận thành tích tốt đẹp của những người này là một việc làm xứng đáng, đúng như tinh thần “Tôn Sư Trọng Đạo”. Nguyễn Ngọc Tỉnh được trao bằng khen, được mời lên sân khấu, được trao tận tay tấm bằng khen xanh xanh, đỏ đỏ… cho mấy nhỏ nó mừng như những lời chào hàng ở ngoài chợ.

Nhưng có một chi tiết làm cho nhiều người biết chuyện rất “bức xúc”. Nhiều người rất ngạc nhiên về việc trao bằng khen cho Nguyễn Ngọc Tỉnh.

Bằng khen là để ghi nhận công việc xuất sắc của những người làm công việc giảng dạy, cầm cục phấn, đứng trên bục giảng để… dạy học.
Nhưng người đàn ông tên Tỉnh này thì không có một ngày nào làm công việc cao quí của một nhà giáo.

Chàng là người biết kế toán, xin vào làm trong một trường cấp 3 rồi sau đó được chuyển về làm việc cho Sở Giáo Dục và Đào Tạo làm cán bộ quản lý.
Như vậy chàng nào có dính dáng gì đến phấn trắng bảng đen hay làm công việc dạy dỗ các học sinh bao giờ.

Nhưng chàng vẫn được tuyên dương là một giáo viên dạy giỏi, mà lại là giáo viên dạy giỏi toàn quốc nữa chứ.

Và đó là cái giỏi của nền giáo dục trong nước.

Không dạy học vẫn được khen là nhà giáo xuất sắc, lại được bằng khen nữa, rồi lại còn được lên báo nữa chứ.

Không có eo vẫn cắt cho có eo được 
thì tại sao không một ngày nào đi dạy vẫn được coi là nhà giáo có gì lạ đâu.
Nhưng lại còn được tuyên dương là nhà giáo xuất sắc toàn quốc thì hơi quá. Tuy thế, nghĩ lại thì lại thấy chuyện ấy cũng thường, thấy xảy ra khắp mọi nơi ở trong nước. Như cậu Ba Ếch tự nhiên xưng là có cử nhân luật … rừng mà vẫn vênh váo cái mặt cực kỳ trâng tráo ấy, có bao giờ dám nói rõ học hành ở đâu không.

Trò đó thì thiếu gì đứa làm. Cứ xưng đại là giáo sư, bảo đàn em cung kính “thưa giáo sư” một hồi là thành… giáo sư ngay chứ gì!

* * *
Ngày 21 tháng 11 năm 2013

Bạn ta,
Người ta có thể nói chắc rằng Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc (United Nations Human Rights Council) có những định nghĩa và tiêu chuẩn rất kỳ lạ về nhân quyền.

Đây là một tổ chức thuộc Liên Hiệp Quốc với 47 quốc gia thành viên được trao phó trách nhiệm đẩy mạnh và bảo vệ nhân quyền của tất cả mọi người trên thế giới.

Hôm 12 tháng 11 vừa qua, Đại Hội Đồng LHQ đã bầu một hội đồng mới với nhiệm kỳ 3 năm kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2014 đến 2016. Một trong những quốc gia vừa được bầu vào hội đồng là Việt Nam. Ngoài ra cũng có Cuba, Trung quốc, Algerie, Nga, Ma rốc, Ả Rập Saudi…

Chính vì sự có mặt của các nước kể trên, các nước vừa được bầu vào hội đồng đã khiến cho người ta tin là UNHRC đã có những định nghĩa và tiêu chuẩn mới về nhân quyền. Việc bầu bán vào hội đồng được dựa trên những khu vực địa lý để bảo đảm có được sự đại diện của nhiều vùng khác nhau. Và đó là lý do tại sao các nước kể trên được bầu. Không lẽ chỉ bầu cho những nước thực sự tôn trọng, bảo vệ và phát huy nhân quyền.

Chuyện canh gác cái chuồng gà do đó đã được trao cho cả bọn chồn cáo chứ không chỉ giao cho những thành viên hết lòng vì quyền sống của con người.
Đã có lúc dưới thời Tổng thống Bush, Hoa Kỳ quyết định tẩy chay cơ quan này, nhưng khi ông Obama lên nắm quyền, thì Hoa Kỳ trở lại với UNHRC. Nhưng các phân tích gia Hoa Kỳ thì đều cho rằng UNHRC càng ngày càng mất đi tư cách và vai trò trong vấn đề nhân quyền. Nhất là từ sau khi các nước với thành tích nhân quyền tồi tệ cũng được đưa vào ngồi trong hội đồng.

UNHRC gồm rất nhiều thành viên thường xuyên vi phạm mọi quyền cơ bản người dân của họ. Và đây là lần đầu tiên Việt Nam được bầu vào hội đồng.
Việt Nam có nhiệm vụ tôn trọng những nghĩa vụ cùng với những cam kết về nhân quyền của người dân mà chính Hà Nội đã hứa.

Nhà cầm quyền Việt Nam chưa bao giờ làm công việc đó. Nay họ lại nói là sẽ thực hiện tốt những cam kết của một thành viên Hội Đồng Nhân Quyền và trong tư cách một hội viên của Liên Hiệp Quốc.

Nhưng đó chỉ là một tuyên bố lấy lệ của Hà Nội trong khi Việt Nam không hề làm những gì họ nói.

Hà Nội vẫn chưa mở cửa cho Liên Hiệp Quốc điều tra những vụ vi phạm nhân quyền. Công an nhà nước vẫn chưa chấm dứt những hành vi tra tấn bạo động gây chết người trong khi bắt giữ họ, đi ngược lại công ước chống tra tấn mà Hà Nội vừa ký ngày 7 tháng 11. Việt Nam vẫn tiếp tục giam giữ những thành phần bất đồng chính kiến như các blogger, các sinh viên, các nhân vật tranh đấu cho nhân quyền, bày tỏ lòng yêu nước…

Và để làm một món quà gửi cho Liên Hiệp Quốc nhân dịp Hà Nội được bầu vào Hội Đồng Nhân Quyền, công an phường Thụy Khuê Hà Nội sáng thứ Ba 19 tháng 11 đã hành hung dã man, dùng những ngôn ngữ thậm từ độc ác và vô giáo dục với một nhóm dân oan bất kể tuổi tác, nam nữ, trong đó có hai em bé con luật sư Lê Thị Công Nhân và một em bé (Tài, 1 tuổi), con một phụ nữ tên là Nga. Bản tường trình của luật sư Lê Thị Công Nhân đã được gửi đi khắp nơi ở trong cũng như ngoài Việt Nam.

Đọc bức thư đó người ta sẽ thấy ngay việc làm tiếp tục của Hà Nội trong lãnh vực nhân quyền và tra tấn.

Liên Hiệp Quốc cần phải tiếp tục áp lực Việt Nam làm đúng những cam kết về nhân quyền nay Hà Nội đã được cho ngồi chính thức trong Hội Đồng Nhân Quyền.

Không thể cứ nói suông, hứa hão, dối trá như bọn chồn cáo vẫn làm từ bao nhiêu năm nay được nữa.

Bùi Bảo Trúc

Huyền thoại Mẹ

Govapha
Chia sẻ bài viết này


Đọc bài viết "UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA LÀ THẾ NÀY?" của chị Phương Bích, trong đó có tấm hình "Bà mẹ liệt sĩ trước túp lều tranh của mình". Lòng tôi trào dâng một cảm xúc bùi ngùi, chua chát. Cảnh đời này chỉ là một trong nhiều, rất nhiều hoàn cảnh đói nghèo trên quê hương ta, đủ mọi tầng lớp, già trẻ lớn bé. Bọn lãnh đạo độc tài Cộng Sản Việt Nam đích thực là một đảng cướp, bản chất đã là cướp thì không thể không cướp. Gia đình liệt sĩ hả? Cướp. Bộ đội hả? Cướp. Có công với cách mạng hả? Cướp. Dân đen hả? Cướp. Lột sạch đến khi không còn quần áo để mặc, người trước người sau, rồi ra ai cũng như ai, đảng cướp không bao giờ bỏ sót. Các má các chị các em gái có nghĩ đến chuyện đánh cướp thì cũng không còn truyền thống cách mạng của ngày trước nữa. Thời điểm đó còn cái lai quần, chứ giờ thì hơi khó. Muốn quấn lá chuối như Trần Minh khố chuối cũng phải bỏ tiền mua mới có lá mà quấn. Vì lá chuối cũng đắt, đó là mặt hàng chuyên xuất khẩu. Không tiền thì trần như nhộng. Đấy, có bà bị cướp, đi đòi đất với bộ dạng không mảnh vải che thân. Bị kéo lê lết trên đất sình, chỉ có chế độ quái đản này mới sinh ra như thế.
Gia đình liệt sĩ có công với cách mạng chúng nó chả coi ra gì, mất đất bị cưỡng chế nhà phải lê la nằm đường. Kêu oan đòi đất, dầm sương dãi nắng, có người phải nhặt rác để kiếm sống qua ngày. Đến sức cùng có người chịu không nổi ngã lăn ra chết, chết bờ chết bụi. Như người lính Phàng Sao Vàng, huy chương đầy ngực, cũng bị cướp trắng. Mấy chục năm đi đòi công lý chả có cơ quan nào đếm xỉa tới. Dân đen thì bị chúng nó đè ngửa hiếp rồi lột sạch từ từ, qua đề xuất đến nghị định, hết dự thảo luật tới chính sách rồi ra quyết định, ôi thôi đoạn trường. Giờ thêm một luật cướp với số tiền phạt lên đến 100 triệu, hãi hùng vãi. Nếu chúng nó kết án vô tội vạ, thì thằng nghèo chỉ có nước ăn cơm tù. Ai có khả năng nộp phạt thì tiền đó cũng chui tọt vô túi chúng nó đầy cứng. Ăn cơm tù thì cũng từ tiền dân đóng thuế, chúng nó đâu rụng sợi lông chân nào. Trước thì chúng nó ít sử dụng chính trị để đối phó mà thường gán cho tội danh đời thường. Nào là trốn thuế, chơi gái với vật chứng bao cao su, v.v. Theo kiểu côn đồ thì cho người chặn đường đánh đòn, quăng cứt vào nhà... Còn như dùng để răn đe những nhân vật lọt vào tầm ngắm của chúng, thì binh đường nào cũng thua, có khác gì. Giờ chúng nó thò được chân vào Hội Đồng Nhân Quyền rồi, trong kênh truyền thông của nhà nước, cha nội ngoại giao Minh chém gió ào ào mới kinh. Sau hậu trường chính trị, bọn họ đóng kịch bản gì thì không biết. Tôi chỉ biết chuyện vô được Hội Đồng Nhân Quyền đâu có làm thay đổi được bọn độc tài đảng trị. Với thành tích "thảm họa" nhân quyền sẽ vũ như cẩn, chưa gì mà chúng nó càng độc tài hơn, quyết liệt trong quyền lực trấn áp hơn, còn nóng ruột muốn cướp tiền dân được nhanh hơn. Luật thì là "luật giả", muốn cải trang hình thức nào thì cải trang, vì vốn không có liên quan tới luật nào. Luật "thật sự" là luật rừng của chúng nó.
Theo truyền thống cách mạng, mỗi lần tổ chức lễ "Tri Ân Liệt Sĩ" thì không thể thiếu những khuôn mặt của các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Đây là dịp các bà mẹ được tặng quà tặng hoa. Mà cũng lạ, cứ tới dịp này là phần nhiều các mẹ bận bịu ráo. Vì lần nào tôi căng mắt đếm, hàng ghế đầu có các bà mẹ tới dự chưa tới 10 người. Những dịp này cũng không thể thiếu được bài hát "Huyền Thoại Mẹ"của Trịnh Công Sơn. Chà, bài hát này để ca sĩ Cẩm Vân hát thì hay thôi rồi. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng, chắt bóp từng hạt lúa củ khoai để nuôi chồng nuôi con chiến đấu. Có người ra đi đi mãi không về. Lời thảng thốt kêu lên của chị Phương Bích “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN, ĐỀN ƠN ĐÁP NGHĨA LÀ THẾ NÀY?" thì cái dấu chấm hỏi đó không biết sẽ trôi về đâu. Những bà mẹ Việt Nam anh hùng nào "còn" được xuất hiện trên TV, trên mặt báo, "còn" được tặng hoa tặng quà thì phải biết ơn đảng ơn chính phủ. Bà mẹ Việt Nam anh hùng nào chỉ còn sót lại mái nhà tranh để che đầu, bữa đói bữa no thì cũng nhớ ơn đảng ơn chính phủ. Còn bà mẹ Việt Nam anh hùng nào bị chúng nó cướp đến không còn manh giáp thì cũng nhớ ơn đảng ơn chính phủ. Không nhớ ơn không được, vì sau khi đất nước được hòa bình, lũ cướp chúng nó nói ra rả trong những ngày lễ, hai tay dâng lên "Mẹ đã có cả nước non". Đấy, cả nước non mà chúng cũng đưa hết cho mẹ Việt Nam anh hùng. Giờ chúng chỉ cướp có mỗi miếng đất mà cứ kêu oan, làm phiền chúng nó phải đốt nhà dân, bắn đạn cay vào dân, phá hoại hoa màu, nổ súng vào đầu dân... Đời sống chính trị không nhân tâm với huyền thoại bà mẹ Việt Nam anh hùng đã tách ra quá xa. Tâm trạng bần thần, chợt nhớ tới tên một bài hát cũng của ông "Mắt mẹ vẫn chưa vui". Hình ảnh những bà mẹ liệt sĩ mất đất nằm đường kêu oan, những bà mẹ liệt sĩ sống trong cảnh tăm tối nghèo đói hiện ra trước mắt, tôi thở dài. Vui gì nỗi ông ơi!
Đất nước đã, đang trải qua sự hỗn loạn, bế tắc hết thuốc chữa. Sống dưới chế độ độc tài Cộng Sản, một giai đoạn lịch sử thật đen tối.

Người Buôn Gió - Cho ta gửi một mảnh trời xanh biếc

Người Buôn Gió
Chia sẻ bài viết này


Thế là đã đến tháng 12, tuyết đã rơi trên những vùng cao ở Châu Âu. Người ta đã mở chợ bán những mặt hàng đón Giáng Sinh và năm mới. Ở những siêu thị lớn, các cây thông khổng lồ đang được dựng lên và trang trí... và thế là đã xa quê hương gần 8 tháng rồi.
Sống ở đây trong an bình đến êm ả. Cái yên bình không những ở trong lòng mà nó còn ở bên ngoài cửa sổ, những con chim nhởn nhơ kiếm ăn trên bãi cỏ, lối đi. Chúng đỉnh đương phớt lờ người đi lại. Nhất là bọn quạ, chúng đi lại vênh váo và ngạo mạn. Ở quê hương 40 năm, mình chưa hề nhìn thấy con quạ bao giờ, dù đi ngược xuôi khắp đất nước rất nhiều...
Những con chim bồ câu thì khỏi nói, chúng là loại quá thuần mặc dù ở đây chúng sống tự do không nuôi như ta làm chuồng. Nhưng giống chim hoang dã như chích chòe, quạ, én, vịt trời, le le, thiên nga thì chúng cũng nghênh ngang tự tại ung dung mà chẳng lo gì cả.
Không hiểu vì sao, ở đến tháng thứ ba, khi hạn visa trong cuốn hộ chiếu hết. Người ta cấp cho tôi một cái thẻ. Tôi không hiểu cái thẻ nói gì. Ông Giắc cứ dẫn tôi đến sở ngoại kiều, ở đó họ chỉ tôi ký vào đâu tôi ký và nhận cái thẻ đi về. Đến khi có một người Việt xem và thốt lên ngạc nhiên lúc nhìn cái thẻ. Đó là thẻ cư trú có thời hạn. Nó có nghĩa là tôi có thể cư trú lại đây nếu tôi muốn, chỉ cần tôi kiếm được việc làm, chứng minh mình có thể sống mà không nhờ ai trợ cấp. Với điều kiện ấy tôi xin gia hạn cư trú thoải mái ở đây.
Bây giờ trong đầu tôi ám ảnh bởi lũ chim xứ này. Gần 20 năm trước trong khu kiên giam đặc biệt của một trại tù, tôi bị nhốt cách ly. Người ta xây khu kiên giam biệt lập, xung quanh là bức tường cao vút. Kiên giam là nhà tù trong nhà tù. Để ra được sân trại giam tù nhân thường chỉ một lần mở khóa, còn tù ở kiên giam phải 3 lần. Ở trong khu kiêm giam không nhìn thấy gì và thậm chí không nghe thấy gì cả. Một mình tôi ở căn buồng rộng đến 60 mét vuông trống vắng. Cả đời tôi chưa bao giờ được ở một mình trong căn phòng diện tích như thê, thật xa xỉ trong khi các bạn tù khác phải khéo léo để thu xếp đồ đạc của mình trên diện tích bằng 2/3 cái chiếu đơn. Ở đây là thiên đường của sự tĩnh mịch, nhưng nếu sự tĩnh mịch được nuôi dưỡng bằng song sắt phi 12 và những bức tường dày 30 cm cao 6 mét hết ngày này qua ngày khác thì nó lại là địa ngục.
Sự tĩnh mịch chỉ tồn tại trong nửa tháng đầu tiên, sau đó là sự âm u.
Ngày hai lần, cán bộ trực trại mở khóa để thằng tù bếp lẻn vào nhanh như con sóc, nó ném vào buồng giam một túi nilo vo nắm cơm bằng quả cam xã Đoài, đôi khi nắm cơm bằng quả cam Bố Hạ. Vì tù thiếu chất C, nên tôi hay ví nắm cơm là quả cam.
Tôi phát hiện thấy đôi khi có vài con chim sẻ xà xuống khoảng sân trước mặt buồng giam kiếm ăn, chúng nhặt cái gì trên khoảnh sân trống trơn ấy, có gì ăn được lọt qua khoảng tường cao 6 mét kia vào đây cho chúng, khi mà con người ở đây cũng đói lả triền miên. Chúng sà xuống giây lát và bay đi, để lại cho kẻ sau hàng song sắt phi 12 tiếc nuối khoảnh khắc sinh động của sự sống.
Tôi dành cơm để vất ra sân, mấy ngày đầu hạt cơm khô đi, không có con vật nào đến. Rồi vài ngày sau lũ chim nhảy xuống và nhặt hạt cơm. Đến tối lại có mấy con chuột từ cống chui ra nhặt hạt cơm. Hàng ngày tôi có thể thấy lũ chim ríu rít ngoài sân. Những tháng ngày biệt giam đó tôi có lũ chim làm bạn.
Bởi thế tôi nhìn lũ chim ở đây, lũ chim trên đường phố Paris, Berlin, Gienevo, Budapet, Oslo... chúng béo mượt và dạn dĩ khiến tôi chạnh nhớ lũ chim sẽ nhỏ bé năm nào trong khu kiên giam.
Tôi cầm tấm thẻ được quyền cư trú có hình tôi ngắm, bỗng tôi chợt thấy đè trên ảnh mình là ảnh của những người anh, người bạn, người em bạn mình lần lượt hiện lên. Lê Quốc Quân, Lê Văn Sơn, Nguyễn Văn Hải, Cù Huy Hà Vũ,... những người anh em quen biết hiện đang ở trong tù.
Tôi ngồi đây giữa Châu Âu, ngắm lũ chim béo mọng nhơn nhở. Những người anh em kia của tôi đang nằm sau song sắt phi 12 của nhà tù giữa mùa đông lạnh giá tê tái đang đến. Đôi khi tôi tự dằn vặt mình như có lỗi với họ, mặc dù chúng tôi là bạn và con đường đi của mỗi người có khác nhau. Tôi ưa thành một nhà văn hơn là một người hoạt động xã hội. Chẳng phải tôi hèn, mà thiên hướng bẩm sinh trong người nghiêng về phía viết tào lao phù phiếm nhiều hơn những câu chữ cần sự nghiêm túc, chính xác như luật.
Nhưng quả thật cảm giác ngồi hưởng tự do ở đây trong khi những người bạn đang trong chốn lao tù là cảm giác rât day dứt, nhất là mình đã từng trải qua nhà tù, biết rõ về nơi đó.
Ngày mai 2 tháng 12 năm 2013 là ngày sinh nhật tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Thế là đã hơn 3 năm tù và 4 lần tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đón sinh nhật của mình trong nhà tù, chẳng phải ở căn biệt thự cổ giữa trung tâm Hà Nội đầy đủ tiện nghi. Con người ấy đã dấn thân chấp nhận cuộc sống đầy đủ để tiến vào con đường đòi hỏi công bằng, đòi quyền con người cho nhân dân và chủ quyền cho đất nước.
Bản án 7 năm tù dành cho những phát biểu, bài viết của anh là một sự bất công. Không nói đến bất công so với quốc tế với tiêu chí tự do ngôn luận. Mà nó bất công ngay với cả cách hành luật vốn dĩ đã bất công ở Việt Nam. Với những gì mà tiến sĩ nói thì bất công lắm như thường lệ cũng chỉ khép anh vào điều 258 là cùng. Thế nhưng sự bất công vốn có sẵn trong hệ thống lại được cộng thêm sự thù hằn cá nhân, lợi ích nhóm đã đẩy tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ sang một tội danh nặng nề hơn để kết án anh 7 năm tù đằng đẵng.
7 năm hay 12 năm sẽ trôi đi, nhưng những vết nhơ trong lịch sử ngành tư pháp Việt Nam vì những bản án bất công thế này sẽ còn mãi mãi đến nhiều đời sau.
Khi hưởng sự tự do, mới thấm thía sự mất mát của những con người dù xác định phía trước là nhà tù, vẫn hiên ngang bước tới, chấp nhận rời xa hạnh phúc cá nhân để lên tiếng vì một tương lai tốt đẹp và tươi sáng cho dân tộc, đất nước.
Và anh, tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ, con của bộ trưởng Cù Huy Cận là người như thế đó.
Nếu khi này còn ở Việt Nam, tôi sẽ mang một lẵng hoa có dòng chữ "chúc mừng sinh nhật tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ" đến nhà anh, gõ cổng chính vào giữa buổi sáng để trao chị Dương Hà, nhờ gửi giúp đến anh lời chúc mừng anh sớm trở về với gia đình, bình an và mạnh khỏe. Nhưng năm trước thì được, năm nay ở xa, xin gửi về sinh nhật anh bài hát để bày tỏ ít tình anh em.

Lâm Thúy Vân.- Ai trở về xứ Việt 

Truyện ngắn: Đàn Bò Sữa

Nguyễn Chí Thiện
Chia sẻ bài viết này


Mới chín giờ sáng, nắng đã gắt. Lại một ngày nóng dữ. Hàng chục nữ tù nhân đổ năm bao tải chặt cứng những túi ni-lông ra cạnh bể nước trước phòng. Đó là những túi ni-lông gia đình các phạm nhân đựng quà gửi vào. Họ rửa sạch sẽ từng túi một, rải ra phơi khắp sân. Ngoài khoản ni-lông, còn có khoản dép nhựa. Tù ở các buồng chung phải đi chân đất. Giầy dép thu, vất vào kho. Ban giám thị Hỏa-Lò đem bán hai khoản này. Tiền thu được, mua lợn, nuôi cạnh nhà bếp. Bọn cấp dưỡng có trách nhiệm phải nuôi chúng bằng cơm tù, rau tù. Trong chuồng, lúc nào cũng ủn ỉn bảy, tám “ông ỷ” béo nục nịch. Thỉnh thoảng, quản giáo, công an võ trang lại thịt một “ông”, liên hoan. Tù không được một miếng. Mùa hè, sân gạch nóng bỏng. Tù không giầy dép, ngồi ăn quà, ăn cơm, chân dát rộp. Mùa đông, sân gạch lạnh ngắt, chân buốt giá, tê tím, như kim châm.
Chẳng mấy khi được ngồi ngoài hiên thoáng đãng, cạnh bể nước. Tha hồ vốc nước lên mặt, lên cánh tay, cho nó mát da, mát thịt. Các ả vừa thủng thẳng làm, vừa chuyện trò:
- Thằng bé tội quá. Gầy còm, ghẻ lở đầy mình.
- Hôm mới vào, trông nó kháu khỉnh. Cái mồm lúc nào cũng toe toét cười.
- Nó giống mẹ nó nhỉ. Tao cũng ước có một đứa con.
- Có con, để mày mang đầy nó vào tù với mày!
- Khổ thân thằng bé, mới có mười tháng đã là tù nhân rồi!
- Mẹ nó không có sữa nuôi nó.
- Ăn uống thế, mà đòi có sữa!
- Không ai có sữa hộp để cho nó.
- Dạo này, nó ốm, khóc quấy quá.
- Bố nó đi chiến đấu ở Căm-pu-chia, bị mìn chết. Mẹ nó chỉ có một bà chị. Bà này nghèo dớt mồng tơi, lại đông con, không dám nhận nuôi nó.
- Gia đình bố nó ở tận Quảng-Bình. Nghe đâu cũng đói lắm. Đường xá xa xôi. Tiền đâu tầu xe mà ra tận Hà-Nội đón nó về.
- Kể nó cũng liều. Là giáo viên, mà dám đem cả “Nghĩa vụ quốc tế” của Đảng ra chửi. Bị bắt là phải.
- Liều cái gì? Được tin chồng chết, nó đau khổ quá, hoá điên, mới làm vậy. Nó bảo vợ chồng nó yêu nhau lắm.
Tiếng mụ quản giáo, the thé:
- Mấy con đượi, nhanh tay lên, rồi vào. Đừng có lợi dụng ngồi mát, tán hươu, tán vượn với nhau. Bận sau, để những đứa khác làm. Không khiến chúng bay nữa. Có tí ni-lông, mà dềnh dàng, từ sáng đến giờ chưa xong. Quen thói nằm ngửa, ăn sẵn.
Các ả vội vã nhanh tay. Một lúc sau, xong việc, kéo nhau vào.
Đương ở ngoài, bước vào phòng như bước vào lò hấp. Phòng nữ tuy không quá đông như các phòng nam, nhưng cũng chật ních. Mùi cầu tiêu, mùi mồ hôi, mùi máu mủ ghẻ lở, lậu, giang mai, kinh nguyệt, quện vào nhau, lan tỏa. Tệ hơn phòng nam. Các ả đói meo, gầy teo, da dẻ nhăn nheo, ghét bẩn, đầu tóc bù xù. Những đường cong tuyệt mỹ trở thành những đường thẳng khẳng khiu. Không thể gọi là phái đẹp được nữa. Trừ những mụ tự giác, những mụ tham ô, buôn bán, và dăm bảy “nữ quái” trấn lột được của người khác mà ăn, là còn có da, có thịt.
Buổi chiều, đếm tù xong, mụ quản giáo khóa phòng lại. Trong phòng, gần hai trăm ả, kẻ cởi quần, kẻ cởi áo, nằm, ngồi ngổn ngang, lấy những miếng giẻ con, thấm máu mủ, ghẻ lở cho nhau. Mấy mụ tự giác, mấy nữ quái, phanh ngực, ngồi ở đầu phòng, gần cửa, chuyện trò.
Mụ trưởng phòng đã ngoài bốn mươi, nhưng vóc dáng thanh mảnh, trông còn tươi mát, bế đứa nhỏ trong tay, nựng:
- Cô thương cháu quá. Tí hon thế này, mà đã tù. Chỉ tại mẹ cháu trẻ người non dạ, ăn nói dại dột. Ngoan nào! Cô sẽ kiếm sữa cho cháu. Cười đi! Khổ thân cháu tôi quá. Ăn toàn cháo loãng. Mẹ nó có còn đường không? Cô giáo đừng ăn của con đấy nhé.
- Cảm ơn các chị thương cháu, cho nó. Em đâu nỡ ăn của con. Đường còn đủ nó ăn vài hôm nữa. Cháu nó ghẻ lở quá. Lại sốt. Em lo lắm. Ông y sĩ cho uống át-pi-rin, nó cứ ọe ra. Thuốc bôi ghẻ, thì đợi mãi chưa có. Nó quấy suốt đêm, không chịu ngủ. Gầy xọp đi. Không hiểu mẹ con em kiếp trước phạm tội gì, mà trời đầy đọa đến thế này. Bố nó bỏ mạng xứ người. Mẹ con em thì vào tù đã năm tháng rồi.
Nói xong, cô giáo ôm mặt, nức nở.
Mụ trưởng phòng an ủi:
- Đừng khóc nữa. Sẽ được về thôi. Trên thế nào cũng xét, chiếu cố cho mẹ con em. Em thật là dại. Bao nhiêu người chồng chết, con chết. Có ai dám cả gan chửi như em đâu. Em phải làm đơn, nhận hết khuyết điểm. Xin Đảng khoan hồng cho mẹ con em.
- Em đã nhận hết tội lỗi. Làm hai lá đơn rồi. Có thấy gì đâu. Thực ra, em không chửi. Em chỉ kêu khóc là “nghĩa vụ quốc tế” đã giết chồng em. Thế rồi, bị bắt ngay.
- Giữa trường học, mà kêu thế, ảnh hưởng lắm. Em phải thấy tội em nghiêm trọng.
Một nữ quái trẻ măng, thân hình thon thả, mặt trái xoan, mũi dọc dừa, da trắng mịn, đôi mắt to, đen láy, bĩu môi:
- Nói một câu như thế, mà cũng bỏ tù mẹ con người ta! Em cũng vậy. Có làm hại gì tới chế độ đâu, mà cũng bắt bớ. Em ngủ với bọn sứ quán Tây phương, thì việc gì tới Đảng? Em không có sức đi công trường đắp đường, gánh đá. Em kiếm tiền theo lối của em. Thuận mua, vừa bán. Có ăn trộm, ăn cắp của ai đâu.
- Mày là “phò tây” còn kiếm ra tiền. Bọn tao, ngày đi lao động, tối đi “kiếm thêm”, vẫn chưa đủ tiêu. Thế mà cũng tù ra, tù vào. Có lần, gặp thằng đểu. Nó đèo tao ra tận ngoại thành. Đã chơi quỵt thì chớ. Nó còn lấy cả quần, phóng xe đi mất. Lần ấy, may gặp một bác già cứu. Bác cho tao cái quần của bác, mặc quần đùi, đèo tao trở về. Tao nhớ ơn suốt đời. Tiếc rằng không gặp lại được bác ấy.
- Mày tưởng “phò tây” không nguy hiểm à? Mỗi lần ra vào sứ quán, tao phải nằm phục xuống sàn xe. Lần này, vừa ra khỏi xe, xuống đường, là bị “chôm” ngay. Còn bị nghi là gián điệp nữa!
Mụ trưởng phòng thở dài, nhớ lại thời xa xưa:
- Nói thực với các em, chị cũng tiếp Tây nhiều lắm. Chúng nó sang trọng, lịch sự. Cho chị nào tiền, nào ra-đi-ô, đồng hồ, xe đạp. Chị sống như một bà hoàng. Chị không phải lén lút như các em bây giờ đâu. Hồi đó, chị ở Hải-phòng. Bố Mẹ chị bán thuốc tây. Chị được ăn học. Nói tiếng Pháp khá trôi chảy. Chị tích cực hoạt động nên được kết nạp vào Đoàn. Chị được điều sang làm việc ở khách sạn Bắc-Kinh, gần ngang cầu Hạ-Lý. Đó là nơi các đồng chí chuyên gia y tế Tiệp-Khắc ở. Trước khi nhận công tác, chị được gặp một đồng chí trong Ban Bí-Thư thành-ủy, căn dặn là phải phục vụ các đồng chí chuyên gia hết mình. Đồng chí đó giơ ngón tay lên, nhấn mạnh: “Nhớ rằng phục vụ vô điều kiện. Thỏa mãn mọi yêu cầu của các bạn Tiệp. Chắc cháu hiểu chú muốn nói gì? Đây là công tác cách mạng. Đòi hỏi phải hy sinh. Bao đồng chí đã hy sinh cả cuộc sống cho cách mạng cơ mà. Nhiệm vụ của cháu rất vẻ vang”. Nhìn thấy người Tiệp họ ăn uống, mà thương cho các cán bộ của mình. Các loại thịt, các loại hải sản, thừa mứa. Bữa nào cũng phải đổ đi. Mứt sen mình biếu, họ chê ngọt, đổ đầy thùng rác. Cán bộ mình ăn có 18 đồng một tháng. Họ ăn những 180 đồng. Lại hưởng giá cung cấp, rẻ thối. Hoa quả, đồ hộp, bia rượu, không tính. Lương bác sĩ của họ hai nghìn đồng. Lương đầu bếp, sáu trăm đồng. Trong khi lương bác sĩ mình có sáu mươi đồng. Đầu tiên, chị tưởng có mình chị được giao trách nhiệm đó. Sau, chị mới biết có nhiều cô trẻ đẹp cũng làm như chị. Họ không làm việc ở khách sạn. Họ chỉ được ô-tô đưa tới vào buổi tối, hoặc buổi trưa. Tùy theo yêu cầu. Cô nào, cô ấy áo dài tha thướt, nước hoa thơm ngát. Trong đời phục vụ cách mạng của chị, chỉ có giai đoạn đó là vinh quang nhất. Mấy năm sau, chị được kết nạp vào Đảng. Được Đảng giới thiệu, cho lấy chồng. Lần này, bị tù, chỉ vì tham ô hai mươi tấn gạo. Nhân viên của chị ngồi bán hàng, đứa nào cũng giầu. Chúng nó ăn cò con, năng nhặt, chặt bị. Chẳng ai bắt được cả. Tiêu chuẩn nhân dân mười cân một tháng. Chúng cân cho chín cân rưỡi. Mỗi ngày, bán ra bao nhiêu là tấn gạo. Chúng kiếm vô số. Có điều, chúng phải biếu xén đủ mặt.
Nữ quái bất bình:
- Chị cũng làm như em, thì chị được coi là làm nhiệm vụ vẻ vang, được kết nạp vào Đảng. Em thì bị bêu rếu, bị bắt bỏ tù. Chẳng còn trời đất nào cả!
- Chị làm theo lệnh của Đảng. Còn em, là tự ý em. Khác nhau là ở chỗ đó. Nhưng thôi, chúng ta hãy tìm cách kiếm sữa cho thằng bé này.
Mụ đu đưa thằng bé, nựng:
- Khổ thân cháu cô. Còm quá! Thương quá!
- Ai mà chẳng thương. Nhưng những người có tiếp tế, không ai có sữa. Biết làm thế nào?
Nữ quái hớn hở:
- Em đã có cách. Tụi công an đi tuần ban đêm, biết chúng ta mùa hè không mặc quần áo. Chúng thường trèo lên chỗ song sắt trên cao nhòm vào. Thèm ứ tới tận họng. Tại sao chúng ta không giở nghề ra, kiếm sữa cho thằng cháu? Đêm, em sẽ ra đứng ở cửa dụ chúng. Thằng nào muốn đụng vào người em, em bắt phải đưa hai hộp sữa. Lão chánh giám thị ra lệnh bắt phải mặc quần áo. Làm như nghiêm lắm! Nhưng chính em, một lần đi tiểu ban đêm, nhìn thấy nó trèo lên, nhìn vào. Một hôm, em đi cung về, mắt lão hấp ha, hấp háy, vờ vẫn hỏi chuyện, còn giáo dục em. Mồm sặc hơi rượu.
- Lão ta đứt mạch máu não, chết hơn một tuần rồi. Lão đã trắng trợn tán tỉnh chị mấy lần. Đàn ông toàn một ruộc cả. Sáng kiến em hay đó. Bắt đầu ngay đêm nay đi.
Cô giáo nhìn nữ quái, ngập ngừng:
- Chị cảm ơn lòng tốt của em. Không ngờ em thương cháu đến như vậy. Nhưng chị không muốn em gặp phiền phức. Lộ chuyện, em có thể bị cùm.
Nữ quái cong cớn:
- Vì thằng bé, cùm, em cũng không sợ. Phục vụ nó còn tốt hơn phục vụ cách mạng!
Mụ trưởng phòng cười:
- Em nói xỏ xiên chị. Nhưng em nói đúng. Chị không giận. Nhớ phải thành công. Thận trọng một chút.
Đêm đó nữ quái ngồi ngay ở cửa. Cả phòng đã ngủ. Muỗi vo vo từng đàn, tha hồ hút máu trên tấm thảm người trần trụi, nham nhở ghẻ lở. Những tiếng mê sảng, thảng thốt, thỉnh thoảng bật ra, ú ớ, nức nở. Nghe tiếng giầy, nữ quái gục đầu xuống đùi gối.
- Đêm hôm không ngủ, ngồi ở đây làm gì?
Ả ngẩng đầu lên, cười:
- Báo cáo cán bộ, nóng quá, em không ngủ được. Ngồi đây cho thoáng một chút. Phòng bí quá.
Ả đứng lên. Chiếc áo không cài khuy tự động phanh ra. Hai tên công an không rời mắt khỏi hai trái tuyết lê chắc nịch, núm hồng hấp dẫn.
- Em có chuyện muốn báo cáo riêng với một trong hai cán bộ.
Một tên đưa mắt nhìn tên bạn, nói:
- Cậu ra ngoài canh.
Tên kia đi khỏi. Ả nói ngay, nũng nịu:
- Mấy hôm nay không có cơm. Em không ăn được bo bo. Em bị đau ngực lắm. Em muốn xin cán bộ hai hộp sữa.
Tên võ trang, giọng nhân đức:
- Phải cố mà ăn, giữ sức khỏe chứ. Được, ba giờ đêm mai, tôi sẽ cho sữa. Đau thế nào? Tù mà ốm đau là khổ lắm.
- Cảm ơn cán bộ. Em đau ở chỗ này. Nhức lắm.
Ả chỉ tay vào ngực. Tên võ trang thò ngay tay vào, mân mê.
Ả để yên khoảng một phút, rồi lùi lại:
- Thôi, em đi ngủ. Đêm mai, em đợi cán bộ. Nhớ cho em hai hộp sữa. Em sẽ đền bù lại thỏa đáng.
Ả đi vào.Tên võ trang đứng tần ngần một lúc, rồi bỏ đi.
Sáng hôm sau, như thường lệ, gã nhà bếp tới lấy thùng nước đặt ngoài cửa mang đi.
Mụ trưởng phòng gọi lại:
- Anh bạn cấp dưỡng, tôi muốn nhờ anh một việc.
Gã nhà bếp dừng lại, nhìn quanh, vẻ e ngại:
- Có việc gì, nói nhanh lên.
- Phòng tôi có một cháu bé mới mười tháng. Nó không ăn được. Chúng tôi có kẹo, bánh. Anh đổi dùm cho một hộp sữa để nó uống. Nếu có thể, anh kiếm cho ít kháng sinh. Nó sốt cao mấy hôm rồi. Ông y sĩ bảo trại hết thuốc kháng sinh, phải đợi. Anh làm phúc giúp hộ.
- Được, tôi sẽ cố.
Gã xách thùng về nhà bếp, nghĩ ngợi. Cánh nhà bếp thường được ông quản giáo phụ trách dẫn ra phố mua bán. Kiếm hộp sữa, không có gì là khó. Nhưng nội quy cấm ngặt việc liên lạc với các phòng. Mồm đàn bà bép xép. Lộ ra thì bị tống đi trại lập tức. Vợ gã phải mất mười cây vàng mới mua được chân làm bếp ở Hỏa-Lò. Gã cũng muốn giúp thằng bé. Nhưng bản thân gã quan trọng hơn nhiều. Không thể làm liều được. Còn chuyện thuốc kháng sinh, thì gã đã có sẵn. Ông y sĩ mới đưa cho gã ba chục viên tétra, dặn gã nghiền ra, rắc lên chỗ mông con lợn bị chuột gậm. Con lợn này béo quá, không đi đứng được. Cứ nằm ềnh ra. Ban đêm, chuột tới gậm mông ăn. Nhà bếp đã phải cấp tốc đan chiếc lồng bàn tre, úp lên nó. Cho thuốc thằng bé uống, nhỡ nó làm sao, thì đại họa. Thôi, việc thiên hạ, không nên bận tâm tới.
Đêm hôm đó, trước giờ hẹn, nữ quái đã đợi sẵn.
Tên võ trang hôm qua mò tới, cười nhăn nhở:
- Anh bận quá, chưa có thì giờ ra phố. Hẹn em đêm mai, khoảng một giờ. Tuy không phải phiên tuần tra của anh, nhưng vì em, anh sẽ mang sữa tới. Cho anh xem chỗ đau của em đi.
Nữ quái ức lắm, định chửi. Nhưng cố kìm lại. Vì hy vọng có hai hộp sữa đêm mai, ả chiều lòng, cho hắn mân mê một phút. Hắn hăng máu, đưa tay xuống phía dưới.
Ả lùi lại, nói nhỏ:
- Trong phòng có người vừa dậy. Hẹn anh tối mai.
Rồi đi vào, mặc tên võ trang đứng đờ đẫn ngoài song sắt.
Nữ quái về chỗ nằm, uất ức, mặt bừng bừng.
Mấy cô bạn nằm cạnh thì thào hỏi:
- Thế nào? Thất bại à?
- Gặp phải thằng bọ, chỉ muốn gỡ gạc, không muốn chi, phải không?
- Phải có cách nào chứ? Chẳng lẽ chịu lỗ với nó sao?
Nữ quái thì thầm, bàn tán kế hoạch tác chiến với mấy cô bạn. Tất cả đồng tình, quyết tâm phải làm bằng được. Phải thu hoạch lớn là đằng khác.
Sáng dậy, thấy không có sữa, mụ trưởng phòng than thở với nữ quái:
- Chị đã nhờ thằng nhà bếp. Nhưng nó sợ, không dám giúp. Em thì đã mất công toi hai đêm.
Thôi, để chị xin phép bà quản giáo viết thư về gia đình. Chồng chị sẽ gửi sữa cho chị. Nhưng sớm nhất là tận cuối tháng mới có.
Nữ quái tươi cười:
- Chị cứ an tâm. Em hứa với chị đêm mai là có sữa. Có thể đêm nay đã có, không biết chừng.
Gần một giờ đêm, nữ quái đợi ở cửa. Ả đã mất hai đêm công cốc rồi, nên hận lắm. Ả nhất định không chịu thất bại. Gặp thằng đểu, ả phải đểu hơn. Vỏ quít dầy phải có móng tay nhọn.
Tên võ trang cay cú lại mò tới, tay không.
Ả đon đả:
- Em nhớ anh quá. Chỉ sợ anh không đến. Em đâu có phải vì hai hộp sữa, để em bỏ cả ngủ, chờ anh. Chỗ đau của em đã đỡ rồi. Nhờ anh xoa hộ lần này nữa là khỏi.
Tên võ trang vui mừng:
- Nếu em thật lòng yêu anh. Khi ra tù, chúng ta sẽ cưới nhau.
Hắn thò tay qua song sắt, say sưa xoa bóp. Hai tay nữ quái giữ chặt cánh tay hắn. Một cô bạn nấp sẵn ở bên tường nhẩy tới, nhanh như cắt, tháo chiếc đồng hồ đeo tay của hắn. Đó là nghề chuyên môn của ả. Tất cả diễn ra chớp nhoáng vài giây.
Nữ quái vểu mỏ, nói vào cái mặt nghệt ra của tên võ trang:
- Đồ bọ chó! Mỗi lần hai hộp. Đúng 11 giờ tối mai, mà không mang sáu hộp sữa tới, bà sẽ mang cái đồng hồ Seiko này báo cáo với Ban Giám-Thị. Bà không dọa mày đâu. Đúng 11 giờ, bà không thức đợi được!
Nói xong, ả bỏ vào phòng, không thèm nghe hắn ấp úng xin xỏ.
Sau khi nhận đủ sáu hộp sữa, giả lại đồng hồ cho tên võ trang, nữ quái đưa tất cả cho mụ trưởng phòng, vẻ đắc thắng:
- Chị giữ lấy. Mỗi ngày pha cho cháu nhỏ nửa hộp. Hết, em lại kiếm “con bò sữa” khác.
Mụ trưởng phòng thán phục:
- Công nhận em có bản lĩnh. Mưu kế thực. Xứng đáng với danh hiệu “nữ quái”. Bọn võ trang rồi sẽ khốn đốn với em.
- Từ nay trở đi, em phải chơi lối tiền trao, cháo múc. Không để rắc rối như lần này nữa.
Thằng bé có sữa uống, đã mập ra đôi chút. Mụ trưởng phòng kiếm được thuốc ghẻ, bôi cho nó. Ghẻ cũng đỡ. Không thuốc men gì, cơn sốt của nó cũng tự nhiên khỏi.
Cô giáo đưa con cho nữ quái bế, cảm động:
- Từ nay, em là mẹ nuôi của nó. Lớn lên, chị sẽ kể chuyện cho nó, bảo nó phải coi em như mẹ. Em đã cứu sống nó đấy.
Nữ quái nâng niu thằng bé trên tay, cười rất tươi. Ả vui trong lòng, vì thấy mình đã làm được một việc tốt.
Ngày lại ngày trôi đi. Trong vòng một tháng, đã có thêm ba tên võ trang nộp sữa cho nữ quái.
Mụ trưởng phòng cười vui:
- Đúng là một “đàn bò sữa”. Nữ quái chăn bò cừ thật!
Những ngày đầu tháng tám. Thời tiết nóng lạ thường. Mặt trời chói lóa dội lửa xuống. Tường, sàn xi-măng, mái ngói, phả hơi nóng ra, hầm hập, ngột ngạt. Trong phòng đầy người, mùi hôi tanh nồng lên.
Mụ quản giáo ngồi dưới quạt trần, cau có:
- Trời đất gì mà như cái lò lửa. Quạt máy chỉ toàn quạt hơi nóng vào người. Tắt mẹ nó đi. Đài nói nhiệt độ lên tới bốn mươi độ. Đợt nóng này còn kéo dài nhiều ngày.
Các nữ tù nhân, mình mẩy nổi mụn đỏ. Ngứa. Rát. Ban đêm không thể ngủ được. Thằng bé lại sốt cao. Át-pi-rin, sữa, uống vào, đều ọe ra. Rôm sẩy đầy người. Nó khóc tới nghẹt thở. Mẹ nó chỉ còn xương với da, mắt quầng thâm, ôm con, lo lắng. Mất ngủ nhiều đêm liền, quá mệt.
Một buổi sớm, cô giáo thiếp đi. Khi tỉnh dậy, thấy thằng con bé bỏng há hốc cái miệng nhỏ xíu, mắt trợn lên, bất động. Hai bàn tay tí hon nắm chặt. Cô sợ quá, ôm con vào lòng. Nó đã tắt thở. Cô hoảng loạn, kêu ầm lên, nước mắt dàn dụa:
- Con tôi chết rồi! Con tôi chết rồi!
Cả phòng xôn xao. Trưởng phòng, nữ quái, mấy ả nữa đổ xô tới. Nó đã chết thật. Cô giáo gục đầu vào ngực con, ngất xỉu. Nữ quái úp mặt vào hai bàn tay, nức nở.
Trưởng phòng nước mắt dòng dòng, ra cửa kêu:
- Báo cáo cán bộ! Phòng nữ có người chết!
Một lúc, mụ quản giáo cùng một tên tù tự giác tới. Mụ mở cửa, hỏi:
- Ai chết?
- Báo cáo cán bộ, thằng bé con.
- Đưa nó ra.
Trưởng phòng vào, định bế thằng bé ra. Mẹ nó đã tỉnh lại, ôm ghì con trong lòng, gào lên, điên loạn:
- Con của tôi, nó phải ở với tôi! Không ai có quyền đưa con tôi đi đâu!
Thấy cô giáo mắt trợn trừng, ôm chặt con không rời.
Trưởng phòng bối rối, dỗ:
- Em bình tĩnh lại. Cháu nó đã mất. Nên để người ta đưa đi chôn cất, cho nó được mồ êm, mả đẹp. Em giữ đây làm sao được. Nghe chị. Chị cũng đau khổ, thương cháu lắm.
Cô giáo ôm chặt con hơn:
- Không, không được, tôi phải giữ nó với tôi!
Mụ quản giáo ngoài cửa sốt ruột, bảo tên tự giác:
- Vào mang nó ra!
Tên tự giác vào phòng. Nó giật đứa bé khỏi tay cô giáo, đẩy cô ngã chúi xuống. Rồi ôm đứa bé đi ra. Cửa khóa lại.
Cô giáo vùng dậy, chạy theo, gào thét:
- Trả con tôi! Trả con tôi! Tôi tự tử chết!
Cô đập đầu vào song sắt. Trưởng phòng, nữ quái ôm chặt lấy cô. Máu từ đầu chảy xuống, hòa với nước mắt, đỏ lòm. Hai người khiêng cô vào, đặt lên sàn. Nữ quái xé áo mình, băng vết thương trên đầu, lau máu trên mặt cô.
Khi tỉnh lại, miệng cô lảm nhảm:
- Trả con tôi, trả con tôi. Con ơi, mẹ thương con quá!
Sợ cô giáo tự sát, suốt ngày, suốt đêm, nữ quái cùng mấy ả thay nhau ngồi bên, an ủi cô.
Sau cái đập đầu vào song sắt. Cô giáo không chết. Cô chỉ trở thành người mất trí. Lúc cười, lúc khóc, lúc ngồi thừ ra, lúc ôm túi quần áo trong tay như ôm con, hôn hít. Ngày nào cô cũng múa hát. Giọng cô khàn. Nhưng cô múa rất dẻo. Cô chỉ hát một bài duy nhất. Bài hát đã được các thầy, các cô dạy, từ thủa cô còn là một nhi đồng sáu, bảy tuổi. Cô vừa múa, vừa hát, miệng tươi cười:
Ai yêu bác Hồ-chí-Minh hơn các em nhi đồng
Bác chúng em, dáng cao cao, người thanh thanh
Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài
Bác chúng em, vì đất nước, quên thân mình
Bác nay tuy đã già rồi
Già rồi, nhưng vẫn vui tươi
Mong sao Bác sống muôn đời
Để dìu dắt nhi đồng thành người…
Một hôm, ăn cơm ngoài sân, cô đứng lên múa hát. Mụ quản giáo đương đọc tờ “Nhân Dân” cũng phải ngừng đọc, nhìn. Mụ khen cô múa hát giỏi. Thấy tờ báo có ảnh Bác Hồ to tướng, cô năn nỉ xin mụ quản giáo. Cô mất trí, nhưng hiền, không phá phách, mất trật tự. Mụ cũng thương hại. Mụ cắt hình Bác ở báo ra cho cô.
Từ đó, đêm đêm, cô đặt ảnh Bác ở đầu chỗ nằm, quỳ xuống, xụt xùi khóc lóc, cầu khấn: “Cháu lạy Bác. Chồng cháu đã hy sinh vì cách mạng. Bác thương tha cho mẹ con cháu! Mẹ con cháu biết có tội với Đảng rồi. Xin Bác khoan hồng, thương tha cho! ”
Nhìn cảnh tượng đó, trưởng phòng, nữ quái, nước mắt ứa ra.
Thế rồi, một sáng đầu tháng mười, ông y sĩ vào dẫn cô đi. Cô được đưa tới một trại giam người điên bên Châu-Quỳ, Gia-Lâm.
Trưởng phòng thì thầm với nữ quái:
- Chắc nó được đưa đi bệnh viện Việt-Đức điều trị. Bác Hồ phù hộ đấy. Bác thiêng lắm. Hôm Bác mất “Người tuôn nước mắt, Trời tuôn mưa” * cơ mà!
*Thơ Tố-Hữu.
Nguyễn Chí Thiện