Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2014

Đổi mới là mệnh lệnh cuộc sống

Trong dịp năm mới Giáp Ngọ 2014, TS Lê Đăng Doanh chuyên gia kinh tế độc lập ở Hà Nội qua Đài Á Châu Tự Do đã gởi lời chúc đến người dân và cộng đồng doanh nghiệp tại Việt Nam.

Bán hoa đào Tết ở Hà Nội hôm 27/1/2014. AFP Photo
“Tôi xin chúc và cầu mong người dân Việt Nam và các doanh nghiệp sẽ có thể thực hiện các quyền tự do kinh doanh, các quyền tự do dân chủ của mình như trong Hiến pháp để thúc đẩy nền kinh tế, thúc đẩy đất nước phát triển lên. Trong giai đoạn sắp tới đây nền kinh tế Việt Nam sẽ phải hội nhập đứng trước những cơ hội và những thách thức hết sức to lớn và cũng gay gắt.”

∇ Nghe tường trình
Nhiều "bệnh" nặng 

Ngày 29/1/2014, trên báo Saigon Tiếp Thị Online, TS Lê Đăng Doanh, có bài viết “Đâu là thách thức lớn nhất trên đường phát triển?” Chuyên gia kinh tế này từng là thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương và sau này là thành viên Viện Nghiên cứu phát triển IDS đã tự giải thể, khi chính phủ dùng biện pháp hành chánh để cản trở tính cách độc lập của tổ chức này.

Theo TS Lê Đăng Doanh, câu hỏi nhiều người đặt ra trong những giờ phút suy tư trầm lắng của mùa xuân là “Phải làm gì để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng và trì trệ kéo dài này.”

TS Lê Đăng Doanh nhận định sau hơn 20 năm đổi mới với một số thành công đầy hứng khởi, ngày nay nhìn thẳng vào đời sống kinh tế-xã hội, ai cũng thấy lo âu cho tương lai đất nước. Theo lời ông, hiện nay thể chế đã trở thành nút thắt cổ chai quan trọng nhất phải vượt qua nếu nền kinh tế muốn tiếp tục tiến lên. Không cải cách thể chế, Việt Nam không chỉ bế tắc trong “bẫy thu nhập trung bình” mà còn phải đối mặt với những xung đột xã hội ngày càng tăng.

Vẫn theo TS Lê Đăng Doanh nền kinh tế đang phải đối mặt với nhiều bệnh nặng: nợ xấu ngân hàng, khủng hoảng bất động sản, doanh nghiệp nhà nước nợ lên đến 1,3 triệu tỷ đồng, nợ công tăng quá nhanh, số lớn doanh nghiệp tư nhân phá sản, đóng cửa, số còn lại chỉ kinh doanh cầm chừng hay đình đốn.

Trong bài viết TS Lê Đăng Doanh còn đề cập tới lũ lụt tàn phá miền Trung, nhân dân chịu thiệt hại lớn không chỉ là thiên tai mà có phần quan trọng là “nhân tai”: phá rừng, làm thủy điện thiếu tính toán đến môi sinh và an toàn của người dân vùng hạ lưu.

TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh trong bài viết của ông trên SGTT Online:  Tại Việt Nam tệ nạn tham nhũng, tiêu cực lớn nhỏ đều khắp, lãng phí chia chác rất phổ biến. Bộ máy hành chính cồng kềnh, tốn kém mà không hiệu quả, việc bổ nhiệm nhân sự hoàn toàn không minh bạch, không qua sự giám sát, xét duyệt của cơ quan dân cử, có quá nhiều cán bộ kém năng lực. Lợi ích nhóm chi phối không ít quyết định và chính sách, cơ chế “xin-cho” lại thịnh hành và thay thế quyền tự do kinh doanh, cạnh tranh theo pháp luật.




Tôi nghĩ rằng, công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng đòi hỏi những những quyết định, những biện pháp mạnh mẽ hơn để đưa những biện pháp đó vào thực tế.

- TS Lê Đăng Doanh
Đối với câu hỏi “Phải làm gì để đưa đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng và trì trệ kéo dài”, TS Lê Đăng Doanh đưa ra câu trả lời là cần cải cách thực chất về thể chế. Trong đó thực hiện công khai minh bạch theo các chuẩn mực quốc tế về chi tiêu ngân sách, cũng như trong các hoạt động khác của chính quyền. Vị chuyên gia nhấn mạnh rằng, phải luật hóa vai trò giám sát của báo chí, tổ chức quần chúng đối với bộ máy nhà nước, luật hóa quyền tiếp cận thông tin của người dân. Pháp luật phải bảo vệ người tố cáo tham nhũng, tiêu cực, thực hiện được điều gọi là  làm cho công chức “không dám tham nhũng, không thể tham nhũng và không cần tham nhũng.”

TS Lê Đăng Doanh cũng kêu gọi xóa bỏ những “vùng cấm”, đặc quyền đặc lợi, hạn chế sự lộng hành của các nhóm lợi ích bất chính. Ông cho là, những cải cách đó không có gì mới, nhiều nước đã áp dụng và họ đã xây dựng được nền kinh tế phồn vinh, xã hội công bằng, thịnh vượng, văn minh.
Phần kết trong bài viết trên SGTT Online, TS Lê Đăng Doanh hàm ý một tối hậu thư cho Đảng và Nhà nước: “Đổi mới vì đó là mệnh lệnh cuộc sống, sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam này.”

TS Lê Đăng Doanh được ghi nhận như một nhân vật tích cực ủng hộ quan điểm đổi mới thể chế kinh tế-chính trị trong thông điệp đầu năm  2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Đáp câu hỏi của Nam Nguyên là đã một tháng trôi qua, chuyên gia có nhận thấy một tín hiệu nào về việc chính quyền thực hiện những lời hứa hẹn của Thủ tướng. TS Lê Đăng Doanh đáp lời:

“Thủ tướng có triệu tập một số nhà kinh tế trong nhóm tư vấn kinh tế tài chính của Thủ tướng và cũng đã yêu cầu xây dựng một kế hoạch thực hiện cái thông điệp đó. Trong cuộc họp của chính phủ vừa qua, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam có trình bày một dự thảo kế hoạch về nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam, của các doanh nghiệp Việt Nam. Cho đến nay các nỗ lực ấy chủ yếu mới chỉ dừng lại ở các dự thảo và chương trình hành động. Còn về các công việc thực tiễn thì chính phủ tập trung vào việc lo Tết cho dân và cung cấp gạo cho những người nghèo, cũng như bảo đảm cho người công nhân ở Hà Nội và TP. HCM được về quê ăn Tết. Tôi nghĩ rằng đấy là các nỗ lực ban đầu của chính phủ và nhằm tập trung vào cái Tết Giáp Ngọ này.” 

Dân mất niềm tin

Một phụ nữ bán trái cây rong ở Hà Nội đang đếm tiền hôm 27/1/2014. AFP photo
Câu chuyện đổi mới thể chế cả kinh tế lẫn chính trị không phải là chủ trương mới nhưng trước kia nói nhiều hơn làm, bây giờ được tái vận động mạnh mẽ, người dân hoài nghi vì đã mất niềm tin. Vậy những việc cần làm ngay của nhà nước sẽ là gì. Nam Nguyên nêu câu hỏi này và được TS Lê Đăng Doanh trả lời:

“Hiện nay về mặt Đảng, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có nỗ lực thúc đẩy chống tham nhũng bằng các biện pháp như yêu cầu phải kê khai tài sản và có chỉ thị yêu cầu phải công khai việc kê khai tài sản đó ở mức độ cao hơn so với trước đây. Ông Tổng Bí thư cũng sử dụng Ban Nội chính để thúc đẩy quá trình điều tra chống tham nhũng và đưa ra một số vụ án như Vinalines với Dương Chí Dũng và em là Dương Tự Trọng. 

Còn về phía Chính phủ thì trong chương trình hành động cũng có đề ra một số biện pháp, nhưng trong cuộc thảo luận về thực hiện thông điệp 2014 thì một số nhà trí thức mong muốn có những biện pháp ngay trước mắt mạnh mẽ hơn và cụ thể hơn. Thí dụ như xem xét trả tự do một số người bị giam giữ mà thực sự không có hành động gì chống đối ngoài việc phát biểu ý kiến một cách thẳng thắn. Bên cạnh đó bãi bỏ một số quyết định ban hành trước đây mà ngày nay thấy không thích hợp. Thí dụ như Quyết định 97 dẫn đến việc Viện Nghiên cứu Phát triển IDS đã phải tự giải thể...v..v.. Những ý kiến đó cho tới nay chưa thấy được thực hiện.” 

Bước vào Năm mới Giáp Ngọ, người dân Việt Nam có thể hy vọng gì khi cách đây không lâu các chuyên gia đã liệt kê những khăn rất lớn đang tồn tại của nền kinh tế. TS Lê Đăng Doanh nhận định:
“Tình hình của Tết Giáp Ngọ này phản ánh rất rõ sức mua giảm, rồi hoa đào cành đào quất ở Hà Nội ế và ê hề ra cả. Tôi thấy có những người bán phải vứt cành đào đi vì họ thấy sức mua giảm, giá giảm đến mức nếu họ ở lại Hà Nội thêm nữa thì cũng không có đủ tiền để tiếp tục kinh doanh. Đấy là thể hiện rất rõ sức mua giảm sút của người dân.

Tôi nghĩ trong thời gian sắp tới cần phải có những biện pháp mạnh mẽ về việc thực hiện công khai minh bạch về việc kê khai tài sản, về việc sử dụng một cách có hiệu quả và công khai ngân sách nhà nước; hạn chế tối đa việc lạm dụng ngân sách nhà nước vào việc tư thí dụ dùng xe công đi ăn cưới hay đi lễ hội…mới đây báo chí có nêu lên cảnh dùng xe công đi lên tận Sơn La để chở đào rừng về Hà Nội. Tất cả những biểu hiện đó cần phải được sớm chấm dứt và đưa ra xử lý.

Tôi nghĩ rằng, công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước cũng đòi hỏi những những quyết định, những biện pháp mạnh mẽ hơn để đưa những biện pháp đó vào thực tế. Nếu thực hiện được các biện pháp đó thì tôi hy vọng nền kinh tế Việt Nam có thể vươt qua những khó khăn. Nếu không thực hiện được những biện pháp cải cách mạnh mẽ thì tình hình ngân hàng, tình hình nợ xấu, sự trì trệ trong bất động sản cũng như tình hình sử dụng ngân sách nhà nước một cách lãng phí trong đầu tư công có thể sẽ lại tiếp tục làm cho nền kinh tế Việt Nam trì trệ. Đây là điều rất cần tránh.” 




Trong thời gian sắp tới cần phải có những biện pháp mạnh mẽ về việc thực hiện công khai minh bạch về việc sử dụng một cách có hiệu quả và công khai ngân sách nhà nước

- TS Lê Đăng Doanh
Nếu TS Lê Đăng Doanh cho là “Đổi mới là mệnh lệnh cuộc sống, sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam”, vậy thời gian cần thiết để nhà nước Việt Nam thực hiện tối hậu thư của nhân dân sẽ như thế nào. TS Phạm Chí Dũng, một nhà nghiên cứu chính sách ở TP.HCM, người vừa từ bỏ đảng Cộng sản nói với chúng tôi là sẽ có một độ trễ nhất định. Ông nói:

“Nếu vấn đề cải cách kinh tế hay là xóa độc quyền có thể thực hiện ngay trong năm 2014 với một độ trễ khoảng từ 8 tháng tới một năm, thì nhân quyền phải cần ít nhất 2 năm để người ta quen dần với khái niệm mới và quen dần với cách ứng xử mới, cách ứng xử có văn hóa hơn. Chứ không phải giống như là cách ứng xử  tôi gọi là một nền văn hóa đấm đá nhân quyền mà ngay cả những ngày đầu năm mới 2014 vẫn xảy ra.” 

Sau khi thống nhất đất nước vào năm 1976,  Nhà nước Việt Nam cai trị đất nước theo chính sách lỗi thời của Đảng Cộng sản dẫn tới bế tắc toàn diện, lạm phát cao nhất lên tới mức 800% trong những năm 1980. “Đổi mới hay là chết” trở thành khẩu hiệu để tới đầu những năm 1990 Việt Năm bước vào một mùa xuân đổi mới.

Ngày nay đất nước đang lâm vào khủng hoảng và trì trệ kéo dài, nhu cầu cải cách kinh tế chính trị một lần nữa được đặt ra, điều mà TS Lê Đăng Doanh gọi là : “Đổi mới - đó là mệnh lệnh của cuộc sống, là sự thôi thúc của người dân trong mùa xuân trên đất nước Việt Nam này.”

Nam Nguyên, 
phóng viên RFA

Chân Trời Tím

Chương 1

Cánh cửa mày xám vừa bật mở, Phi bước vào trong căn phòng rộng. Động tác chào kín của chàng như một cái máy thuần tục. Nhận xét đầu tiên của Phi về người chỉ huy mới của mình là vị Trung Tá này nhiều tuổi, nghiêm trang nhưng chắc là thứ nghiêm trang giả tạo bởi ông này có dáng người thô kẹch và khuôn mặt dễ dãi như sằn sàng mở lời bằng một câu chửi thề kem thêm một nụ cười.

Tiếng Phi dõng dạc trong thủ tục trình diện :

- Hạ sĩ nhất Vũ Tiến Phi , quân số 200.1.1. Đại đội Tổng hành dinh, trình diện Trung Tá.

Vị chỉ huy nhìn Phi một lượt từ đầu tới chân rồi ông hất hàm :

- Hạ sỹ có bằng lái xe ?

- Dạ , tôi có bằng lái xe "xi vin", tôi lái xe nhà chứ không phải là tài xế xe nhà binh, sợ tôi lái... không quen.

Vị chỉ huy tỏ vẻ hơi ngạc nhiên trước câu trả lời cứng rắn đó của Phi, ông nheo mắt :

- Anh không muốn lái xe cho tôi sao ?

Môi Phi hơi nhếch lên tỏ dấu một nụ cười , tiếng chàng mềm mỏng hơn :

- Nếu Trung tá cho phép tôi lựa chọn, tôi xin làm một công việc khác thic'h hơn là lái xe.

- Trong quân đội không có vấn đề thích hay không . Tôi biết là tôi đã xử dụng anh đúng khả năng . Anh hết chiến đấu được rồi phải không ?

Phi lặng người, tiếng chàng như muốn đứt từng đoạn:

- Tôi chỉ bị hỏng một ngón tay trỏ trong cuộc tấn công cách đây hai tháng . Tôi hy vọng sẽ có ngày lành và lai. ra chiến trường.

- Anh thích chiến trường ?

- Không ! Tôi nhớ các bạn tôi . Vì các bạn tôi đã chết hoặc... chưa chết nên tôi thích cuộc đời của những người lính chiến đấu . Trung tá chắc cũng thừa biết đơn vị tôi chỉ biết thắng , không biết thua bao giờ.

Tiếng vị Trung tá cười khanh khách có thể nghĩ là một tiếng cười mỉa mai :

- Anh bao nhiêu tuổi ?

- Thưa hai mươi sáu.

- Anh còn trẻ lắm . Đánh nhau chỉ biết thắng không thua là tự sát . Thua trận nhỏ , thắng trận lớn mới là biết chiến đấu.

- Đơn vị tôi thắng trận nhỏ lãnh trận lớn.

- Tôi không muốn thảo luận chuyện đó với anh . Ngay từ bây giờ , anh lái chiếc jeep của tôi.

- Tuân lệnh Trung Tá.

Phi đưa tay chào rồi xoay người định bước đi . Nhưng tiếng vị Trung tá đã vọng lên:

- Anh có điều gì cần nói ?

- Thưa không.

- Anh biết tai. sao tôi chọn anh ?

- Thưa biết vì tôi có bằng lái xe và tôi có chiếc xe Simca vẫn thường lái vào trại , anh em ghet' tôi, họ đẩy tôi lái xe cho Trung Tá.

Mãi đến bây giờ vị Trung tá mới nở được một nụ cười thật tươi. Ông nhìn Phi một lần nữa rồi gật gù:

- Anh nói có phần đúng . tuy nhiên tôi cũng đã xem kỹ hồ sơ cuả anh . Anh trốn động viên, xin vào làm lính văn phòng . Anh ba gai, đánh lộn với một tên "sẹc đăng" tây, anh bị đổi ra đơn vị chiến đấu . Sau đó anh xin giải ngũ, nhưng không được . Chiến đấu hai năm , đáng lẽ anh được giải ngũ, nhưng anh xin ở lai quân đội. Anh mê cái lon "cai xếp" à ?

Phi cười , chàng biết là có thể nói đùa được nên chàng cúi đầu nói khẽ:

- Chắc vậy , thưa Trung Tá.

- Anh hút thuốc ?

- Cám ơn, tôi hút thuốc nhẹ.

Vị Trung tá đứng lên rời bàn giấy trong khi Phi móc túi lấy bao Salem và chiếc bật lửa Zippọ. Vị Trung tá thân mật vỗ vai Phi:

- Ngồi đó đi . Tôi thích những người lính "gai góc" như anh . Anh nổi tiếng ở tiểu đoàn về súng máy à ?

- Tôi bắn súng nào cũng được.

- Có vợ chưa ?

- Thưa chưa.

- Nhưng chắc có nhân tình ?

Phi vừa ngồi xuống ghế vừa lắc đầu:

- Có , nhưng... cũng không phải là nhân tình.

- Vậy là .. người yêu hay "phi ăng xê" ?

- Không là gì cả...

Vị Trung tá nghĩ rằng Phi không muốn thố lộ chuyện riêng tư nên nói qua chuyện kh'ac:

- Anh là con nhà giầu ?

- Thưa, nhà cũng thường thôi. Tôi là con một

- Anh học tới đâu ?

- Tôi thi rớt tú tài phần nhất thì vào lính.

- Làm với tôi anh sẽ có thì giờ học thêm.

- Cảm ơn Trung Tá.

Tuy nói vậy song Phi thừa hiểu mình không còn hơi sức đâu mà học thêm được nữa . Ngay từ hồi còn ngồi ở văn phòng, Phi cũng không thể học thêm . Hơn ba năm chiến đấu., Phi bỏ hẳn sách vở . Bây giờ thêm một chuyện tình đầy ray rứt . Phi biết mình không còn tâm trí đâu nghĩ đến sách đèn . Chàng ngồi im hút từng hơi thuốc dài.

- Tôi nghe thiếu úy Minh nói anh can đảm nhưng... chơi bời lắm phải không ?

Phi thú nhận một cách hồn nhiên :

- Dạ.

Vị Trung Tá vỗ vai Phi:

- Con trai đứa nào chẳng chơi . Hồi bằng cậu . Ở bên Pháp tôi còn chơi gấp bốn các cậy bây giờ . Nhưng đánh trận thì "suya" lắm.

Phi cười nhẹ . Vị Trung tá đứng dậy bắt tay Phi:

- Thôi , cảm ơn anh . Anh có thể bắt đâu ngay hôm nay . Nằm bệnh biện một tháng, về đây chơi nửa tháng , mình bắt tay vào việc là phải rồi . Anh đi lấy xăng.

Phi bước ra khỏi căn phòng, chàng nhìn chiếc xe jeep mới, được bọc nệm trắng dưới mái hiên . Một nỗi chán chường dâng ngập . Phi nhảy lên xe, rú ga phóng vút đi trên con đường đất đỏ nằm dài dưới cơn mưa buổi sáng . Gío từ hai bên ào ào chuyển động . Con đường xuống kho xăng qua một khúc quanh thật nguy hiểm , Phi buông lỏng chân ga một chút , nhưng tốc độ vẫn còn quá nhanh so với những người tài xế khác . Chàng muốn cho chiếc xe nghiêng đi nằm kềnh xuống rãnh nước . Song chiếc xe vừa chao đi . Phi đã nhanh nhẹn lái lại . Tiếng thắng xe rít lên . Chỉ chậm chút xíu, chiếc xe có thể đâm sầm vào mảnh tường bằng tôn.

Người Trung sỹ coi kho xăng đã để ý tới chiếc xe Phi lái ngay từ lúc ló khỏi đầu dốc . Hắn đứng chống nạnh nhìn Phi :

- Lái chậm thôi được không ?

- Được , nhưng không thích.

- Muốn gì ?

- Xăng.

Người Trung sỹ cười nhạt

- Nói thế mà nghe được à ?

Phi nhẩy xuống đất , chàng gườm gườm nhìn viên Trung sỹ, chàng cũng đã tính gây sự , nhưmg khi nhìn vẻ mặt anh ta, Phi thấy không đáng nên chàng cười đấu dịu :

- Xe Trung tá mà . Trung sỹ phát cho ba chục lít.

- Nói thế có dễ nghe hơn không !

Phi đứng im, khoanh tay tước ngực . Từ ngày ở bệnh viện ra, bị gửi về đơn vị này, Phi thấy xa lạ với tất cả mọi người . Hình như moi. người đều nhìn chàng với một vẻ khó chịu ? Cũng như ngày đầu tiên Phi đổi tới tiểu đoàn 10 , anh em cũng xa cách với chàng như vậy . Nhưng sau mười lăm ngày chiến trận, người ta tự động xích lai. gần Phi, và tình thương yêu mỗi ngày một sâu đậm . Còn ở đây, một đơn vị hành chánh, Phi thấy khó mà có thể gần gũi với bất cứ ai . Người ta ghét Phi, phải chăng vì chiếc xe Simca mới của chàng ?

Phi mỉm cười một mình.

Người Trung sỹ đưa bông xăng và chỉ tay xuống đống "phuy" dưới hầm :

- Xăng ở dưới đó.

Phi ngoan ngoãn giao bông xăng cho người lính phát xăng rồi theo anh ta xuống xách hai tay hai "can" lên đổ vào xe . Phi làm cái công việc này với tâm trạng của một tên tù khổ sai , nhưng giỏi chịu đựng . Cuộc đời đã dạy cho Phi cách chịu đựng trong hồn nhiên , trong im lặng , trong kỷ luật.

Đổ xăng rồi Phi móc bao thuốc lá , mời viên Trung sỹ vừa gây sự với mình và mời cả anh binh nhì phát xăng . Viên Trung sỹ đầy tự đắc, cho rằng "thằng nhỏ" đã thần phục mình nên anh thản nhiên rút một điếu và chờ Phi bật quẹt . Phi hiểu rõ anh này nghĩ gì, nhưng Phi vẫn thản nhiên châm lửa cho anh ta và giới thiệu :

- Tôi là Hạ sỹ Phi, vừa được lệnh lái xe cho Trung tá.

Viên Trung sỹ thở khói thuốc xanh, môi dẫu ra:

- Tôi là Trung sỹ Thức , trưởng kho nhiên liệu . Cậu được làm với ông này thì sướng quá rồi . Ông ta vui tính, dễ dãi nhưng úynh trận thì .. thần sầu , chắc không chê được.

- Tôi mong được đánh trận hơn là làm tài xế.

Thức cười mỉa mai:

- Ai xin câu. về đây ?

- Ông Trung tá chọn tôi sau khi ở bệnh viện ra.

- Con gái ông ta đẹp lắm đấy . Toàn là con gái . Hình như cả hai đứa cùng học ở Saigon . Bà vợ Trung tá chết vì bệnh đau tim năm trước ở ngoài Trung.

Phi lơ đãng:

- Ông ta không có con trai à ?

- Không ! Cậu có thể... làm con trai ông ta hay làm... con rể . Cái "mã" cậu có vẻ được đấy.

Phi phì cười:

- Con gái Trung tá mà chịu lấy hạ sỹ nhất sao ?

- Biết đâu.

Giữa lúc đó một chiếc xe G.M.C. dừng lại tước cửa kho, Phi vội vàng nhẩy lên xe lái trở lại bộ chỉ huy, quên hẳn ngay câu chuyện Thức vừa mới kể . Dừng xe lại trước mái hiên, Phi bật ngưa người ra phiá sau . Chàng nghĩ đến Thanh và buổi chiều thứ bảy hôm nay . Chàng đã hẹn Thanh từ tuần trước, đúng bốn giờ, chàng sẽ đón Thanh đi ciné, đi ăn và sau đó hai đứa sẽ đi nhẩy . Thanh sẽ bỏ đi làm một hôm để đi với Phi.

Suốt một tuần lễ, Phi chỉ sống với bằng ấy hy vọng , với một chiều thứ bẩy sáng ngời lên trong tâm khảm . Mặc dầu từ trong đáy sâu trong tâm tư khác, chuyện tình giữa Phi và Thanh là một chuyện tình đau đớn, một thứ tình yêu khắc khoải, một đam mê hoảng hốt , nhói buốt và câm nín . Chính Phi cũng chẳng hiểu tại sao mình lại yêu Thanh đến như vậy . Phi đã yêu Thanh như mối tình thứ nhất của mình . Trong khi đó Phi nhìn rõ mình như một con thỏ non lăn xả vào vòng tay đầy nanh vuốt , vòng tay đó đã có thời kỳ cụp những móng nhọn lại , dâng hiến cho con thỏ non một thứ tình yêu giai đọan, nhưng rồi những vuốt nhọn đó mõi mệt trong sự ngủ yên nó đã vùng dậy.

Phi nghĩ đến những ngày đầu gặp Thanh, hai người đã tìm đến với nhau hồn nhiên như hoa cỏ, Thanh dâng hiến tình yêu cho Phi thật dễ dàng , mặc dầu bên nàng không thiếu gì những kẻ hơn Phi . Hai người sống với nhau gân` như chồng vợ. Năm tháng sau Thanh phá thai , Phi biết, song chàng yên lặng bởi nghề nghiệp của Thanh không cho phép Thanh... nghĩ dài hạn trong thời gian sinh nở.

Những lủng củng cũng bắt đầu từ đó . Những cuộc cãi vã tàn tệ , đôi khi là những cuộc xô xát , đập phá tan nát mọi thứ trong nhà . Phi đã bỏ đi . Nhưng rồi Phi lại trở về với Thanh . Ở Thanh, có một ma lực lôi cuốn , có một cái gì kỳ lạ keó giật Phi trở về . Phi sợ hãi những cuộc đụng độ, Phi run rẩy trong tình yêu cay đắng đó , song Phi không thể bỏ Thanh . Tình trạng đó keó dài . Tuy không sống với Thanh nữa và tuy Phi thừa biết mỗi tối Thanh có thể đi chới với nhiều người khách lạ hay quen . Phi đau tím ruột mà vẫn phải giả bộ làm lơ . Thỉnh thoảng Phi cũng hục hoặc , khổ sở và tưởng như không thể chịu đựng được nữa , chàng đã để mặc cho sự ghen tuông hờn tủi bùng nổ.

Thanh đã nói thẳng vào mặt Phi:

- Giữa tôi và anh không còn gì cả , anh đừng bao giờ tới đây nữa, tôi chán nhìn thấy anh . Anh để cho tôi làm ăn.

Nhưng lần nào cũng vậy , Phi xách xe về đơn vị nằm thở dài chán rồi chiều thử bẩy, Phi lai. trở về tìm Thanh . Mà quái thật , Thanh vẫn niềm nở tiếp đón Phi như quên hẳn chuyện cũ Phi sống dằng dai với những thương yêu kỳ lạ, những thảm cảnh khôn lường đó.

Phi nghĩ đến tấm hình Phi và Thanh chụp chung với nhau vào những ngày mới yêu nhau ngoài Cấp . Tấm hình Phi đã xé đi ba lần và đi in lại ba lần . Chàng lẩn thẩn rút ví ra tìm hình Thanh . Thanh đang ở bên chàng, đang cười với chàng . Những kỷ niệm yêu thương sống lại mảnh liệt . Phi kỳ vọng buổi chiều hôm nay chàng sẽ được ôm Thanh vào trong vòng tay , buổi chiều Thanh hoàn toàn thuộc về chàng, ban đêm Thanh là của chàng . Đôi mắt Phi khep' lại hình dung đến dáng người đậm đà của Thanh, nụ cười, khoé mắt và những vòng tay khăng khít...

Tiếng kèn bãi việc buổi sáng thứ bẩy đã lôi Phi ra khỏi giấc mơ chập chờn đó . Phi sửa lai. mũ , ngồi ngay ngắn trước tay lái . Những tiếng máy xe nổ ròn , anh em tản mác dần ngoài cổng trại.

Năm phút rồi mười phút , căn trại đã vắng ngơ vắng ngắt, chỉ còn bóng người lính gác cổng dưới cơn mưa bụi buổi trưa và bầu trời thấp xám . Ruột Phi nóng như lửa đốt , chàng nhìn hoài về phía chiếc cửa ra vào phòng vị chỉ huy .Nhưng Phi vẫn không thấy bóng dáng ông ta đâu.

Phi nghĩ đến cách nói dối . Chàng sẽ gõ cửa vị chỉ huy và xin phép mình về sớm vì lý do bố đau nặng phải vào nhà thương . Một tuần mới được về phụng dưỡng bố già một lần , chắc chắn ông Trung tá sẽ... cảm động cho về . Song cứ nghĩ quanh nghĩ quẩn mãi , Phi dùng dằng không chịu bước xuống xe.

Nửa giờ sau, Phi không chịu nổi nữa, chàng bước xuống , nhưng lại ngần ngại không dám gõ cửa phòng . Chàng đi đi lại lại như điên trên chiếc hàng lang hẹp . Đúng một giờ vị Trung tá mới từ trong phòng đi ra. Phi vội vàng nhảy lên xe . Vị Trung tá mỉm cười nhìn Phi :

- Đói chưa ?

- Thưa... chưa.

Chiếc xe rời khỏi căn trại . Phi giận mình , tự cho mình ngốc khi trả lời vị chỉ huy câu đó . Đáng lẽ Phi phải trả lời là đói quá rồi để lần sau ít ra ông ta cũng nghĩ đến sự chờ đợi rát ruột của chàng . Phi vòng xe ra con đường trải đá lồi lõm từng vũng nước đỏ ngầu nằm giữa lối đi . Chàng quen tay tính chạy thẳng ra đường lộ dẫn về Saigon , nhưng vị Trung tá đã vỗ vai Phi :

- Cho tôi xuống tiểu đoàn 9 một lát đi.

Phi ngước nhìn vị chỉ huy, một sự tức giận hậm hực vừa dồn đến như muốn bốc cháy trên hai khoé mắt . Vị Trung rá vẫn thản nhiên, đôi mắt đăm chiêu nhìn thẳng về phía trước không hề hay biết những cáu kỉnh bực bội của Phi . Chiếc jeep chồm lên queo. vào con đường đất đỏ trơn trợt . Phi phải dằn mạnh tay lái mới kkỏi đâm xuống ruộng. Nếu là mọt người chỉ huy khác Phi đã bị khiển trách, nhưng vị Trung tá này vẫn ngồi lì , không tỏ một thái độ nào, dù là một mảy may hoảng hốt

"Cha này làm bộ gan lì hay mãi suy nghĩ "

Nghĩ vậy và Phi rú ga cho chiếc xe chạy vun vút trên khoảng đường nguy hiểm , chỉ cần có một chút sơ sót có thể quăng chiếc xe khỏi mặt đường . Vị Trung tá bấm lấy mép kính chắn gió rồi lại tiếp tục ngồi im mãi cho đến khi xe tiến vào chiếc cổng gỗ ngăn đôi hàng rào thép gai bao quanh trại của tiểu đoàn 9, vị này mới quay sang nhìn Phi khen ngợi :

- Cậu lái xe khá lắm.

Phi không ngờ vị Trung tá lại khen mình như vậy, chàng cũng nhếch môi cười và trong lòng thoáng một chút kiêu hãnh.

Trước khi bước vào bộ chỉ huy tiểu đoàn , vị Trung tá xoay người lại nói với Phi :

- Nếu đói, cậu vào câu lạc bộ ăn tạm cái gì đi . Tôi sợ công việc tôi hơi lâu lắc . Yên trí , sẽ có Thiếu tá tiểu đoàn trưởng trả tiền.

Bóng vị Trung tá mất hút sau cánh cửa . Phi tưởng mình có thể phát điên lên được.

Đúng năm giờ chiều hôm đó Phi mới đưa Trung tá Lạc - tên vị chỉ huy - về tới Saigon . Thế là cái hẹn với Thanh đã lỡ . Giờ này, không hiểu Thanh còn ngủ hay đã đi bát phố Catinat với một người con trai khác . Ý nghĩ đó như một ngọn roi quất mạnh vào đầu óc Phi , chàng bỗng cảm tháy choáng váng, mệt mõi và chán nản lạ thường . Sự ghen tuông với Thanh đã trở thành thường trực . Phi chỉ còn thấy buồn nản, đớn đau tím ruột mà không hục hoặc , bực bôi, như ngày mới yêu nhau.

Chàng lái xe vào ga ra rồi trở ra chiếc bàn kê dưới giàn hoa giấy leo ngồi uống nước . Sự nôn nóng từ trưa cho tới bây giờ đã nguội lạnh . Phi vứt chiếc mũ xuống đùi, ngồi cúi mắt trên bàn . Hình ảnh Thanh như một bóng dáng ma quái ám ảnh . Phi thấy nghèn nghẹn ở cổ , chàng muốn làm bất cứ một cử động nào như sự đổ vỡ.

Bỗng những tiếng cười ròn tan bên cạnh khiến Phi ngửng lên . Hai người con gái mặc cùng một kiểu sơ mi màu đỏ ngắn tay, quần "din" xanh, mái tóc buộc gọn bằng hai chiếc nơ màu trắng ,ùa đến như một vệt nắng rực rỡ . Phi đóan là hai người con gái Trung tá Lạc như lời anh Trung sỹ coi kho xăng đã nói với chàng, Phi ngồi im trước cái nhìn tò mò của hai người con gái đó . Hai người giống nhau như hai gịot nươc' , có lẽ hai chị em sinh đôi . Phi không hiểu ở đây người ta phân biệt hai cô này như thế nào.

Hai người con gái dừng lại trước mặt Phi . Chàng để ý thấy trên ngực áo sơ mi mỗi cô thêu một chữ rất nhỏ . Một cô thêu L và cố khác mang chữ P . À! Người ta phân biệt bằng hai chữ đầu tên của mỗi người đó . Có lẽ Loan và Phượng.

Phi mỉm cười vẩn vơ rồi quay đi , hai bàn tay ấp lấy ly nước lạnh.

- Anh mới lại xe cho ba tôi phải không ?

Nghe giọng hỏi hơi có vẻ... hách ấy . Phi quay lại . Trước hết là chàng nhìn xem cô nào vừa hỏi chàng, cô mang chữ P trên ngực . Phi gật đầu:

- Phải , tôi mới làm việc cho ba cô sáng nay.

- Anh khiêng gíup tôi chiếc bàn này xích ra kia rồi kê hộ bàn ping pong một chút nhé ?

Phi lừng khừng đứng lên, chàng hơi bực mình, song vì... lịch sự với con gái nên Phi keó chiếc bàn tròn ra phiá ngoài . Chàng quay lại hất hàm hỏi trống không :

- Bàn ping pong ở đâu ?

Cô mang tên L nhanh nhẹn đỡ lời :

- Để tôi khiêng với anh một tay, bàn nặng lắm a.

Dáng chừng cô L đã nhận thấy rõ vẻ miền cưỡng và điệu bộ ngang bướng của Phi nên cô mới có giọng nói dịu dàng như vậy . Phi ngước nhìn người con gái đó với một chút thiện cảm , tuy nhiên chàng vẫn làm ra vẻ lừng khừng "bất cần" . Chàng lẳng lặng rút thuốc lá mồi lửa hút một hơi dài rồi xoay người đi theo hướng người con gái vừa chỉ.

L đi theo Phi, nàng mỉm cười trước cái dáng điệu lừng khừng "con nhà lính tính nhà quan" của Phi . Nàng thấy anh chàng có một vẻ gì đặc biệt không giống như những thuộc cấp đã từng giúp việc cho ba nàng từ trước tới nay . Trước khi nghiêng người xuống để khiêng một đầu bàn , L tự giới thiệu:

- Tôi là Loan.

Phi đáp thản nhiên :

- Tôi cũng nghĩ thế . Nhưng .. cái gì Loan.

- Cái gì... nghĩa là thế nào ?

- Nghĩa là tên đệm . Kiều Loan à ?

Đôi mắt Loan hóm hỉnh :

- Sao anh tinh thế . Biết hết.

Phi cười :

- Bởi cái tên đó .. không có gì đặc biệt cả . Đã là Loan, người ta thường lấy tên đệm là Kiều Loan, Thanh Loan . Sao không chọn một cái tên đệm khác ?

- Để làm gì ?

Phi nhún vai:

- Để cho khỏi tầm thường.

- Tôi thích cái gì tầm thường . Còn anh ?

- Tôi hả ? Tôi là Phi

- Cái gì Phi.

- Vũ Ngọc Phi.

Loan cười , hàm rằng đều, trắng bóng:

- Tên anh đặc biệt thật . Có vẻ là một cái tên trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám tân thời.

Bị Loan trả miếng , Phi đau điếng nhưng sự thật chàng vẫn có phần nao thích thú ngấm ngầm . Chàng cúi xuống khiếng với Loan chiếc mặt bàn phing pong . Loan nhăn nhó :

- Nặng quá.

- Cô để tôi vác một mình . Ăn no vác nặng là nghề của tôi mà.

Loan buông tay, mỉm cười . Phi nhấc bổng chiếc mặt bàn cồng kềng đó lên, Loan chỉ bám hờ vào mặt bàn cho khỏi đổ nghiêng qua một bên.

Hai người lúi húi kê bàn, chăng lưới, trong khi người con gái mang tên P . keó cao chiếc mành cửa . Phi có thêm một nhận xét nữa là P. có vẻ khoẻ mạnh hơn Loan . Ý nghĩ khiến Phi phỏng đoán được thêm một chút nữa về hai người con gái chàng mới gặp lần thứ nhất . Họ là hai chị em sinh đôi, nhưng tính tình khác biệt . Loan hiền hậu , ngoan ngoãn , và mơ mộng . Còn P . ưa hoạt động, tươi vui nhưng hơi phách lối một chút.

Phi căng lưới bên mình xong, chàng vòng sang căng giúp Loan , lợi dụng cơ hội đó Phi khẽ hỏi :

- Trong hai cô, cô nào là chị ?

Loan cười nhẹ:

- đáng lẽ thì không ai nên là chị cả . bởi cùng sinh một ngày một giờ . Nhưng không hiểu tại sao, ba tôi nói tôi là chị còn Phượng là em.

- Tại cô sinh trước vài phút . Nhưng nếu đánh lộn có lẽ cô Phượng sẽ thắng.

- Có thể . Nó ưa thể thao hơn tôi . Anh nên nhớ nó ưa coi đá banh lắm . Còn tôi thì không.

- Cô đọc sách.

Loan chúm chím cười gật đầu:

- Và đôi khi làm thơ nữa.

Phi thấy Loan chân thành, duyên dáng . Trong một vài phút, chàng quên hẳn những băn khoăn về cái hẹn chiều nay với Thanh.

- Anh chơi được bóng ban` không ?

Nghe tiếng Phượng hỏi, Phi ngước sang nhìn . Giọng Phượng vẫn có vẻ hách dịch bởi khuôn mặt lúc đó tỏ một dấu hiệu kênh kiệu , có lẽ Phượng cho rằng Phi không biết chơi như một vài người lính đã từng giúp việc cho ba Phượng ở đây . Phi trả lời bằng một dáng điệu hết sức lừng khừng :

- Tôi biết qua loa thôi , nhưng không thích.

Sự thật Phi cũng chỉ biết qua loa thật, chàng vẫn chê trò chơi này là thức trò chơi của đàn bà . Chàng xoay người bỏ đi với ý định là lên nhà trên gặp Trung tá Lạc để xin phép về . Nhưng qua phòng tắm , tiếng nước đổ rào rào và giọng hát ồm ồm vọng ra , Phi biết là Trung tá Lạc ở trong đó . Chàng ngồi duỗi dài dưới một gốc cây soan tay, điếu thuốc lá lại cháy đỏ trên môi . Hình ảnh Thanh lại lởn vởn hiện lên với chiếc jupe màu nâu thẫm, chiếc áo sơ mi màu mạ non, bộ ngực căng đầy, nụ cười mơn mởn trên khuôn mặt luôn luôn thoáng một chút đăm chiêu . Phi nhớ đến những kỷ niệm thắm thiết của nhừng ngày mới yêu Thanh , những vòng tay khoác chặt khi đi với nhau ngoài phố.

- Bây giờ Thanh đang đi với một gã con trai khác cũng với bằng ấy cử chỉ ái ân, cũng với bằng ấy lời nói thân mật ngọt xớt ?

Tiếng nói ấy như một nhát búa dán thẳng vào đầu một con vật bị thương . Sự đau đớn âm thầm , song nhói buốt đến nghẹn cổ. Tâm sự ray rứt đó của Phi luôn luôn mang một chút tủi nhục của kẻ bai. trận . Sự bai trận câm nín mà Phi biết không bao giờ chàng dám nói ra , ngoại trừ với Thanh vào một giờ phút nào ở bên Thanh mà chàng không thể chịu đựng nổi những tàn phá âm thầm ấy nữa . Đã có lần, Thanh hiểu Phi, Thanh cảm động với nôĩ đau đớn của Phi, Thanh ôm chầm lấy Phi và có lẽ là Thanh muốn khóc lắm . Nhưng rồi … sau đó Thanh lại quên tất cả, Thanh lao mình vào cuộc sống ban đêm của mình, để hình ảnh Phi chỉ còn như một chiếc bóng mờ.

Phi cúi đầu như một tín đồ chịu tôi. trước đấng Tối Cao . Mẫu thuốc cháy khét trên mặt cỏ . Phi đón nhận sự đau đớn lớn rộng như kẻ hành xác . Chàng nhắm măt' , ngã đầu vào thân cây còn ướt nước mưa.

Văng vẳng bên tai Phi, tiếng reo cười của hai chị em Loan lẫn vào tiếng vợt cao su cùng quả banh nhưa. qua lai. đều đều trên mặt bàn gỗ Phi hé mắt nhìn dáng Phượng khoẻ mạnh, chắc chắn trong những điệu bộ đánh bóng bàn thành thạo . Chàng phải công nhận là Phượng đánh thật hay so với những người con gái khác . Tuy nhiên , Phượng chưa chắc đã ăn nôi? chàng . Hồi còn đi học, đã có thời Phi say mê chơi trò “thể thao đàn bà” này . Ít lâu sau, chàng ham đá banh nên bỏ . Từ đó, Phi không có dịp thử lai. xem tài nghệ mình tới đâu . Dù sao Phi vẫn tin rằng khó mà chàng chịu thua Phượng.

Phi trở vào bàn ping pong, Loan vừa thua luôn hiệp thứ ba . Phượng vừa cười vừa buông vợt :

- Đánh mãi với chị chán chết, được hoài đâu có thích.

Loan đưa vợt cho Phi:

- Anh đánh với Phượng đi và nhớ hạ nó dùm tôi.

Phi ngần ngại nhìn Phượng , Phượng buộc lai. mái tóc :

- Được lắm , thử coi.

Phi cầm vợt và với ý định “hạ con nhỏ này một phen cho bỏ ghét” . Song ngoài miệng , Phi nhũn nhặn để đề phòng … minh` thua :

- Tôi bỏ lâu, không hiểu còn đánh nôi? không.

Loan keó chiếc ghế đơn nylon vào khoảng giữ bàn :

- Cứ đánh đi rồi sẽ biết, để tôi làm trọng tài, đỡ mất công cãi qua cãi về.

Phượng giao banh bằng một đường banh xoáy hóc hiểm . Phi nhoài người ra đỡ, nhưng banh đựng lưới . Tiếng Phượng cười ròn làm Phi đỏ mặt . Chàng cũng dung lối giao banh xoáy tít trả đũa . Đến lượt Phượng cho banh vào lưới . Loan vỗ tay reo lên:

- Có vẻ được lắm, trả lời rất đẹp.

Cuộc “đấu giao hữu” vì vậy mà gay cấn ngay từ phút đầu tiên trước đôi mắt thích thú của Loan.

Hiệp thứ nhất Phi thắng 21.18

Hiệp thứ nhì Phượng thắng khít khan 21.22

Sang tới hiệp thứ ba hai người cẩn thận đuổi nhau từng trái . Phi cũng trở nên thận trọng đến nôĩ không dám “tiu” mạnh.

20.21 rồi 21.21 rồi 21.22

Tình trạng mỗi lúc một căng thẳng . Phi cũng quyết được và Phượng cũng quyết thắng . Loan ngồi ngoài vỗ tay khuyến khích lòng hiếu thắng của cả hai người . Giữa lúc đó thì một chiếc xe hơi chạy rào rào trên mặt đường sỏi và dừng lai. sát chiếc bàn tròn . Phượng và Phi cùng ngừng tay ngoảnh ra . Phi nhận thấy một trong hai người này là Đại úy Minh, một vị đại úy trẻ tuổi có học nhưng … thích dùng moi. cách để ngồi lai. văn phòng hơn là thích chiến đấu . Phi làm một cử chỉ chào kính rât' nghiêm trang . Minh tiến lai. xoè tay bắt tay Phi:

- Công tử Simca hôm nay lai. có thì giờ đánh bong bàn ở đây kia à ?

- Tôi lái xe cho Trung tá.

Phượng vừa lau mồ hôi trán vừa nói với Minh:

- Anh đợi em một chút, em đánh xong “xê” này đã nhé.

Minh gật gù:

- Đánh đi . Ai thua ai được ?

Loan xen vào:

- Trong vài trái nữa anh biêt' ngay . Hai người đang huề và đang găng nahu ở ván quyết định này.

Người đi cùng với Minh sửa lai. cập kính, anh ta nhìn Loan thật nhanh và khẽ hỏi:

- Có tranh giải gì không đấy ?

Loan cũng cũng cười nhẹ:

- Anh treo giai? đi , anh Toàn.

- Một chầu ciné nhé ?

Minh vỗ tay:

- Hay lắm . Có nghĩa là hôm nay mày bao chầu ciné chứ gì ?

Toàn cười hiền lành:

- Cũng được , không sao cả.

Phượng lai. tiếp tục giao banh . Phi chỉ cần nhìn thoáng qua chàng cũng hiểu ngay là anh chàng Toàn và Đai. úy Minh đến đây với mục đích gì . Có lẽ là Minh đến với Phượng , còn Toàn đến với Loan . Nhưng Minh có vẻ thân hơn, chắc Minh tới trước rồi sau đó mới giới thiệu Toàn cho Loan . Tình trạng giữa Toàn và Loan coi bộ còn … mới mẻ lắm.

Phi không keó dài sự chú ý của những người đứng ngoài nên mặc dầu đang dẫn trước Phượng một trái , chàng để thua luôn ba trái sau đó . Chàng buông vợt , lau mồ hôi trán :

- Xin chịu thua, cô Phượng đánh hay lắm.

Phượng nói thẳng ngay:

- Hôm nay chưa ai thua cả . Anh nhường tôi –vì lịch sự hay vì một lý do nào đó - chứ không phải anh thua . Để hôm khác mình đánh lai..

Phi định cãi , song Loan đã đứng lên giơ tay:

- Đừng chối , vô ích , ai cũng công nhận như vậy, kể cả địch thủ của anh.

Phi cười:

- Riêng tôi là không nghĩ vậy.

Nói rồi Phi xoay lưng bước ra ngoài sân . Bốn người keó nhau lên nhà trên . Phi đứng một lát dưới mái hiên rồi đi thẳng ra cổng kiếm taxi về nhà.

Mỗi lần về tới nhà điều khó chịu nhất của Phi là sự mừng rỡ của gia đình, từ ông bố tới bà mẹ đến cả chị người làm nhà chàng đều có nỗi vui mừng cứ như vừa thấy chàng mới thoát chết trở về.

Nhưng nôĩ vui mừng đó không bao giờ kéo dài được quá một giờ đồng hồ . Lần nào Phi cũng chỉ về qua nhà rồi lại đi ngay . Và lần nay, Phi chỉ về nhà đúng mười lăm phút đủ để thay quần áo , trả lời vài câu hoi? của bà mẹ.

Phi bước xuống nhà để xe với nỗi trống trải mênh mang . Chiếc Simca lùi ra khỏi cổng , ròi bỏ lề đường mà chính Phi cũng không biết nên chạy về hướng nào . Đến nhà Thanh bây giờ chắc chắn Thanh đi rồi , không có lý gì Thanh nằm nhà giờ này . Tuy nghĩ vậy song Phi cũng vẫn đến nhà Thanh.

Một điều hết sức ngạc nhiên là cửa nhà Thanh vẫn mở , chứng tỏ Thanh có nhà . Người Phi bỗng nóng ran lên, chàng không thể ngờ được điều này. Thanh cố chờ chàng hay là Thanh có một lý do gì khác ? Phi đi nhanh vào nhà Thanh nằm trên chiếc ghế xích đu với tờ tuần báo chuyên về điện ảnh và sân khấu trên tay . Nhìn thấy Phi bước vào . Thanh chỉ hơi nhỏm người lên, một chân đu đưa trên ghế.

- Gớm ! Về đúng hẹn nhỉ . Chờ anh dài người ra.

Câu trách móc của Thanh đầy tình tứ khiến Phi cảm động . Chàng nhẩy ba bước đến bên Thanh . Chàng ngồi xuống bên nàng :

- Anh xin lỗi , vì .. công việc nên về trễ . Anh cứ tưởng em .. đi chơi rồi nên chưa chắc đã gặp em.

Thanh tát nhẹ lên má Phi:

- Em đã hẹn đi với anh là em đợi . Từ chiều, bao nhiêu kep' đến , em cho "dọt " hết . Nhưng nếu muộn một chút nữa thì chính anh "dọt".

Phi gục đầu trên vai áo Thanh . Mùi nước hoa quen thuộc phủ lên mặt chàng , lùa vào gíac quan chàng một hương vị đặc biệt đánh thức những nhớ nhung say đắm từ trong tiềm thức . Những hối hận mong manh lai. hiện đến với Phi, chàng hối hận vì khi xa Thanh chàng vẫn nghĩ là Thanh không hề chú ý đến mình . Tình yêu Thanh như mặt biển lớn đẩy vỡ tung bờ cát mỏng tràn về . Chàng ôm lấy má Thanh diễn tả những rào rạt yêu thương đó bằng những nụ hôn nóng bỏng.

Thanh phải gỡ tay Phi ra:

- Chúng mình đi thôi chứ anh ?

Phi đứng dậy, chàng chọn áo cho nàng . Phi để ý đến vài chiếc áo mới mà chàng biết chắc là không phải của chàng may cho nàng . Chỉ cần một ý nghĩ nhỏ đó , lòng Phi đủ quặn đau, nhưng sự đau đớn âm thầm ấy, không bao giờ Phi nói ra . Chàng đi tìm chiếc áo cũ, có lẽ là chiếc áo Phi đã đưa Thanh đi may gần đây nhất , cách chừng... hai ba tháng gì đó , chàng keó mắc áo ra khỏi tủ :

- Trời này em mặc màu xanh thẫm là nhất.

Thanh đứng im, ngước nhìn chiếc áo pun lô vơ cũ . Có lẽ Thanh hiểu Phi muốn gì , nhưng sự đòi hỏi sang trọng và kiểu áo hợp thời trang đã khiến Thanh ngần ngại rồi đi đến quyết định dứt khoát :

- Không ! Em không thích màu xanh đó đâu . Hôm nay em mặc bộ mới : anh kiếm cho em bộ màu trắng viền chỉ đỏ.

Phi cúi đầu, ngoan ngoãn đặt chiếc áo vào mắc. Tiếng Thanh lại ỡm ờ cất lên:

- Đi với anh phải mặc thế cho... hách.

Thừa biết là một câu nói vuốt đuôi, chỉ có giá trị bằng một lời an ủi cho vừa lòng nhau, Phi nuốt hận , chọn cho Thanh bộ áo mới đúng như lời Thanh nói . Chàng cố tạo một nụ cười đưa áo cho Thanh.

Thanh vuốt lại mái tóc :

- Được không anh ?

Phi muốn trả lời :"Anh muốn dẫm nát bộ áo này dù rằng nó đẹp" nhưng Phi lại gật đầu :

- Đẹp lắm.

Rồi Phi thản nhiên hút thuốc lá chờ đợi Thanh trang điểm . Phi cố tìm lai. những kỷ niệm quen thuộc trong căn nhà này, nhưng gần như kỷ niệm của riêng chàng đã biến hết . Từ một chiếc quạt máy đến chiếc radio, đến ngay cả những con vật nhỏ xíu bầy trong tủ buffet . Phi có cái cảm nghĩ mai mỉa rằng đây là một căn phòng góp nhặt toan` những kỷ niệm vô nghĩa , xuẩn ngốc, rỗng không và tượng trưng cho những sự sắp đặt , lừa lọc . Phi muốn bước khỏi căn phòng này không một chút hối tiếc.

Nhưng , đây không phải là lần thứ nhất Phi có cái ý nghĩ này . Đã bao nhiêu lần rồi, Phi mang cái tâm trạng buồn cách đó và Phi đã bước ra, song sự buồn chán không thể vượt nổi tình yêu ma quái sâu thăm thẳm luôn luôn kéo trở Phi lại với gian nhà này bằng một thèm khát, bằng cả một tâm sự sôi nổi say mệ Phi đứng xoay lưng vào tường nhìn khuôn nắng xuyên qua cửa sổ ngã dài trên sàn gạch hoa . Khuôn nắng vàng kệch , mệt mõi như muốn lịm tắt . Phi nghĩ khuôn nắng buổi chiều đó cũng như mối tình của mình và Thanh. Tại sao khi ở bên Thanh, đột nhiên có những phút Phi lại có thể lo sợ một cái gì sẽ mất ? Chính Phi cũng không hiểu nổi mình . Chàng vặn lớn chiếc máy thu thanh . Tiếng hát Thái Thanh vút lên xóay hút thăm thẳm.

Gần một giờ sau , Phi và Thanh ra ngoài than`h phố . Chân trời trước mặt ôm kín một màu tím thẳm, Phi hình dung đến khoảng thiên đường dành riêng cho những người yêu nhau ở đó. Không! Phải nói là những linh hồn yêu nhau mới tới được đó, mới sống trọn vẹn ở đó.

Còn con người tầm thường không bao giờ đi tới được chân trời. Phi mỉm cười với ý nghĩ này. Chàng quay sang phía Thanh :

- Anh muốn đi hết, đi mãi con đường này.

Có một phút nào đó, Thanh cũng bỗng thấy thương Phi, yêu Phi. Thứ tình yêu quái gở còn sót lại, Thanh chớp mau mắt gật đầu :

- Anh muốn đi tới đâu cũng được.

Phi sung sướng với câu trả lời đó, mặc dầu chàng biết đối với Thanh, tình yêu chàng chỉ còn là một khoảng khăc' bất chợt , một thoáng qua ẩn hiện trong tâm hồn Thanh như ma chơi . Có thể là một giờ , vài giờ, một đêm, một ngày nào đó tùy theo những diễn tiến tình cảm hoặc ngoại cảnh chi phối tâm hồn Thanh. Có trời mới hiểu nổi.

Hai người bước vào một tiệm ăn ven đường . Tiệm ăn được cất giữa một hồ nước hình chữ nhật . Vào giờ này nhà hàng vắng khách , mới chỉ lác đác vài ba cặp ngoài khoảng sân lộ thiên . Phi chọn chiếc bàn ngoài cùng, nơi mà Phi và Thanh vẫn thường ngồi với nhau vào những ngày mới quen , Phi tưởng khi gặp Thanh, ngồi với Thanh như thế này , chàng sẽ nói được nhiều, rất nhiều , mà lần nào cũng vậy, Phi ít nói hơn cả những ngày bắt đầu yêu, Phi thấy mình không có chuyện gì để nói cả.

Nói về tình yêu ư? Đối với Thanh và chàng là thừa! Nói về nỗi nhớ nhung Thanh những ngày nằm ở trại ư  Phi thấy ngớ ngẩn lạ thường. Chàng ngước lên nhìn khung trời . Vẫn một màu tím sẽ ngã dần sang màu đen của đêm tối, cũng như tình yêu, sự đam mê và buổi tàn đêm trở về với một hình hài rã rượi

Phi hoảng hốt nghĩ đến sự đam mê bây giờ để rồi sáng sớm ngày thứ hai, chàng trở lai. con đường đât' đỏ , con đường nhầy nhụa như lòng chàng, Phi buông trôi ý nghĩ ghê rợn đó như người tử tù uống rượu cuối cùng.

Thanh vẫn có cái tài đặc biệt mỗi khi cần làm cho người đi với mình được hoàn toàn vui vẻ . Trong bữa ăn Thanh nói liên miên , từ một chuyện của tài tử chiếu bóng đến một cái tin trên báo hàng ngày đều là đề tài cho Thanh bình luận một cách vô cùng dí dỏm . Thanh chiều chuộng Phi khiến Phi tưởng như luôn luôn Thanh là một người vợ chung tình , một người vợ mới cưới yêu chồng nhất thế gian.

Đó là bản chất Thanh , bởi chính Thanh cũng muốn vui chứ tuyệt nhiên không phải là một thủ đoạn.

Phi bị cám dỗ điêu đứng trong tình yêu Thanh một phần lớn cũng vì những thứ đó.

Sau bữa ăn, Thanh bắt Phi đưa đi ba bốn tiệm khiêu vũ khác nhau . Thanh không muốn phá phách của Phi, song tính Thanh vẫn thích chơi như vậy. Nàng là thứ thiêu thân lao vào ánh đèn và hình như chỉ ban đêm nghe tiếng nhạc vũ trường, nhìn ánh đen` màu và khung cảnh của những hộp đêm khác nhau Thanh mới thấy ý nghĩa của cuộc đời nàng . Có lẽ Thanh muốn quên , muốn đắm mình trong say mê cuồng loạn để bỏ hẳn ra ngoài xa cả một dĩ vãng đớn đau , cả một quãng đời trôi nổi vừa đau nhục vừa sung sướng lẫn lộn . Nhưng rồi cuộc đời đó tới khi nhìn lại chỉ toàn là những kỷ niệm tê dại đến uất nghẹn . Tâm sự Thanh cũng tương tự như tâm sự của tất cả những nàng Kiều ban đêm của thời đại này . Thanh đã suy nghĩ, đã thấm đau và thấm mệt nên bây giờ Thanh muốn quên.

Tình yêu Phi đến với Thanh cuốn hút như một chiếc xoáy lớn giữa thác lũ . Nước sẽ cuốn theo thác lũ cùng với beò bọt , nhưng xoáy rồi cũng phải tan, thác lũ điên cuồng vẫn là thác lũ thản nhiên trôi. Thanh biết mình không hề yêu Phi mãi mãi trong cái cảnh này . Nàng buông rơi Phi với hy vọng Phi đau đớn một thời gian rồi Phi sẽ quên nàng . Nhưng bao nhiêu lâu rồi Phi không quên nổi . Phi vẫn trở lại đây với nàng. Có lần Thanh đón tiếp Phi bằng những vui thích cảm động như khi còn yêu Phi . Có lần Thanh đón tiếp Phi với một tâm trạng buồn nản, chán chường , nàng muốn đuổi Phi đi ngay cho khuất mắt, nàng không muốn nhìn thấy Phi biểu diễn một điệu bộ si ngốc mãi như vậy , nhất là những trò ghen tuông rất trẻ con.

Lắm lúc Phi bị sỉ nhục tàn tệ bằng tất cả những lời lẽ tàn nhẫn nhất . Phi tưởng không bao giờ mình có thể trở lại đây được nữa.

Nhưng chính Thanh lại là kẻ lôi Phi trỏ lại , nàng hối hận và thương Phi vô kể , nàng nhắn bạn bè kêu Phi trở lại thăm nàng . Những lần, sau một cuộc "khủng hoảng" Thanh và Phi thường yêu nhau như những ngày đầu tiên.

Cũng như lần trước , sau nửa tháng Phi giận Thanh tới khi Phi trở lại , Thanh ôm đầu Phi hôn như mưa . Tình yêu đó keó dài cho tới cuộc hẹn hò lần này.

Vì một chuyện rất trẻ con , một chuyện tầm thường nhỏ nhặt trong tiệm khiêu vũ . Phi bực mình với Thanh bởi Thanh vừa nhẩy với chàng vừa nghịch ngợm với một người kh'ach quen . Phi bỏ dở bản tango keó Thanh về bàn . Thanh biết lại sắp có chuyện lộn xộn , nhưng Thanh bình thản đón nhận

Vào đến bàn, Thanh ngồi phớt lờ như không , nửa chờ đợi nửa khiêu khích cho Phi nói Phi hậm hực:

- Đi với anh, em là vợ anh chứ không phải là một... con điếm tầm thường , em hiểu không . Anh không muốn em chào hỏi thằng nào , đùa nghịch với bất cứ đứa nào khi ở bên anh như vậy . Em muốn sỉ nhục anh à ?

Thanh bật người ra ghế , vẻ chán nản, khinh khi :

- Cần gì tôi phải sỉ nhục anh . Anh đi với tôi, một con điếm tầm thường không đủ là một sỉ nhục rồi sao ?

- Em thật... trơ trẽn . Anh không còn danh từ nào để dùng trong trường hợp này.

Thanh cười:

- Anh dốt ! Thiếu gì danh từ người ta vẫn thường dùng với một con điếm ! Anh có quyền dùng tất cả những danh từ đó.

Phi choáng váng , ngồi lặng đi . Khói thuốc lá cay đắng trong cuống họng . Chàng cúi đầu khẽ hỏi.

- Thằng đó là gì của em ?

- Bồ !

Sự thật người khách quen đó của Thanh cũng chỉ là một người quen như tất cả những người khác , nhưng Thanh muốn trêu Phi chơi cho bỏ ghét.

Phi tưởng như bị một gáo nước lạnh hắt vào mặt , chàng ân hận vì đã hỏi Thanh một câu ngu xuẩn như vậy . Chàng thở dài liếc nhanh vào khuôn mặt Thanh . Chàng thấy khuôn mặt đó có phần nào đĩ thoa? thật . Tại sao Phi lại có thể say đắm một khuôn mặt trơ trẽn , một tâm hồn qúa lầy lửa như vậy . Phi ghê tởm cả chính mình . Chàng không muốn hỏi Thanh thêm một câu nào nữa , nhưng khi xuống đến xe , không thể chịu đựng nổi , Phi lại nói một câu không suy nghĩ :

- Từ giờ anh cấm em không được làm như vậy nữa . Lần sau thì... biết anh.

Thanh cười khanh khách:

- Lần sau thì quá muộn . Anh cũng không nhân danh gì để mà cấm tôi được . Thích gì tôi làm nấy . Tôi đã nói với anh bất cứ trường hợp nào tôi cũng hoàn toàn tự do.

Nỗi đau đớn dàn trải minh bạch trước mắt Phi như con đường rộng vắng hun hút nằm dài dưới ánh đèn đêm than`h phố . Chiếc Simca gầm lên, lao như tên bắn. Mọt lân` nữa cái ý nghĩ đâm xe vào gốc cây lại hiện đến ám ảnh Phi . Nhưng không bao giờ Phi làm như vậy cả.

Từ đó Phi im lặng . Thanh cũng im lặng cho đến khi đưa Thanh về tới nhà . Thanh đẩy cửa xe bước xuống ném lại hai tiếng cụt ngủn :

- Chào anh.

Phi không kịp nhép môi cười Thanh đã đi vào trong bóng tối . Phi lái xe trở lại con đường cũ , nỗi buồn càng toa? rộng . Mỗi lần ở nhà Thanh về là mỗi lần Phi thấy người nhẹ bổng, mất mát, trống rỗng . Chàng ghé vào một tiệm khiêu vũ , nơi mà ngày xưa chàng đã gặp Thanh Phi ngồi ở quầy uống rượu nét mặt lầm lì khổ sợ Một vài cô vũ nữ quen tìm đến chăm chọc . Phi chỉ biết lắc đầu lặng thinh . Phi nghĩ : có lẽ chúng nó cho rằng mình bị Thanh bỏ rơi . Ngụm bia cay nồng , Phi thú nhận một cách can đảm :

- Mình bị bỏ rơi thật con` gì ! Phi muốn nhẩy thật nhiều cho quên.

Chàng nhìn thấy hai cặp Minh Phượng và Toàn Loan ngoài Piste . Có lẽ họ đã thấy Phi ngay từ lúc mới vào.

Loan đi qua trước mặt Phi, nàng khẽ vẫy mỉm cười . Phi cũng nghiêng đầu chào lại . Chàng thấy Loan thật tử tế , dễ thương . Trái hẳn với Phượng , khi nhìn thấy chàng, Phượng lãnh đạm thản nhiên như một kẻ hoàn toàn xa lạ . Phi không đoì hỏi một cảm tình đặt biệt , song ít ra người ta cũng không nên coi thường chàng . Mặc cảm đó dẫn Phi tới chỗ ghet' Phượng lạ lùng.

Lựa một bản boston, Phi kiếm Liên mời nhẩy. Liên là bạn Thanh và thật ra Liên quen Phi trước Thanh. Vì một chút tự ái , Liên dấu kin' tình yêu của mình để rồi Phi ngã vào tay Thanh một cách điên đảo , Liên đành mất Phi từ đó . Mối tình câm nín của Liên lẵng lặng , câm nín đến nỗi ngay cả Phi cũng không hề hay biết . Chàng chỉ coi Liên như một cô gái quen thân hơn những người khác chút đỉnh . Liên cũng không hề tỏ một cử chỉ nào khác ngoài những cảm tình đã được Liên giới hạn ngay từ khi biết Phi yêu Thanh . Nhưng nhẩy với Phi, Liên cảm thấy gần gũi và rung động như muốn gục đầu vào vai chàng hoặc hơn thế , ghì chàng thật chặt trong vòng tay . Song, không bao giờ Liên làm như vậy cả.

Một phút, nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Phi, Liên biết Phi buồn lắm và chắc chắn Phi buồn vì Thanh . Liên thấy lòng mình quặn đau vì... hờn tủi , ghen ghét , nhưng sự hờn tủi đó không vượt nổi tình yêu Phi thầm kín đã từ lâu chìm lắng, bây giờ mới có dịp sống dậy, Liên khẽ hỏi :

- Vợ con anh đâu ?

- Bỏ lâu rồi mà , em không biết sao ?

Liên gật nhẹ:

- Biết . Nhưng hồi chiều em mới thấy anh chị đi với nhau du dương lắm mà ? Bỏ dễ thế sao ?

Phi cười nửa miệng:

- Lâu lâu về thăm một lần , đi với nhau không đầy ba tiếng đồng hồ lại chán nhau ngay.

- Ai chán ?

- Lẽ dĩ nhiên là "nó" chán anh.

Liên cũng cười , nàng làm bộ hồn nhiên cúi đầu vào ngực áo Phi, song sự thật là Liên rung động . Liên thương Phi hơn bao giờ hết . Nàng dò hỏi :

- Anh còn yêu Thanh lắm phải không ?

Yên lặng vài giây. Phi thú nhận :

- Bằng một thứ tình yêu quái gở , dằn vặt , phi lý, song không thể nào thoát được . Không có lý do nào buộc anh phải ở lại bên Thanh cả , thế mà anh vẫn phải ở lại . Bỏ đó anh có cảm tưởng... bị phản bội . Sự tưởng tượng về Thanh và kẻ khác đau thấm hơn là sự thật.

Liên đã từng yêu, đã từng bị đày đoa. bằng những mối tình tương tự như vậy nên nàng hiểu Phi, đồng thời nàng nhìn rõ mối tình của Thanh đã dành sẵn cho Phi . Phải nói thẳng ra rằng đã đến lúc Thanh chán Phi, có thể vì tin`h yêu một người kh'ac cũng có thể tình yêu Phi keó dài một cách bình dị, vô nghĩa , Thanh chẳng có ích lợi gì cả ngoài những chuyện bực mình . Khi tình yêu đã coi như một sự hưởng thụ thì trở nên nhàm chán cũng như người ta ngồi mãi trong một lâu đài tất là phải nhớ cuộc đời, thèm muốn những đổi thay, mua một chút cảm giác lạ , Thanh ở trong trường hợp này . Liên keó mạnh vai Phi:

- Bây giờ anh và Thanh ra sao ?

- Hết rồi.

Liên lắc đầu :

- Mới vừa cãi nhau xong thì anh tới đây phải không ?

- Ừ , Không bao giờ anh gặp Thanh nữa.

- Ông nào cũng tưởng vậy . Bỏ nhau khó lắm chứ không phải dễ đâu . Anh đã hứa với anh như thế cả ngàn lần chưa?
(còn tiếp)

Mậu thân Huế - Câu chuyện của Nguyễn Thị Thái Hòa




Tôi xin tường thuật lại chi tiết những cái chết đau thương của ông nội tôi, ba người anh, cùng một người bạn của họ, như là một nhân chứng còn sống sót sau tết Mậu Thân, như là tiếng kêu oan cho gia đình tôi, cho linh hồn của những người thân trong gia đình, gia tộc tôi cách riêng, và cho những người dân Huế nói chung. Thay cho tất cả những ai bị sát hại trong tết Mậu Thân 1968 bây giờ còn kẹt lại VN không có cơ hội để nói lên những oan khiên mà họ đã gánh chịu bởi Đảng CSVN, và bè lũ khát máu giết hại dân lành vô tội như anh em Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh...

Năm 1968, tôi đang là sinh viên năm thứ nhất trường Cán Sự Điều Dưỡng Huế. Ngoài những giờ học lý thuyết chung tại trường, bọn sinh viên chúng tôi được chia thành nhiều toán. Mỗi toán từ 8 đến 10 người, luân phiên thực tập ở các trại bệnh trong BV Trung Ương Huế.

Có những trại bệnh sinh viên thực tập theo giờ hành chánh. Có một vài nơi, như phòng cấp cứu, phòng bệnh nội thương... thì giờ thực tập được chia làm ba ca, sáng, chiều và đêm... Ca sáng từ 7giờ đến 2 giờ chiều, ca chiều từ 2 giờ đến 9 giờ tối, và ca đêm từ 9 giờ tối cho đến 7giờ sáng hôm sau.

Mỗi một nơi chúng tôi được thực tập từ 2 đến 3 tuần lễ. Hai tuần trước tết, toán của tôi được chia phiên thực tập ở phòng cấp cứu. Ngày mồng hai, tôi và hai anh bạn vào ca đêm. Tết năm nay ba tôi bận đi hành quân xa không về kịp ăn tết.

Thường thì mấy anh em tôi năm nào cũng vậy, đều phải về nhà ông bà nội từ trước ngày 30 tết, ở luôn cho hết ngày mồng một, rồi sau đó mới được tự do đi chơi, thăm viếng bạn bè… 

Sau bữa cơm tối mồng một tết, khoảng 8 giờ 30, anh hai lấy xe Honda của anh đưa tôi tới BV, và nói sáng mai anh sẽ đến đón.

Tối mồng một tết phòng cấp cứu hơi vắng, chúng tôi, mấy anh sinh viên y khoa và hai người nhân viên phòng cấp cứu nói đùa với nhau rằng hôm nay tụi mình… hên! Chúng tôi mang một ít mứt bánh ra vừa ăn vừa nói chuyện, vừa thay nhau thăm chừng những bệnh nhân mới nhập viện từ đêm qua chưa được chuyển trại.

Nhưng qua nửa đêm thì bắt đầu nghe có tiếng súng. Tiếng súng lớn, nhỏ, từ xa rồi mỗi lúc một gần. Chúng tôi thốt giựt mình, băn khoăn nhìn nhau, hoang mang lo sợ. Bầu không khí bắt đầu căng thẳng, mấy anh sinh viên y khoa thì nghe ngóng bàn tán, thắc mắc không biết tiếng súng từ đâu vọng lại…

Lúc đầu chúng tôi tưởng là thành phố Huế và BV bị pháo kích, nhưng không ngờ, chừng 3-4 giờ sáng, bất thần không biết tứ ngõ ngách nào có chừng mười mấy người tràn vào phòng cấp cứu, họ xưng chúng tôi là quân giải phóng. Đa số mặc áo quần đen, súng mang vai, bị rết ngang hông. Họ bắt tất cả chúng tôi băng bó cho một số người bị thương, đồng thời hò hét chia nhau lục soát, vơ vét, và lấy đi một số thuốc men, bông băng, dụng cụ y khoa v.v… Họ lấy sạch không chừa lại một món nào, kể cả những bánh mứt chúng tôi để trong phòng trực. 

Trong lúc bọn họ đang tranh nhau lục lọi, thì ầm một cái, một tiếng nổ rớt rất gần, đâu đó trong BV, rồi tiếng thứ hai, thứ ba... rớt ngay con đường phía trước cổng chính BV, kề phòng cấp cứu… Điện trong phòng cấp cứu vụt tắt. Thừa lúc bọn chúng nhốn nháo kéo nhau đi, chúng tôi mạnh ai nấy tìm đường chạy thoát thân.

Ra khỏi phòng cấp cứu tôi cắm đầu chạy, tôi không định hướng được là mình đang chạy đi đâu. Súng nổ tứ bề, cứ nằm xuống trốn đạn, rồi đứng lên chạy, cứ thế mà chạy. Chạy bất kể tả hữu. Cho tới khi tôi đâm sầm vào một người, định thần ngó lại mới biết đó là cha Trung, tuyên úy của BV. Cha từ phía một trại bệnh nào đó tình cờ chạy về phía tôi. Nét mặt cha cũng thất thần, đầy vẻ lo âu, nhận ra tôi, cha hỏi “con ở mô chạy lại đây?” Tôi nói “từ phòng cấp cứu”. Vừa nói vừa theo cha, chạy về phía nhà nguyện của BV và cũng là chỗ ở thường ngày của cha. Đến đó thì đã có hai bà Sơ dòng áo trắng và vài người nữa không biết từ trại bệnh nào cũng chạy lại đây. Tôi nhận ra trong số đó có Sơ giám thị suốt trong sáu năm tôi nội trú tại trường trung học Jeane d’ Arc.

Cha Trung quen biết ông nội và ba mạ tôi, thỉnh thoảng ngài có ghé đến thăm ông nội nhà ở đường Hàm Nghi, nên ngài biết tôi. Không biết chạy đi đâu nữa tôi ở lại đó với cha hai bà Sơ, và mấy người nữa.

Bốn năm ngày liền chúng tôi chui rúc trong nhà nguyện, không dám chạy ra ngoài và cũng không liên lạc được với một ai từ những trại bệnh khác. Súng nổ tư bề nên ai ở thì cứ đâu ở đó.

Sau khi đám người xưng là “quân giải phóng” ở Cấp Cứu kéo nhau đi chúng tôi không gặp, không thấy bọn VC nào nữa, hay họ đang lẫn trốn trong những trại bệnh khác thì tôi không biết. 

Tới ngày thứ năm, ruột gan như lửa đốt, không biết ông bà nội, mạ và mấy anh em tôi trên đường Hàm Nghi ra sao. Tôi nói với cha Trung, cha ơi con muốn muốn về nhà. Cha bảo, không được, súng đạn tư bề, nguy hiểm lắm, cứ ở đây với cha và mấy Sơ đi đã, khi mô có lính mình xuất hiện thì mới đi được. Tôi hỏi, khi mô thì lính mình mới tới, cha nói không sớm thì muộn họ cũng sẽ phản công thôi, cha nói như để trấn an tôi và mọi người thôi chứ trên mặt cha thì vẫn đầy vẻ lo âu…

Không biết nghe tin từ đâu mà một người trong nhóm nói người ta chạy vô ở trong nhà thờ Phủ Cam đông lắm. Tôi nghe càng nóng lòng muốn chạy về nhà. Muốn đi phần vì sốt ruột muốn gặp mạ với mấy anh em tôi, phần vì đói. Đã mấy ngày không có gì ăn ngoài mấy ổ bánh mì cứng còng của Caritas còn sót lại ở nhà nguyện chúng tôi chia nhau gặm… cầm hơi!

Tôi quyết định chạy về tìm gia đình.Tôi liều. Trên người tôi chỉ có bộ đồ đồng phục dính đầy máu, tôi chạy ra phía sau cổng BV, tìm đường về nhà. Vừa chạy vừa lo, ngó tới, ngó lui không một bóng người, nhưng tiếng súng thì nghe rất gần. Không biết mấy lần vấp, tôi té xuống. Té rồi lồm cồm bò dậy, vài bước lại vấp té. Tôi lạnh run, hai hàm răng đánh bò cạp, nhìn cảnh tượng xác người nằm đây đó, máu me đóng vũng, Không biết họ bị thương đâu đó ở bên ngoài chạy vào gục chết ở đây. Quá sợ hãi, tôi định chạy trở lại nhà nguyện thì bất thần thấy anh Văn hớt ha hớt hải từ cổng sau BV chạy vô.

Văn là bạn của anh Hải, anh kế tôi, hai người cùng học ở Văn Khoa. Nhà Văn ở miệt trên, gần dòng Thiên An. Mặt mày Văn xanh xao, hai mắt thất thần, trủm lơ, gặp tôi Văn lắp bắp, nói không ra hơi. Ti ơi thằng Hải bị bắn chết rồi. Hắn bị bắn ở bên Văn Khoa. Toàn thân run rẫy, tôi khuỵu xuống.Văn đỡ tôi đứng lên. Lại có tiếng nổ rất gần. Văn hoảng hốt kéo tôi chạy lại ngồi xuống bên trong bức tường sát cánh cổng sau BV. Hai đứa tôi run rẫy ngồi sát vào nhau. Lát sau, tiếng được tiếng mất, anh lắp bắp kể. Văn nói mấy đêm rồi Văn với mấy người anh của tôi trốn đạn trong nhà thờ Chánh Tòa (nhà thờ Phủ Cam) nhưng rồi đêm qua có mấy sinh viên của mình dắt một toán VC vô nhà thờ đọc một lô danh sách, họ lùa người đi đông lắm, không biết họ đưa đi đâu. Văn kể một hơi mấy tên “sinh viên của mình” nhưng bây giờ tôi không còn nhớ nổi.

Khi đám người bị lùa đi, thân nhân của họ khóc la thảm thiết.

Sau đó Văn, anh Hải cùng mấy người bạn rủ nhau trốn ra khỏi nhà thờ và mạnh ai nấy tìm đường trốn. 

Ra khỏi nhà thờ, không biết trốn chui, trốn nhủi, chạy quanh, chạy co, làm sao mà Văn với anh Hải lại tới được trường y khoa. Anh Lộc, anh Kính đi lạc hướng nào không biết. Hai anh hè nhau chui vô phòng thí nghiêm trốn thì thấy có vài người đã bị bắn chết từ bao giờ mà những vũng máu đọng dưới họ còn tươi lắm. Văn, anh Hải hoảng hồn chạy trở ra. Chưa ra khỏi cửa thì gặp Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn thị Đoan Trinh cùng mấy sinh viên khác nữa Văn không biết tên, chỉ biết họ đồng bọn với HPNP. Văn biết mặt Phan là vì Văn có người anh học y khoa cùng lớp với Phan.

Gặp Văn, Phan nạt nộ, tụi mi chạy trốn đi mô? Khôn hồn thì chạy qua bên Văn Khoa tập trung ở đó để đi tải thương! Hải và Văn biết không thể nào thoát khỏi sự kiểm soát của bọn HPNP nên vội vàng chạy bộ xuống Văn Khoa, hy vọng bị bắt đi tải thương chứ không bị giết.

Bọn Trinh, Phan chạy xe Honda nên họ tới trước, và cũng đã bắn trước một số người khác rồi. Hải, Văn không biết nên lúc thúc chạy đến. Anh Hải chạy vô trước, nghĩ là sẽ gặp được một số bạn bè khác, cùng đi tải thương với nhau như lời HPNP nói.

Vừa vô tới giảng đường thì anh Hải bị HPNP bắn gục ngay. Văn mắc đi cầu, tìm chỗ phóng uế nên chạy vô sau anh Hải. Mới tới cửa thì nghe tiến súng, tiếng hét của anh Hải, Văn quay đầu bỏ chạy. Chưa kịp rượt theo Văn thì bỗng ầm, một tiếng nổ đâu đó, trong sân trường đại học, khiến HPNP và đồng bọn hoảng hốt leo lên xe Honda tháo chạy. Văn thoát chết, chạy như điên, như khùng, chạy vô BV, và tình cờ gặp tôi trong đó. 

Nghe anh Hải bị bắn trong sân đại học Văn khoa, tôi bỏ ý định về nhà, tôi muốn chạy qua Văn Khoa tìm anh tôi, hy vọng anh chưa chết, tôi nghĩ sẽ tìm cách đưa anh vô Bv cấp cứu. Tôi khóc nói với Văn, em tới chỗ anh Hải. Văn can, Ti đừng đi, tụi nó có thể trở lại. Tôi mặc kệ Văn ngồi đó, vùa khóc vừa chạy. Một lát nghe tiếng chân Văn sau lưng, miệng thì nói, Ti ơi, vô BV trốn đi, Hải nó chết thiệt rồi, mà chân vẫn bước theo tôi. Tôi như người mất hồn, vừa đi, vừa chạy, vừa khóc. Trời ơi, thật là khủng khiếp, chỉ một đoạn đường từ cổng sau BV tới sân trường VK mà không biết bao nhiêu là xác người, áo quần vung vãi khắp nơi.

Chúng tôi chạy mới tới trường trung học Jeane d’Arc, thì gặp bọn HPNP lấp ló trước cổng trường với một nhóm bộ đội Bắc Việt. Người nào mặt mày đằng đằng sát khí. Gặp lại Phan, Văn run rẩy, Phan chưa kịp nói thì Văn đã lắp bắp phân trần, em qua BV kiếm con Ti chớ em không có trốn mô, và xin xỏ, anh cho em với con Ti đem xác thằng Hải về nhà rồi em trở lại đi… tải thương!

Phan không trả lời Văn, hắn nhìn tôi ác độc, mi về nhà kêu thằng Lộc, thằng Kính xuống đây mà đem thằng Hải về. Tôi líu lưỡi, em không biết hai anh em ở mô mà kêu. Trước đây tôi không hề biết mặt HPNP mà cũng chưa hề nghe nói tới tên người này vì trước năm 68 tôi còn là học sinh trung học. Có thể các người anh của tôi thì biết, vì họ là những lớp sinh viên đàn anh, đã từng qua những khó khăn đối đầu với đám sinh viên theo phe “tranh dấu, lên đường xuống đường” của những năm trước.

HPNP to nhỏ gì với những người đồng bọn rồi quay lại ra lệnh cho tôi với anh Văn đem xác anh Hải về nhà. Chưa biết nghĩ cách nào để đem xác anh Hải về thìVăn thấy một chiếc xích lô của ai bị bể bánh xe sau, nằm chơ vơ cạnh vách tường trường Jeane d’Arc.

Văn gọi tôi theo anh. Chúng tôi đẩy chiếc xích lô sứt cọng gẫy càng về phía Văn khoa. Có chừng 10 xác người trong đó. Tôi không dám nhìn lâu. Chúng tôi hè hụi khiêng Hải bỏ lên xích lô. Xác anh đã cứng. Đùm ruột lòi ra ngoài trông rất khủng khiếp. Hai mắt vẫn còn mở trừng. Miệng vẫn còn há ra.

HPNP vừa đánh anh Văn bằng báng súng vừa chửi. Chuyến ni mi trốn nữa, mi gặp lại tau là mi chết! Văn run rẫy lắp bắp, dạ lạy anh, em không dám nữa mô. Rồi chúng tôi hè hụi đẩy chiếc xích lô mang xác người anh xấu số của tôi nhắm hướng cầu Kho Rèn đi lên. Nhà tôi ở trên đường Hàm Nghi. Qua khỏi cầu một chút. Suốt quảng đường từ đó về đến nhà, có rất nhiều đám lính bộ đội Bắc Việt đứng tụm năm, tụm ba. Chúng tôi không bị bắt giữ lại vì có HPNP chạy đi trước ra dấu cho họ để cho chúng tôi đi. 

Khúc đường ngang trường Thiên Hựu cũng có rất nhiều xác người nằm rải rác. Nhiều vũng máu cũng như xác người bị ruồi bu đen. Đã mấy ngày không có gì trong bụng, tôi vừa đi vừa ói khan. Văn cũng vậy. Chúng tôi rán sức đẩy chiếc xích lô, trong lúc HPNP cùng hai người đàn bà nữa cứ chạy xe đảo tới, đảo lui hối chúng tôi mau lên. Tôi nghe chúng nó hỏi nhau, bên Lý Thường Kiệt, Nguyễn Huệ còn ai nữa không? Có mấy chiếc xe Honda chở gạo, bánh tét, đã tịch thu của nhà ai đó chạy thẳng vô trường Thiên Hựu.

Lúc đó bỗng dưng có mấy chiếc trực thăng xuất hiện trên trời nhã đạn xuống,Văn nói như reo bên tai tôi, Ti ơi, máy bay của mình. Mừng chưa kịp no, thì trời ơi, từ những cửa sổ trên lầu của trường Thiên Hựu những họng súng lớn nhỏ nhả đạn, nhắm hai chiếc trực thăng mà bắn, lúc đó chúng tôi mới biết là VC đang ở trong trường Thiên Hựu quá nhiều. Hoảng hồn tôi, Văn chạy lại nồi sụp xuống bên tường rào của trường tránh đạn. Phan và đồng bọn biến đâu mất. Tụi nó như ma, khi ẩn, khi hiện. Nhưng chỉ được một lát, hai chiếc trực thang bay đâu mất. Chúng tôi thất vọng, khi thấy Phan với đồng bọn xuất hiện hối chúng tôi đi. 

Lên tới cầu Kho Rèn, thấy một đám người, đàn ông, đàn bà, con nít bị bắt trói chung với nhau ngồi trên đầu cầu. Họ ngồi gục đầu xuống hai đầu gối. Tiếng con nít khóc, tiếng mấy bà mẹ dỗ con, nín đi con ơi. Đi ngang qua họ mà chúng tôi không dám nhìn. Có tiếng người trong đám gọi tôi Ti ơi, quay lại tôi nhận ra chị giúp việc của mẹ tôi và vợ của một chú cùng đơn vị với ba tôi ở tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Tôi đoán họ là những người từ trên Phủ Cam, chung quanh cầu Kho Rèn, Hàm Nghi và những con đường chung quanh đó chạy xuống tìm đường trốn lên Phú Lương thì bị bắt giữ.

Tôi định dừng lại hỏi thăm thì HPNP trờ xe tới nạt nộ “đi, mau ngó chi!”

Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng. 

Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.

Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng, đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…

Hai chúng tôi cứ nghiến răng, cúi mặt, lầm lủi đẩy chiếc xích lô mang xác Hải đi tới.

Khi gần tới nhà tôi ở số 24 đường Hàm Nghi thì HPNP và con hồ ly Trinh rà xe lại gần bảo tôi, không được đẩy vô nhà mi. Đẩy lên trên tê!

Đẩy lên trên tê, tôi hiểu đây là đẩy lên nhà ông bà nội tôi. Cũng trên đường Hàm Nghi nhưng nhà nội tôi ở trên dốc, hướng đi lên Phủ Cam. Nhà ba mạ tôi thì ở gần cầu Kho Rèn.

Tôi cũng không hề biết mặt Nguyễn thị Đoan Trinh trước đó. Trong hoàn cảnh này tôi mới biết mặt y thị là nhờ anh Văn nói. Tội nghiệp anh Văn, cứ tưởng khi HPNP biểu cùng tôi đẩy xác anh Hải về là được tha chết. Anh Văn và tôi cũng không ngờ rằng đoạn đường từ Văn Khoa lên tới nhà nội trên đường Hàm Nghi là đoạn đường sau cùng chúng tôi đi chung với nhau trong cuộc đời này.

Lên tới nhà nội, chúng tôi đẩy Hải vô bên trong hàng rào chè tàu, bỏ Hải ngoài sân tôi với Văn chạy vào nhà, nhà vắng ngắt, đi từ trước ra sau bếp gọi ông ơi, mệ ơi. Nghe tiếng ông nội yếu ớt từ trong buồng vọng ra, ai đó, đứa mô đó? Con đây, ông nội. Nghe tiếng tôi, ông tôi hấp tấp chạy ra, bước chân xiêu xiêu, ông tôi chạy lại ôm tôi, ông khóc, ông nói, lạy Chúa lạy Mẹ cháu tui con sống. Tôi không khóc được, tôi run rẫy trong tay ông nội. Ông tưởng tôi sợ nên an ủi, con còn sống mà về được đây là phúc lắm rồi, ở đây với ông nội, không can chi mô! Nghe nói mạ mi đưa ba thằng em mi chạy lên Phú Lương rồi, không biết đi tới mô rồi, có thoát được không? Lạy Chúa, lạy Mẹ phù hộ.

Tôi không nói vì quá mệt, kéo tay ông nội ra ngoài, thấy Văn ngồi bệt dưới nền nhà, ông hỏi, đứa mô giống thằng Văn rứa bây? Văn òa khóc, tôi khóc theo, kéo ông nội ra sân. Nhìn thấy xác Hải ông nội tôi khuỵu xuống, miệng thì kêu trời ơi, trời ơi, răng mà ra nông nổi ni…

Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.

Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói, Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi, đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà… Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn HPNP cũng vừa vào đến. 

Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội, anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi. Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi, thằng Lộc, thằng Kính ở mô? Ông nội nói tui không biết. Phan gằn giọng, ông thiệt không biết tụi hắn ở mô? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được? Ông nội nói, ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ!

Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.

Tôi đứng núp sau lưng ông nội, HPNP hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn, Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti!

Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao, tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô. 

Thằng Phan càng la lớn, tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng. Chĩa mũi súng lên đầu tôi hô một, hai, ba… Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to, đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống… 

Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc Anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì HPNP đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, Lộc lăn xuống sàn nhà toàn thân anh dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.

Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi. Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính. 

Bắn ông tôi xong chúng kéo nhau đi bắt anh Văn theo. Còn lại một mình, tôi bò lại ôm lấy ông nội, tôi khóc không ra tiếng, tôi thở không ra hơi, hai bàn tay tôi ướt đẫm máu, máu của ông nội tôi, tôi bò sang anh Lộc, bò sang anh Kính, tôi lạy, tôi gọi, tôi gào, không ai nghe tôi hết, anh tôi không trả lời tôi, hai con mắt, bốn con mắt, sáu con mắt đều mắt mở trừng, ông nội tôi nằm im, máu trong ngực ông vẫn tuôn ra từng vòi. Tôi gục đầu xuống xác ông lịm đi. Không biết bao lâu thì tôi tỉnh lại, nhưng không ngồi dậy nổi. Cứ nằm ôm lấy xác ông nội. Tóc tôi bết đầy máu, toàn thân tôi, máu, phân và nước tiểu đẫm ướt. Tôi không còn sức để ngồi lên. Không biết tôi nằm bên cạnh xác ông tôi với ba người anh như vậy là bao lâu, khi tỉnh dậy thì thấy hai vợ chồng bác Hậu, vài người lối xóm nữa của ông nội đang ở trong nhà. 

Họ dọn dẹp, khiêng bộ ngựa trong nhà bếp ra trước phòng khách, đặt xác ông nội cùng với ba người anh tôi nằm chung với nhau. Hai bác gái đem tôi vào phòng tắm, phụ nhau tắm rửa cho tôi như một đứa con nít, bác Hậu lấy áo quần của bác mặc cho tôi. Tâm trí tôi hoàn toàn tê liệt. Tôi không còn khóc được, không còn mở miệng nói được câu nào. Ngày cũng như đêm ngồi rủ rượi bên cạnh xác của ông tôi, các anh tôi. Tôi không còn sợ chết. Nhưng sao tụi nó không giết luôn tôi? Trời hỡi, trời ơi!

Nhìn thấy tôi tiều tụy, mỗi ngày bác Hậu gái khuấy cho tôi vài muỗng bột bích chi ép tôi uống. Thiệt ra nhà nội cũng chẳng còn chi. Gạo cơm, bánh mứt thì bị tụi nó khiêng đi hết rồi. Bác Hậu còn dấu được ít gạo, ít than nấu cháo uống cầm hơi với nhau.

Ngày hôm sau thằng Phan trở lại. Bác Hậu xin phép được chôn ông tôi và mấy người anh sau vườn nhà nhưng nó không cho, nói cứ để đó.

Đã hơn bảy ngày, xác đã bắt đầu sình lên và nặng mùi. Mà Phan không trở lại. Một buổi tối bộ đội Bắc Việt đến lục lọi kiếm gạo. Bác Hậu xin họ đào huyệt sau nhà để chôn ông nội và ba người anh tôi. Họ bảo ừ thối quá rồi thì chôn đi, nhưng chỉ được đào một lỗ huyệt. 

Vợ chồng bác Hậu khóc lóc năn nĩ, mấy anh ơi, người chết rồi biết chi, anh cho tụi tui đào 4 huyệt. Họ không cho. Họ phụ bác Hậu đào huyệt. Bảo đem cả bốn người bỏ xuống chung một lỗ. Lấp lẹ đi, thối quá. Bác Hậu với mấy người trong nhà không ai muốn làm, ngó nhau mà khóc…

Chiều tối hôm đó Văn trở lại với Phan và mấy thằng bộ đội. Chúng nó bắt Văn phụ với mấy thằng bộ đội khiêng từng người ra bỏ xuống huyệt. Hai vợ chồng bác Hậu theo ra vườn. Tôi kiệt sức nằm vùi một chỗ nhưng tai tôi vẫn nghe rõ những lời đối thoại trong nhà. Tôi không đủ can đảm theo ra vườn chứng kiến cảnh vùi lấp những người thân yêu của tôi. Nằm trong buồng ông bà nội nhưng tôi nghe rõ từng tiếng cuốc xẻng đang đào đất. Tâm rí tôi quay cuồng, ruột gan tôi đòi đoạn. Trời ở đâu, đất ở đâu? Tôi gọi ông tôi, gọi anh Lộc, anh Kính, anh Hải, không ai nghe tôi hết…

Khi bốn cái xác người được bỏ xuống, miệng lỗ chưa được lấp, thì tôi nghe tiếng súng nổ, tiếng kêu gào của vợ chồng bác Hậu, nhưng không nghe tiếng của Văn. Tiếng bác Hậu kêu Văn ơi, Văn ơi giọng bác đòi đoạn, thì tôi biết chuyện gì đã xẩy ra cho Văn. Toàn thân tôi lẩy bẩy, tôi cảm thấy khó thở, một lần nữa cứt và nước đái trong người tôi túa ra.

Tôi nghe tiếng mấy thằng bộ đội hò hét bảo lấp đất lại. Bác Hậu và những người hàng xóm của nội tôi đành phải làm theo. Khi tụi bộ đội VC bỏ đi, bác Hậu chạy vào buồng vò đầu,bức tai, giọng tức tưởi, thằng Văn nằm chung với ba thằng anh mi rồi con ơi! Trời ơi, là trời ơi, bác Hậu đấm ngực, không biết thằng Văn đã chết chưa mà hắn bắt tui lấp. Văn ơi là Văn ơi, con tha tội cho bác, trời ơi người mô mà ác như rứa… Tôi lặng người, nghe bác Hậu khóc anh Văn.

Sau lần đó không đứa nào trong bọn chúng trở lại, kể cả tụi bộ đội. Chắc nhà ông tôi chẳng còn người để mà giết, chẳng còn của cải chi để mà cướp nữa. 

Hơn hai mươi ngày, tôi nằm liệt lào trong nhà nội. Bên ngoài súng đạn vẫn tư bề.

Hai vợ chồng bác Hậu không nỡ bỏ tôi lại một mình, trong lúc bác nghe ngóng và biết đa số dân Phủ Cam đã tìm đường chạy thoát được xuống Phú Lương. Bác năn nĩ tôi rán ăn uống thêm một chút để có sức mà chạy, không lẽ con nằm đây chờ chết? Con không muốn tìm mạ con răng?

Hôm sau nữa tôi theo gia đình bác Hậu tìm đường chạy lên Phú Lương vì nghe nói lính Mỹ, lính mình đã thấy xuất hiện chung quanh đây rồi. Đi xuống ngã cầu Kho Rèn thì cầu đã bị sập, bác theo đoàn người đi hướng khác, tôi đi theo như người mất hồn, họ đi đâu tôi theo đó, tôi không còn nhớ là mình đã đi qua được những nơi đâu. Có điều tôi lấy làm lạ, trên đường chạy giặc, mỗi khi đạn pháo bắn khắp nơi mà người ta cứ gồng gánh nhau mà đi, không ai chịu dừng lại kiếm chỗ tránh đạn, người ta nói với nhau, khi mô mà có mọc chê hay đạn pháo chi đó thì bọnVC chui vô nhà dân để trốn đạn, chúng nó không ra đường để chặn bắt dân lại, vì vậy người ta cứ chạy bất kể, dưới lằn mưa đạn người ta càng chạy đi đông hơn. Ôi những người dân tội nghiệp của xứ Huế thà chết dưới bom đạn còn hơn để bị lọt vô tay quân sát nhân ác độc.

Cuối cùng thì tôi cũng về đến được Phú Lương gặp mạ và ba đứa em trai của tôi. Quá đau khổ, Mạ tôi bị phát điên khi hay tin cái chết của ba người anh và ông nội. Ít lâu sau ba tôi trở về sau một đợt hành quân nào đó của tiểu đoàn 12 Pháo Binh Phú Bài. Thấy mạ tội như vậy, biết không thể trở lại đường Hàm Nghi ông mướn nhà ở tạm tại Phú Lương.

Sau khi Huế được giải thoát, ba tôi nhờ bà con lối xóm cải táng Văn, ba người anh, và ông nội tôi, tang lễ được cử hành tại nhà thờ Phủ Cam do cha Nguyễn Phùng Tuệ chủ tế. Gia đình anh Văn đồng ý cho anh Văn đươc nằm lại trong miếng vườn nhà ông nội tôi cùng với ba người anh của tôi. 

Ba tôi được giải ngũ khoảng giữa năm 69. Mạ tôi vẫn trong cơn điên loạn không thuyên giảm. Ba tôi quyết định bỏ Huế đem hết gia đình vào Long Khánh sinh sống. Nhà nội giao lại nhờ hai bác Hậu coi chừng. Nhà ở 24 Hàm Nghi (gần đường rầy xe lửa) thì bán cho ai đó tôi không rõ.

Thưa Quý Vị,

Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.

Sau Tết Mậu Thân, những người bà con còn lại của tôi quá đau khổ, sợ hãi, họ đã âm thầm bỏ Huế, tản mác khắp nơi, thay tên đổi họ mà sống…

Sau biến cố tháng 4 đen 75, gia đình tôi lại là những nạn nhân của CSVN ác độc, vô luân. Ba tôi và những đứa em trai còn lại cũng đã chết sau mười mấy năm bị đày đọa trong lao tù CS.

Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế. 

Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người thân yêu trong Gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát.

Tôi sẵn sàng ra làm nhân chứng trước tòa án quốc tế, cũng như xuất hiện trước các phương tiện truyền thông khi cần thiết

Xin trình ông tên tuổi ông nội tôi, và của ba người anh bị sát hại:

Tên ông nội: Nguyễn Tín, 70 tuổi.
Ba người anh: Nguyễn Xuân Kính, sinh viên y khoa, sinh năm 1942.
Nguyễn Xuân Lộc, sinh viên luật, sinh năm 1946
Nguyễn Thanh Hải, sinh viên Văn Khoa, sinh năm 1949
Lê Tuấn Văn, sinh viên Văn Khoa, bạn của anh Hải tôi.


 Nguyễn Thị Thái Hòa

Giết Con Để Cứu Bộ Đội Bác Hồ

Đêm kinh hoàng trong hang Hòn Kẽm 

VŨ CÔNG ĐIỀN




Đêm kinh hoàng trong hang Hòn Kẽm
 

http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Image/71/266071.jpg
Cầm chiếc khăn, bà hốt hoảng nhớ về cái chết của con

TTCT - Vì cháu khóc quá, sợ lộ Mỹ sẽ giết hết dân, người mẹ đó đành chôn sống đứa con ba tháng tuổi do mình rứt ruột sinh ra vào một đêm tối trời của mùa đông năm 1969. Cháu chết đi là để bảo tồn hàng trăm tính mạng dân thường đang chạy giặc trốn tại hang núi Hòn Kẽm.

Một cái chết khủng khiếp, kinh hoàng, tưởng như trong phim, ấy vậy mà có thật 100% tại vùng thượng nguồn sông Thu Bồn đã gần 40 năm trôi qua. Người mẹ đó tên là Lê Thị Nghê (Năm Nghê) nay đã 73 tuổi. Hiện bà vẫn sống với tâm trí điên tỉnh lẫn lộn trong ngôi nhà tạm tại thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Đây là một câu chuyện chưa từng được viết ra nhưng nó đã ám ảnh nhiều thế hệ người dân ở địa phương này, kể cả những dũng sĩ diệt Mỹ thời đó, và họ muốn nó phải được kể lại cho hậu thế.

Sau chiến dịch Mậu Thân năm 1968, Mỹ tăng cường đánh phá ác liệt những vùng rừng núi và trung du các tỉnh Trung Trung bộ. Thượng nguồn sông Thu Bồn, tỉnh Quảng Nam lúc đó là “chiếc nôi cách mạng”, cũng là tâm điểm mà Mỹ thường xuyên tìm đến càn quét và tiêu diệt.

Những năm tháng kinh hoàng 
Sau trận đánh dữ dội vào đầu tháng 8-1969 của bộ đội và du kích địa phương xã Quế Tân, huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam (tên địa danh của thời kỳ đó) bắn rơi một máy bay, bắn cháy hai tàu chiến với hơn 50 lính Mỹ chết, tưởng Mỹ khiếp vía không bao giờ trở lại đây nữa. Nhưng sau hai tháng, vào một sáng ngày đầu tháng 10-1969, Mỹ cho máy bay rải thảm hàng chục tấn bom xuống xã Quế Tân. Sau đó tàu chiến ngược sông Thu Bồn và máy bay đã đổ xuống đây một sư đoàn thủy quân lục chiến nhằm hủy diệt vùng căn cứ cách mạng này để bảo vệ tiền đồn Nông Sơn - một lá chắn trấn thủ che chở Đà Nẵng, Hội An...

Lúc này ngoài số dân tự sơ tán, còn hơn 200 người thôn Trà Linh (Quế Tân) được cán bộ và du kích xã đưa vào núi Hòn Kẽm trú ẩn. Bấy giờ thôn Trà Linh “vườn không nhà trống” nên lính Mỹ tha hồ đốt sạch, phá sạch. Trâu bò cùng vật nuôi bị bắn chết ngổn ngang, làng quê lúc này điêu tàn trong khói lửa.

Những ngày đóng quân tại đây, lính Mỹ càn quét lùng sục nhưng không tìm ra được một người dân nào tại thôn, nên nghi họ chạy hết vào núi. Thế là bao nhiêu vũ khí pháo bầy, đại liên... của lính Mỹ xả vào Hòn Kẽm như mưa. Cứ pháo vừa dứt là đến lượt tàu gáo, tàu rọ quần lượn tìm kiếm để tiêu diệt. “Nhưng nguy hiểm hơn là lính Mỹ đi phục từng tốp. Chiều tối, cứ 10 lính Mỹ đi là cõng trên lưng cũng 10 lính Mỹ. Khi bọn chúng rút về cứ điểm đủ 10 là để lại 10 thằng trên lưng ở lại phục kích. Nhiều người chúng ta hi sinh thời đó cũng vì không biết cái trò này” - anh Trần Hùng, một cựu chiến binh cũng trú trong hang thời đó, kể lại.

Do địch chiếm giữ quá lâu, lúc này dân trú trong hang đang đói và khát nước. May mắn, đêm 6-10 mưa như trút đã cứu khát đồng bào trong hang. Cứ tưởng mưa to địch không phục, Sáu Tiền - một cô gái gan lì - xung phong ra khỏi hang để về rẫy kiếm khoai lang cứu đồng bào. Từ hang bò ra, đi hơn 30 phút vừa đến chân núi, chưa đến rẫy khoai lang thì cô lọt vào ổ phục kích của Mỹ, chúng bắn cô bị thương ở đùi rồi bắt sống. Đêm đó chúng tra tấn cô dã man, cô cố chịu đòn, không hề khai báo với địch lời nào về nơi trú của dân Trà Linh trong hang, thế là rạng sáng 7-10 chúng giết cô.

Đêm đó và tiếp theo, thấy Sáu Tiền không trở về hang, ai cũng biết chắc cô đã lọt vào tay giặc. “Trong những lần chạy giặc trước, chúng tôi đem lương thực đủ ăn ba ngày, lần này bà con đem theo để đủ ăn năm ngày. Vì cứ nghĩ Mỹ ở độ ba ngày là rút, ai ngờ lần càn ni Mỹ ở tới 10 ngày. Hồi nớ dân ở trong hang đói, khát dữ lắm!” - ông Lê Ngô, 80 tuổi, người thôn Trà Linh cũng chạy giặc lúc đó, hồi tưởng. 


Giết con để cứu dân
http://dulich.tuoitre.com.vn/Tianyon/Cache/Image/72/266072.jpg

Mỗi lần nhớ con, bà Năm Nghê đốt nhang đi trong rừng khấn nguyện
Hang trên núi Hòn Kẽm là một địa đạo do thiên tạo rất hiểm trở, chỉ người dân vùng này mới biết. Sau ngày cô Sáu Tiền chết thì tàu gáo quần lượn nhiều hơn, chúng vừa bay vừa bắn đại liên, M79, ném lựu đạn M26 vào từng vách núi của Hòn Kẽm. “Ngồi trong hang mà nghe nổ ầm vang, cứ tưởng địch đổ quân đến gần hang rồi, ai cũng im lặng ôm nhau run sợ” - ông Ngô vừa kể vừa toát mồ hôi như tắm!

Trong hang người đông như thế, trẻ con nhiều nhưng không có cháu nào dưới 3 tuổi nên đám trẻ cũng biết sợ, không dám khóc mặc dù rất đói. Bà Năm Nghê thời đó 32 tuổi, bế theo hai con nhỏ - cháu gái lớn Lê Thị Liên, 4 tuổi và cháu trai Lê Tân, 3 tháng tuổi. Bà vừa sợ Mỹ vừa buồn vì chồng mới chết do bom B52 tại làng.

Nhưng khổ nhất là cháu Tân đói sữa, ngày đêm cứ khóc thét, dỗ hoài không nín. Bà cũng như hàng trăm người trong hang sợ Mỹ nghe tiếng khóc phát hiện nơi trú ẩn của mọi người và giết hết. Có người động viên Năm Nghê: “Chị nên hi sinh đứa con để bảo toàn tính mạng dân trong lúc này!”. Nghe vậy bà bàng hoàng lắm, rồi ai cũng thay phiên ôm ấp cháu, nhưng nó cứ khóc nhiều hơn.

Súng vẫn nổ, mọi người ngồi trong hang cứ nghĩ lính biệt kích Mỹ đang đến gần hang rồi. Lúc này mọi người ngậm ngùi đành nghe theo mấy anh du kích, lại động viên cô Năm: “Thôi cô hi sinh đứa con đi...!”. Sau hai ngày Sáu Tiền chết do Mỹ giết, đêm đó bà Năm hôn núm ruột đang khóc: “Mẹ không bao giờ bỏ con, nhưng vì để cứu dân làng, con phải ra đi...”. Sau khi cháu tắt thở, bà cởi chiếc áo trong người đùm con lại. Bà bế thi thể của con, bò lên khỏi miệng hang về hướng tây 100m mặc cho mưa rơi, mặc cho đạn pháo bắn rền vang, bà dùng hai tay móc đất ướt lạnh để an táng con mình.

Sau khi khỏa đất xong, bà ngồi thêm một lúc, dưới ánh chớp của đạn pháo bà thấy lớp đất trên thi thể con đang rục rịch, bà thầm nghĩ: “Con tôi đã sống lại!”. Nhưng rồi không hiểu sao bà lại bốc thêm đất bỏ lên phần mộ của con. Rồi bà chạy về hang tối mò đến bé Liên, ôm con vào lòng, cắn răng nức nở. Mọi người vây quanh im lặng chia buồn cùng mẹ con bà. Bây giờ thì Mỹ không thể phát hiện tiếng khóc của cháu Tân nữa.

Sau cái chết của cháu Tân ba ngày, mọi người trong hang không còn nghe tiếng pháo rền nữa. Ông Nguyễn Xuân Mỹ, 60 tuổi, cùng thôn với bà Năm, cũng là du kích trong hang lúc đó, kể lại: “Sáng tinh mơ tôi bò lên miệng hang, không thấy máy bay quần lượn, tiếng đạn pháo cũng không còn bắn, đứng trên hang nhìn về thôn Trà Linh xơ xác vắng lặng. Tôi quyết định đi về làng thì đúng là Mỹ đã rút về cứ điểm Nông Sơn”. Dân từ hang núi trở về làng cũ. Rồi sau đó cũng có những cuộc càn quét tương tự của Mỹ diễn ra nhưng những lần này có bộ đội chính qui về đánh trả, Mỹ không trở lại. Thượng nguồn sông Thu Bồn dần dần được bình yên đến ngày giải phóng.

Nỗi đau không dứt
Trong chiến tranh, thôn Trà Linh, xã Quế Tân thuộc huyện Quế Tiên, tỉnh Quảng Nam. Sau giải phóng cách đây 23 năm, thôn này được đổi thành thôn Linh Kiều, xã Hiệp Hòa, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam.

Bây giờ con trai của bà Năm đã ra đi gần 40 năm và 33 năm đất nước thanh bình. Gần 200 người dân thôn Trà Linh ngày ấy bây giờ nhân lên gấp ba, đời sống tuy nghèo nhưng vẫn còn may mắn hơn bà Năm. Con gái còn lại - chị Lê Thị Liên - có chồng, một con trai bây giờ cũng nghèo lắm. Hiện nay vợ chồng chị lên tận Nông trường Phước Đức, huyện Phước Sơn (Quảng Nam) nhận chăm sóc khoán 4ha cao su. Vì xa quá anh chị cũng ít khi về thăm mẹ.

Bà Năm giờ ở một mình trong căn nhà tạm của con gái. Hiện nay bà đang bị nhiều bệnh và sống dưới mức nghèo khổ. Ngoài sự giúp đỡ của bà con lối xóm cùng chạy trú trong hang thời đó thì bà không được Nhà nước trợ cấp một chút gì. Có mấy lần chị Liên làm đơn xin trợ cấp cho mẹ, nhưng ngành lao động - thương binh và xã hội các cấp đều trả lời “không biết xếp mẹ con bà vào diện chính sách gì”.

Vì ám ảnh triền miên, nhiều năm qua tâm trí bà tỉnh điên lẫn lộn. Chiếc khăn của đứa con ngày xưa, đến nay bà vẫn còn giữ và coi đó là “báu vật” bất ly thân. Đêm cũng như ngày, khi không tỉnh bà bế chiếc khăn đó hát ru. Rồi có những khi bà đốt nhang, một mình vào rừng miệng nói lẩm bẩm đi tìm mộ con. Nhưng mộ con của bà đã mất dấu tích sau khi an táng do mưa quá lớn.

VŨ CÔNG ĐIỀN
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=261962&ChannelID=119