Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

9 bí quyết khỏe mạnh và trường thọ

9 bí quyết khỏe mạnh và trường thọ

Bạn có muốn sống tới 100 tuổi không? Hãy đọc ba lần “bí quyết” khỏe mạnh hạnh phúc và trường thọ sau đây.
Để sống khỏe, từ bây giờ hãy bắt đầu dưỡng thành những thói quen tốt! Kỳ thực, đối với nhiều người mà nói, muốn tìm được bí quyết trường thọ là điều không thể. Rất nhiều người không biết phương cách để cải thiện sức khỏe. Gần đây có một bài viết được đăng trên mạng Internet, giảng rõ về bí quyết khỏe mạnh, trường thọ, hạnh phúc của chuyên gia sức khỏe – giáo sư Vạn Thừa Khuê.
1. Khỏe mạnh và trường thọ là do di truyền
Giáo sư Khuê nói, theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới, sự khỏe mạnh và trường thọ của một người được quyết định bởi 15% do di truyền, 10% do các nhân tố xã hội, 8% do điều kiện trị liệu, 7% do ảnh hưởng khí hậu, và 60% do cá nhân.
Ăn cơm nhất định phải: Ăn sáng thật ngon, ăn trưa đủ, ăn tối ít. Con người hiện nay đều làm ngược lại, buổi sáng ăn qua loa, buổi trưa ăn đối phó, buổi tối ăn đẫy bụng, đây chính là nguồn gốc của bách bệnh. Bữa cơm buổi sáng bằng với việc uống thuốc bổ, là bữa ăn quan trọng nhất, nhất định phải ăn thức ăn có nhiều dinh dưỡng.
Đồ ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng phải có 4 loại sau: Sữa bò, sữa đậu nành, trứng gà hoặc thịt, thức ăn chính bắt buộc phải có rau và hoa quả.
2. Thói quen có hại nhất thế giới là hút thuốc
Trong số 5 thói quen có hại nhất thế giới, đứng đầu chính là thói quen hút thuốc. Người hút thuốc cả đời, sống ít hơn 20 đến 25 năm, hút thuốc một lần giảm thọ 11 phút. Sáng sớm vừa ngủ dậy đã hút thuốc, là cực kỳ nguy hiểm. Người hay hút thuốc, thường bị viêm phế quản, viêm phổi, mắc bệnh tim phổi, và cuối cùng là ung thư phổi.
3. Thừa dinh dưỡng quá nhiều cũng bằng như trúng độc
Thừa dinh dưỡng quá nhiều cũng bằng như trúng độc. Ăn đồ ăn trong một ngày phải có quy tắc: thứ 2 đến thứ 7. Mỗi ngày ăn một đĩa rau, cần ăn 8 lạng đến 1 cân rau; mỗi ngày ăn 2 trái hoa quả; 3 muỗng dầu thực vật, không được vượt quá 25g; Thứ 5 hàng tuần ăn 2 bát cơm hoặc 4 cái bánh bao; thứ 6 hàng tuần ăn các thức ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao như lòng trắng trứng, thịt, trứng, sữa, cá, đậu nhưng phải có quy định về lượng, 1 lạng thịt, một quả trứng gà, nửa cân đến một cân sữa bò, một miếng đậu phụ hoặc 1 bát sữa đậu nành, tào phớ, thịt, trứng, sữa, cá 30g, không nên vượt quá 1 lạng, 6 cốc nước hoặc 6g muối.

Mỗi ngày nhất định phải uống 8 cốc nước.

Bởi vì nước là sinh mệnh của con người. Hiện nay có nhiều người không biết uống nước, khát nước mới uống. Đó là sai lầm, nhất định khi có thời gian rỗi phải uống nước, chứ không phải khi khát mới uống.
8 cốc trà có được không? Trà không được, vậy còn 8 cốc cà phê? Nước ngọt, cà phê, bia đều không thể thay thế nước. Nếu uống trà cũng phải uống trà nhạt, không được uống trà đặc. Cần ghi nhớ, nước là sinh mệnh của con người.
4. Con người không phải chết vì già, không phải chết vì bệnh, mà là chết vì tức
Con người ai có thể không tức giận? Con người là động vật có tình cảm, vui buồn ưu tư bi ai lo sợ. Đó là biểu hiện tình cảm phong phú của con người. Giả sử con người chỉ có một loại tình cảm, người này sẽ không khỏe mạnh.
Một người mà tình cảm phong phú, nên biểu hiện thế nào thì biểu hiện như thế, nhưng bạn cần chú ý: thứ nhất không được quá độ, thứ hai nếu quá độ thì không được diễn ra trong thời gian dài, phải điều chỉnh trở lại thật nhanh, đó mới là trạng thái khỏe mạnh.
“Hoàng đế nội kinh” từ lâu đã giảng rất rõ ràng: “Phẫn nộ hại gan, hoan hỉ hại tim, ưu sầu hại phổi, suy nghĩ nhiều hại tỳ, lo sợ hại thận, bách bệnh đều sinh ra từ tức giận.” Rất nhiều người nói lời chân thực rằng, con người không phải chết vì già, không phải chết vì bệnh, mà là chết vì tức.
Cho nên con người “không thể không tức giận, nhưng nhất định phải biết cách tức giận; nhất định không được làm nô lệ của cảm xúc, nhất định phải làm chủ của cảm xúc;

Nhất định phải điều khiển được cảm xúc, không được để cảm xúc điều khiển bạn.

5. Đi bộ là một phương thức rèn luyện cực kỳ tốt
Bất cứ cái gì cũng phải có mức độ, ăn phải có mức độ, ngủ phải có mức độ, luyện tập cũng phải có mức độ, luyện tập quá mức cũng sẽ khiến cho chức năng miễn dịch bị giảm. Mỗi ngày nên tập luyện từ 30 phút đến 1 tiếng, nội dung tập luyện có thể sử dụng những phương pháp đơn giản nhất, đi bộ, đi dạo 30 phút cũng được, đó là phương pháp đơn giản, kinh tế và hiệu quả nhất.
Tuy vậy, đi bộ cũng phải có tìm hiểu nghiên cứu, thanh niên cần đi nhanh, bước nhanh, nhanh tới mức nào? Một phút cần đi được 130 bước, nhịp tim cần đạt 120 lần/phút, mới có thể đạt được mục đích rèn luyện tim tạng. Để đạt tới 130 bước, nhịp tim 120 lần, đương nhiên không phải là điều trong phút chốc có thể làm được, cần có một quá trình để thích ứng, nếu bạn có thể kiên trì liên tục trong nửa năm, chức năng tim phổi của bạn sẽ có thể đề cao rất nhanh, từ 30 – 50%.
6. Uống say một lần với rượu trắng, bằng với việc bị viêm gan cấp tính một lần
Thế giới nêu ra 6 loại sinh hoạt gây tổn hại nhất cho sức khỏe: đứng đầu là hút thuốc, thứ hai là nghiện rượu, uống rượu quá độ. Uống một lượng ít còn có chỗ tốt, ví dụ một ngày uống 50ml rượu trắng, hoặc uống 100ml rượu nho đặc biệt là rượu vang nho, hoặc nửa lít đến 1 lít bia. Nếu quá đi sẽ làm tổn hại thân thể, hại gan, hại não, hại tim, hại các cơ quan nội tạng.
Uống say một lần với rượu trắng, bằng với việc bị viêm gan cấp tính một lần. Vì sao người uống nhiều rượu, trí nhớ không tốt, năng lực nhận biết giảm? Bởi vì một lượng lớn tế bào đại não đã bị chết. Một ngày chỉ uống 50ml rượu trắng, đây là mức an toàn.
7. Gia đình không hòa thuận, con người sẽ sinh bệnh
Có chuyên gia cho rằng:

70% bệnh tật của con người đến từ gia đình, 50% bệnh ung thư của người ta đến từ gia đình.

Trong gia đình ngàn lần không nên “ngày nào cũng cãi nhau một trận nhỏ, qua 3-6-9 ngày lại cãi nhau một trận lớn”, nhưng cũng không nên trở thành một gia đình hiu quạnh, không tranh luận, không nói chuyện, cả nửa tháng không nói năng gì, như thế không phải trong nội tâm đang hậm hực sao.
Tôi đã từng xem qua một bài báo cáo, nói về một những người ly hôn, những người góa bụa thọ mệnh trở nên rất ngắn, việc này đều có căn cứ khoa học. Cô độc còn đáng sợ hơn nghèo khó, phu thê sống lành mạnh có thể trường thọ, sự cô độc còn dễ khiến xuất hiện vấn đề, dễ khiến cho đoản mệnh, đây là quy luật phổ biến. Nhưng làm sao để cho gia đình trở nên hòa thuận, đây là cả một mảng tri thức.
Bắt buộc phải giải quyết 4 vấn đề: Thứ nhất cần phải kính trọng người già; thứ hai cần giáo dục tốt con cái; thứ ba cần xử lý tốt quan hệ mẹ chồng nàng dâu; thứ tư đặc biệt quan trọng, vợ chồng cần phải có thời gian chăm sóc thương yêu nhau, đây là điều chủ yếu.
8. Thu nạp đầy đủ những thứ lành mạnh vào não bộ
Khỏe mạnh cần bắt đầu thực hiện hằng ngày, mỗi ngày khỏe mạnh, thì cả đời sẽ khỏe mạnh. Nhất định cần ghi nhớ mấy câu sau: “Có thể ăn có thể uống không phải là khỏe mạnh, biết cách ăn biết cách uống mới có thể khỏe mạnh, ăn uống tùy tiện sẽ gặp tai họa”, “Dùng bụng để ăn cần ấm no, dùng miệng để ăn giảng về hưởng thụ, dùng đầu để ăn sẽ giữ được sự khỏe mạnh.” cần làm được:

“Ăn sáng như hoàng đế, ăn trưa như đại thần, ăn tối như ăn mày.”

9. Khoai lang là thực phẩm tốt nhất trên thế giới
Xin mọi người ghi nhớ nguyên tắc sau

Nên ăn 70-80% những thứ là thực vật, chỉ nên dùng 20-30% đồ ăn là động vật

Chúng ta hiện nay làm ngược lại, cho nên rất nhiều bệnh xuất hiện, nào là bệnh béo phì, bệnh tiểu đường, bệnh thống phong. Không thể không ăn rau xanh, không ăn hoa quả, trẻ con hiện nay đặc biệt không ăn rau xanh, rất nhiều người không có thói quen ăn hoa quả, mọi người cần ghi nhớ, mỗi ngày ăn 2 đến 4 loại hoa quả, 3 đến 5 loại rau xanh, có thể phòng chống ung thư, bảo hộ tim tạng, đây chính là chiến lược dinh dưỡng mới của thế kỷ 21.
Khoai lang (địa qua) là thực phẩm tốt nhất trên thế giới, Nhật Bản từng là quốc gia mắc bệnh ung thư nhiều nhất, để giảm thiểu tình trạng ung thư, người Nhật Bản đã nghĩ ra rất nhiều phương pháp, nhưng đều không có hiệu quả, cuối cùng họ đã dần dần tìm ra, họ đã chọn lọc ra từ rất nhiều loại rau xanh, chọn ra 20 loại rau xanh có thể phòng chống ung thư, khoai lang luộc, khoai lang sống đứng số 1, rau xanh chống ung thư đứng thứ 2. Để phòng chống ung thư, bảo hộ tim tạng, làm mềm huyết quản, thông tiện v.v… đều không thể thiếu hai loại này.
Theo NTDTV
Biên dịch: Tuệ Minh
Đại Kỷ Nguyên tiếng Việt
Like

Không chỉ một vài câu chửi tục lúc nóng giận, say xỉn mà khẳng định nhân cách một người !!!






































'Đừng đẩy Trang Trần xuống vực thẳm'

(TTNN) - 'Trang sẵn sàng nhận nuôi 3 đứa trẻ mồ côi làm con của mình suốt mấy năm qua, để chăm sóc các bé trưởng thành và bù đắp tình cảm cho các em'.

Sự việc Trang Trần gây xôn xao làng giải trí suốt hai ngày qua. Bên cạnh hình ảnh một Trang Trần thẳng thắn và bộc trực, những người thân thiết đều biết Trang Trần có tấm lòng nhân văn đáng ghi nhận.

Chia sẻ của ca sỹ - nhạc sỹ Hoàng Rapper giúp người xem có góc nhìn khác hơn về cựu chân dài này: "Ai đã từng theo dõi Trang qua truyền thông, cũng đều biết Trang là cô gái rất cá tính. Ai đã từng thân với Trang, cũng đều biết Trang rất thẳng tính, bộc trực và nóng nảy.

Nhưng mấy ai biết suốt thời gian rất dài vừa qua, Trang đã âm thầm tự mình thực hiện hàng trăm lần những cuộc vận động quyên góp, những chuyến đi thiện nguyện, những bữa cơm từ thiện, để trợ giúp cho cả ngàn hoàn cảnh khó khăn, cơ cực, thiệt thòi. Liên tục và không mệt mỏi. Cái may mắn của tôi là được 2 lần tham gia với Trang trong hàng trăm lần đó.

Cô giúp người chẳng vì bất cứ lí do vụ lợi cá nhân nào cả, cũng chẳng để nổi tiếng hơn. Chỉ vì chữ Tâm, chữ Nhân, chữ Nghĩa. Trang sẵn sàng nhận nuôi 3 đứa trẻ mồ côi làm con của mình suốt mấy năm qua, để chăm sóc các bé trưởng thành và bù đắp tình cảm cho các em. Trang cố gắng mở rộng phát triển việc kinh doanh quán ăn, để có kinh phí bồi đắp cho công việc nhân đạo. Trang có ước mơ mua được mảnh đất thật to, để xây nhà tình thương, để nhận nuôi trẻ mồ côi và người già neo đơn, để mở quán cơm từ thiện,...

Người thương Trang rất nhiều, kẻ ghét Trang cũng không ít. Nhưng đối với tôi (đã từng nói trước đây), Trang mới là Hoa hậu Thân thiện thật sự của lòng tôi.

Chẳng ai thuê tôi viết những dòng status này cả. Chỉ đơn giàn là vì tôi thật sự mong muốn và thỉnh cầu các cơ quan có thẩm quyền xử lý vụ việc không vui vừa qua thật có LÝ và có TÌNH.

Riêng Trang. Điện thoại không được nên đành phải viết qua facebook: Bà ơi! Bình tĩnh lại chưa? Hãy vì con, vì những người yêu thương bà, vì những khán giả ủng hộ bà, vì những ước mơ của bà, phải điềm tĩnh lại, không nóng nữa, tạm gác qua chuyện ai đúng ai sai, cũng tạm quên luôn cái tôi của mình một lát để nói lời xin lỗi. Đừng để con mình nói riêng và trẻ em nói chung, phải nghe những lời cay nghiệt đó, đau và hại lắm.

Lời xin lỗi khó nói lắm, nhưng nó chẳng hại ai cả. Ít ai biết rõ chuyện gì đã xảy ra, nhưng mọi người luôn tin và ủng hộ Trang! Cố gắng lên!"

"Sống trong đời sống cần có tấm lòng - để gió cuốn đi".


Theo Tiến Trần
Thể Thao Ngày Nay


và:

  • https://www.facebook.com/noithat.thuytin



L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) - Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo



Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo
Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian - 1866) của danh họa Gustave Courbet (khổ 46 x 55 cm) - DR

    Trong lãnh vực hội họa Tây phương, bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet có một chỗ đứng riêng biệt. Được vẽ vào năm 1866, bức họa chỉ được chính thức trưng bày trong viện bảo tàng vào năm 1995. Nội dung táo bạo có thể giải thích vì sao tác phẩm đã bị cất giấu trong hơn một thế kỷ, bởi vì bức tranh không vẽ gì khác ngoài bộ phận sinh dục của đàn bà.

    Bức tranh L’Origine du Monde hiểu theo nghĩa Cội Nguồn Trần Thế hay Cội Nguồn Nhân Gian, nằm trong số 10 tác phẩm nổi tiếng nhất của viện bảo tàng Orsay, cũng như bức tranh Mona Lisa tiêu biểu cho viện bảo tàng Louvre. Thế nhưng, du khách nào tò mò muốn xem tận mắt tác phẩm này thì phải đợi đến sau tháng Chín năm 2014. Vì trong suốt mùa hè năm nay, tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) được đưa về trưng bày trong vòng ba tháng, từ ngày 07/06 đến 01/09/2014, tại thị trấn Ornans, gần thành phố Besançon, miền Đông Nam nước Pháp, nguyên quán của danh họa Gustave Courbet (sinh năm 1819 – mất năm 1877). Bức tranh được trưng bày ở nhà riêng của danh họa, nay được biến thành viện bảo tàng.
    Nổi tiếng là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái hiện thực, danh họa Gustave Courbet đã vẽ bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) vào năm 47 tuổi (1866), theo đơn đặt hàng của nhà sưu tầm tranh lõa thể Khalil Bey. Tên thật là Halil Şerif Pasha, ông Khalil Bey là người gốc Ai Cập, từng làm đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Paris rồi Vienna. Giai thoại kể rằng ông Khalil Bey quen biết họa sĩ Gustave Courbet theo lời giới thiệu của nhà văn kiêm phê bình văn học Charles Augustin Sainte-Beuve. Ông Khalil Bey đặt hàng với họa sĩ Gustave Courbet nhiều bức vẽ táo bạo chứ không phải là một bức duy nhất.
    Vào thời đó, đang có một cuộc tranh cãi rất lớn trong dư luận về bức tranh Kiều nữ Olympia của Édouard Manet vẽ vào năm 1863. Truyền thống vẽ tranh khỏa thân thật ra đã có từ thời kỳ Phục Hưng, cuối thế kỷ XV nhưng các họa sĩ thường hay luồn lách sự kiểm duyệt bằng cách ‘’ẩn nấp’’ đằng sau cái bình phong ‘’thẩm mỹ cổ điển’’. Vẽ khỏa thân để ca ngợi vẻ đẹp cơ thể người đàn bà thông qua các điển tích của truyện thần thoại Hy La (Hy Lạp và La Mã).
    Bức họa Olympia của Édouard Manet, vẽ theo phong cách cổ điển một người đàn bà khoả thân, nhưng lại gây tranh luận vì nhân vật trong tranh đơn thuần là một cô gái điếm, chứ không phải là biểu tượng cao quý thanh thoát của thần Vệ Nữ. Qua việc vẽ một cô gái điếm dù là hạng sang, danh họa Édouard Manet (thuộc trường phái ấn tượng) đã cố tình xé rào, đi ngược lại với ‘’đạo đức thẩm mỹ’’, nêu đích danh điều mà rất nhiều người thời bấy giờ chuyên vòng vo nói lái.
    Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet ra đời trong cái bối cảnh đó, nhưng táo bạo hơn cả trăm lần, cả nội dung lẫn hình thức, so với bức họa Kiều nữ Olympia của Manet. Theo nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Fabrice Masanès, tác giả của tập sách biên khảo về Gustave Courbet, do nhà xuất bản Taschen phát hành vào năm 2006, trên thực tế, bức tranh đầu tiên mà Gustave Courbet đã vẽ theo đơn đặt hàng của ông Khalil Bey là tấm tranh đề tựa Les Dormeuses (Hai người đàn bà ngủ say).
    Nhưng khi mua tác phẩm này, nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ chưa thật sự ưng ý cho lắm, nên mới đặt thêm một tác phẩm thứ nhì và thách đố họa sĩ Gustave Courbet vẽ một bức họa mà chưa ai "dám vẽ". Bản thân ông Khalil Bey cũng không ngờ rằng danh họa Courbet lại dám vẽ bộ phận sinh dục của người đàn bà theo góc nhìn trực diện và nhất là cận ảnh. Bức tranh khổ trung bình (46 cm trên 55 cm) khiêu khích vì cực kỳ sống động, táo bạo vì y hệt như thật. Tiêu điểm của bức tranh L’Origine du Monde là một khung tam giác đen huyền, để lộ một âm hộ hé mở.
    Theo nhà nghiên cứu Michèle Haddad, người đã viết ba quyển tiểu luận về danh họa Gustave Courbet, đối chiếu hai quan điểm thiêng liêng và trần tục trong nghệ thuật hội họa thế kỷ XIX, nhà ngoại giao Khalil Bey đang lâm bệnh nặng khi đặt mua bức tranh Cội nguồn Nhân gian. Ông có mặt tại Paris để tìm cách điều trị bệnh giang mai, một chứng bệnh vô phương cứu chữa đối với ngành y học thời bấy giờ. Theo bà Michèle Haddad, tựa đề Cội nguồn Nhân gian L’Origine du Monde vì thế có cả hai ý nghĩa, đó là nguồn gốc của mầm sống, chốn sinh ra con người, nhưng theo quan niệm đạo đức tôn giáo của thời bấy giờ, đó cũng là nguồn gốc của cõi chết : hiểm họa tiềm tàng trong khoái lạc tình dục, bệnh tật rình rập trong thú vui xác thịt.
    Dù gì đi nữa, bức tranh này trở thành một trong những tác phẩm hội họa thế kỷ XIX nổi tiếng nhất trên thế giới. Trong gần 130 năm, rất nhiều người được nghe nói tới nhưng ít bao giờ được nhìn thấy tận mắt. Chỉ có hai nhà văn Maxime Ducamp và Edmond de Goncourt (người đồng sáng lập giải văn học cùng tên) có mô tả bức tranh này trong bài viết của họ vào những năm 1880. Mãi đến một thế kỷ sau, người ta lần đầu tiên mới được thấy ảnh chụp bức vẽ này trong quyển sách nghiên cứu y khoa của bác sĩ người Pháp Gérard Zwang, phát hành vào năm 1967.
    Thật ra, lúc sinh tiền nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ Khalil Bey đã bán toàn bộ sưu tập tranh khỏa thân của ông để kiếm tiền chữa bệnh. Nhưng tác phẩm L’Origine du Monde không được đem ra bán công khai mà chỉ có một nhóm nhà sưu tầm, có đủ tiền mua tranh, mới được trông thấy. Sau nhiều lần đổi chủ (nhà sưu tầm Antoine de la Narde, phòng tranh Berheim Jeune, nam tước François de Hatvany … ), bức tranh L'Origine du Monde lọt vào tay nhà phân tâm học Jacques Lacan vào năm 1955.
    Ông Jacques Lacan nhờ người anh rể là họa sĩ André Masson thuộc trường phái siêu thực, vẽ một bức tranh phong cảnh trừu tượng đề tựa Terre Érotique (Vùng đất gợi tình), làm một khung đôi để ghép chồng bức thứ hai lên trên bức họa nguyên tác. Khi muốn xem, thì chỉ cần xê dịch tấm tranh thứ nhì như một ngăn kéo là hé lộ bức vẽ L’Origine du Monde (Cội nguồn Nhân gian). Sau khi nhà phân tâm học Jacques Lacan qua đời, gia đình ông mới biếu tặng tấm tranh này cho viện bảo tàng Orsay. Từ năm 1995 trở đi, tức là hơn một thế kỷ sau ngày ra đời, tác phẩm này mới bắt đầu được phổ biến qua ảnh chụp hay qua các phiên bản sao chép.
    Trong vòng 130 năm, bức họa L’Origine du Monde (Cội nguồn Nhân gian) đã bị che đậy cất giấu, nội dung táo bạo đến mức những người sở hữu tác phẩm tự kiểm duyệt, do muốn tránh gặp rắc rối với ngành tư pháp, nên không thể công khai phổ biến hay không muốn để cho mọi người cùng xem. Mãi đến cuối thế kỷ XX, khi tác phẩm được trưng bày ở viện bảo tàng, thì bức tranh lại gây tranh cãi.
    Nhiều người đánh giá rằng bức vẽ này quá thô tục, sống sượng chẳng khác gì sách báo đồi trụy hay phim ảnh khiêu dâm. Có ý kiến cho là qua bức vẽ này, nhân cách hay phẩm giá của phụ nữ bị hạ thấp, phơi bày cơ thể của người đàn bà như một đồ chơi tình dục, một món hàng rao bán cho đấng mày râu rửa mắt thỏa mãn. Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến phản bác lại khi cho rằng Gustave Courbet đã thực hiện một cú đột phá “ngoạn mục” khi xoá mờ ranh giới giữa sáng tác nghệ thuật và ý tưởng khiêu dâm.
    Nhiều người tưởng lầm rằng tác phẩm đầu tiên thể hiện người đàn bà khỏa thân là bức tranh Ngày ra đời của Thần Vệ Nữ do Sandro Boticelli vẽ vào năm 1485. Trong lãnh vực này, bức khỏa thân đầu tiên là một bức tượng Thần Vệ nữ (Aphrodite de Cnide) của nhà điêu khắc Hy Lạp Praxitèle, thế kỷ IV trước Công nguyên. Trước Boticelli, danh họa Hà Lan Jan Van Eyck vào năm 1432 từng vẽ cảnh Adam và Eva trần như nhộng (Adam and Eve) trong bức họa L'Agneau Mystique. Thời kỳ Phục Hưng, tranh vẽ khỏa thân đã có nhiều bậc thầy như danh họa người Ý Titien trong bức họa Venere di Urbino (Venus d’Urbin) vẽ vào năm 1538, gần hai thế kỷ sau danh họa Tây Ban Nha Goya vẽ bức Giai nhân khỏa thân (Maja Desnuda 1790)
    Về phần mình, danh họa Gustave Courbet trước khi vẽ bức Cội nguồn Nhân gian, đã sáng tác nhiều bức tranh khỏa thân khác như Vénus et Psyché, La Femme au Perroquet, hay là Les Dormeuses ... Nhưng theo lời bà Isolde Pludermacher, quản đốc kho lưu trữ viện bảo tàng Orsay, không phải ngẫu nhiên mà bức vẽ L’Origine du Monde (Cội nguồn nhân gian) trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của Gustave Courbet.
    Bức họa này tiêu biểu ở hai điểm : thứ nhất là nó phá vỡ hoàn toàn mọi khuôn thước về loại tranh lõa thể, thứ hai là trong cách chọn góc nhìn cận ảnh, Courbet đã không dùng "uyển họa" để làm nhẹ đi bút pháp, cũng như không giảm bớt tác động của bức tranh đối với người nhìn. Về mặt bố cục của bức tranh L’Origine du Monde, Gustave Courbet đóng khung nhân vật trong bức vẽ từ ngang ngực tới ngang đùi, đặt khối tam giác mầu đen huyền làm điểm nhấn của bức họa. Dù có đứng ở vị trí nào, ánh mắt của người xem tranh vẫn bị thu hút bởi cái tiêu điểm ấy.
    Thủ pháp cận ảnh này tạo sự đột phá vì khá mới lạ trong hội họa và chỉ phổ biến sau này qua nghệ thuật nhiếp ảnh và điện ảnh. Bức tranh L’Origine du Monde có tác dụng như một hòn đá nam châm, một là nó thu hút người xem, không thể nào mà không dán mắt vào bức vẽ, hai là nó đẩy lùi ngay tức khắc những người nào tình cờ bắt gặp bức họa. Có người thẹn thùng đỏ mặt, không còn cách nào khác là cúi đầu ngoảnh mặt, nhìn sang một nơi khác.
    Thấy sao vẽ vậy …. tranh luận vẫn nảy sinh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dù ít có ai tận mắt nhìn thấy. Danh họa người Pháp Gustave Courbet dám phơi bày tất cả những gì người khác chỉ muốn che đậy ! Góc nhìn trực diện táo bạo của Gustave Courbet chất vấn thách đố tư tưởng phải đạo, khuynh đảo vạch mặt ‘‘quân tử ngụy tạo’’.

    (REPOST) CSVN đang tự vả vào mặt



    "Đừng sợ chúng ta sẽ thiếu nhân tố dân chủ cho dù CSVN có tìm mọi cách tống xuất hay cô lập hoá anh chị em dân chủ. Thời gian đã minh chứng, dù bị đày ải để sống đời lưu vong hay dùng nhà tù để trừng trị, dập tắt khát vọng dân chủ; thì chế độ độc tài, toàn trị cũng đã hoàn toàn thất bại. Hãy cứ can đảm đốt đuốc mà đi, thì trong chính các bạn sẽ là những hy vọng và mẫu mực."

    Gần đây, CSVN đột nhiên thả một số tù nhân chính trị. Có người đưa thẳng qua Mỹ định cư, có người đưa về nhà một cách lặng lẽ. Dĩ nhiên, trước đó thì an ninh đã tìm mọi cách để dụ dỗ, thuyết phục họ ký giấy hoặc nhận tội, hoặc đồng ý đi ra nước ngoài. Thực ra, không riêng gì số anh chị em Dân chủ đang bị tù đày, nhìều nhà đấu tranh Dân chủ khác, đang tự do ở ngoài cũng được Hà nội nhiều lần mớm ý cho đi định cư nước ngoài.

    Nói cách khác, họ muốn tống các của nợ cho rảnh tay đối phó. Cứ tưởng tượng mỗi ngày Hà Nội phải chi tiền cho 5-6 an ninh chìm đi theo bảo vệ các anh chị em dân chủ, cứ nhân lên 10 lần hay hơn nữa, cũng đủ thấy tổn phí rất cao. Đó là chưa kể các khoản chi tiêu khác và những bất thường cho “tình hình an ninh”. Thượng sách là thuyết phuc họ đi định cư nước ngoài, trung sách là tìm cách cho an ninh, mật vụ, công an khủng bố, khuấy phá, chèn ép đến đường cùng để họ phải chạy qua các nước thứ ba xin tỵ nạn chính trị. Hạ sách, thì mới phải trấn áp, thủ tiêu, bịt miệng.

    Áp lực nào đã làm cho Hà Nội phải nhượng bộ? Và trong danh sách phía Mỹ đặt vấn đề tại sao lại thả người này, trục xuất người kia, nhưng vẫn còn giam giữ người khác. Việc Mỹ đòi thả tù nhân chính trị, đòi Hà Nội tôn trọng nhân quyền thì không chỉ mới xảy ra mà nó đã liện tục kéo dài từ nhiều năm nay. Họp Nhân Quyền thường niên Mỹ-Việt vẫn diễn ra đều đặn, và danh sách tù nhân bất đồng chính kiến càng lúc càng dài chứ không thu ngắn. Hai năm trước, Hoa Kỳ cũng đã ngán tận cổ trước thái độ ù lỳ của Hà nội và họ có ý định dẹp các cuộc họp thường niên về Nhân Quyền vì nó vô ích, không thấy tiến bộ. Phiá Mỹ, cũng từng hỏi ý kiến anh chị em bất đồng ý kiến, có nên tiếp tục họp Nhân Quyền nữa không? Và nếu tiếp tục thì chủ điểm trao đổi điều gì chúng ta quan tâm.

    CSVN là chế độ độc tài, toàn trị. Việc đàn áp nhân quyền, giam giữ các tiếng nói đối lập đã là bản chất của chế độ. Do vậy, trừ truờng hợp phải nhượng bộ, bi áp lực phải xuống nước, hoặc phải mang “bị gậy ăn xin” ở nước ngoài, hay ở thế “thập tử nhất sinh”; thì CS tuyệt không lùi bước. Cho nên, khi muối mặt thả tù nhân chính trị, CSVN cũng chẳng vui vẻ gì. Về mặt nội bộ, họ đang bị áp lực vì “mất mặt”, khi “nhổ rồi lại liếm”, phải giải thích trong Đảng các chính sách linh tinh, “ta thả ra là vì nhân đaọ, khoan hồng”. Về dư luận thế giới, cho dù được tiếng có tiến bộ, thì tỳ vết cũng không thể xoá nhoà thành tích của Hà Nội, vì bắt bớ tuỳ tiện, đàn áp và vi phạm nhân quyền.

    CSVN cần gì ở Hoa Kỳ

    Tình hình biển Đông là áp lực mà CSVN đang ngày đêm phải khấu đầu phương Bắc. Nanh vuốt và tham vọng của Trung Cộng đặt CSVN vào thế phải đi dây với Mỹ để cân bằng quyền lực với Trung Công, để giữ chế độ độc tài, toàn trị được tồn tại. Từ nhiều năm nay, CSVN đã nhiều lần muốn Mỹ viện trợ vũ khí quân sự, tân trang các thiết bị chiến tranh đã bị hỏng, và nhất là muốn mua hàng loạt các mặt hàng quân sự sát thương tối tân của Mỹ.

    Năm 2012, đơn đặt hàng mua vũ khí sát thương của Việt Nam đã bị Mỹ từ chối. Thượng nghị sĩ John McCain tuyên bố “Hà nội đang có một danh sách dài về các vũ khí cần mua của Mỹ”. Tuy nhiên “quan hệ an ninh hai bên sẽ chịu ảnh hưởng trực tiếp của lãnh vực nhân quyền. Thực chất đã không có tiến bộ, tệ hại hơn nữa lại còn vi phạm nhân quyền nhiều hơn trong thời gian qua”. Joe Lieberman, Thượng Nghị Sĩ có ảnh hưởng nặng ký của Quốc Hội Mỹ cho biết “Có nhiều vũ khí Việt Nam muốn mua và Mỹ cũng muốn chuyển giao cho họ, nhưng điều này chưa thể xảy ra được, trừ khi chính quyền Việt Nam chứng tỏ họ tôn trọng nhân quyền”.

    Đó là thời điểm năm 2012, hai năm sau thì Hà Nội vuốt mặt, bắt đầu gạch tên các nhà Dân chủ đang bị giam để thay vào đó là đổi chác, mua bán danh sách các vũ khí sát thương. Việc đổi chác này, dù mục tiêu có khác, nhưng cũng giống như sự lập lại của thời ông TT George Bush khi cố lôi kéo Hà Nội vào quỹ đạo Hoa Thịnh Đốn bằng cách ủng hộ CSVN vô Tổ Chức Thương Mại Thế Giới (WTO) năm 2006. Hà Nội đã giả vờ cải cách hàng loạt về nhân quyền, về tự do tôn giáo; sau đó, Hà Nội đã lật lọng trở tay đàn áp khi đã đạt mục tiêu vào WTO.

    CSVN cũng rất cần Hoa Kỳ thuận thảo để Hà Nội có thể vào được Hiệp Định Thương Mại Thái Bình Dương (Tran-Pacific Partnership) vì nó là cái phao để cứu vãn nền kinh tế đang bị giẫy chết. Tuy nhiên, trên nguyên tắc, TPP không ràng buộc nhiều về lãnh vực nhân quyền. Để vào được TPP, Hoa Kỳ buộc Hà Nội phải thực hiện các bước cải tổ kinh tế có tính trong sáng, trong đó tôn trọng các quyền của công nhân, không bóc lột lao động và nhất là phải công nhận quyền thành lập công đoàn độc lập, không nằm trong hệ thống của CSVN. Điều này, thì Hà Nội rất khó thực hiện.

    Ông Nguyễn Đình Lương, trưởng đoàn đàm phán Hiệp Định Thương Mại cho biết, ba vấn đề khi tham gia TPP, thứ nhất là quyền lập hội của người lao động, thứ hai cạnh tranh bình đẳng giữa doanh nghiệp quốc doanh với các thành phần kinh tế khác cũng như sự bình đẳng trong cách khai dụng các nguồn lực, tài nguyên, vốn và thị trường; và thứ ba là vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

    Vì vậy, các động thái thả tù, bôi mặt để tỏ vẻ tôn trọng nhân quyền không phải là yếu tố cốt lõi để buộc Hà Nội phải làm nếu muốn vào TPP. Do đó, có thể đánh giá hành động thả tù của Hà Nội chỉ nằm trong dự phóng “gạch tên danh sách tù nhân” để được chuẩn y trong danh sách muốn mua “vũ khí quân sự’. Dĩ nhiên, ai thả, ai chưa, và ai sẽ nằm trong dự phóng bắt tiếp, vẫn còn tuỳ vào tình hình đổi chác và tính toán lợi hại của CSVN. Dù sao, nhờ vậy, thì chính quyền Obama mới có thể thuyết phục Quốc Hội Hoa Kỳ chuẩn y và không cản trở, khi Chính phủ Hoa Kỳ đồng ý bán một số hàng vũ khí chiến lược cho chế độ độc tài.

    Tóm lại, mặc dù thay đổi chính quyền, từ Bush sang Obama, chính sách ngoại giao của Mỹ vẫn không thay đổi. Quan niệm chiến lược của bà Tiến sĩ Condoleezza Rice, cựu Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mỹ thời George Bush, trong đó tóm lược các buớc chính sách đối ngoại đối với VN gồm “Ổn định trước nhất để nắm bắt cơ hội và sau đó mới thúc đẩy và khuyến khích nền tự do quốc gia. Chính sách này cần được thực hiện trong quan hệ đa phương và hợp tác song phương” vẫn là kim chỉ nam cho cả Bà Hillary Clinton lẫn ông John Kerry. Nói cách khác, một Việt Nam dân chủ, đa nguyên không phải là mối quan tâm hàng đầu của Mỹ, mà là môt Việt Nam đồng minh của Mỹ, tạo cơ hội để Mỹ tiếp cận, quan hệ và ảnh hưởng trước, rồi từ đó mới nhắm đến các mục tiêu chiến lược khác sau.

    Nhất cử vô số tiện

    Việc thả các tù nhân chính trị sẽ cho Hà nội một số lợi thế. Đối với những người bị trục xuất ra khỏi nuớc sống kiếp lưu vong, Hà nội đạt mục tiêu “điệu hổ ly sơn”. Các nhà dân chủ khi bị bứng ra khỏi cái nôi của mình thì sẽ như cá bị vớt ra khỏi nước, hổ bị xa rừng. Môi trường đấu tranh bị mất thì vị thế đấu tranh củng hỏng. Từ vai trò tiền tuyến trở thành hậu phương, yểm trợ. Mất thế trực diện, không đứng trên mảnh đất quê hương để đấu tranh mà sống lưu vong thì có khác nào cọp bị xa rừng.

    Năm 1989, khi chính quyền quân phiệt Miến đề nghị trả tự do cho bà Aung San Suu Kyi nếu bà đồng ý đi ra nước ngoài. Bà Suu Kyi đã từ chối, và đòi hỏi cho đến khi nào chế độ quân phiệt trở thành chính quyền dân sự và đồng ý thả hết tù nhân chính trị thì bà ra đi. Bà Suu Kyi biết điều này họ sẽ không làm được, và đó là cách từ chối khôn khéo để ở lại trên quê hương của bà. Khi chồng, ông Michael Aris bị chính quyền Miến từ chối chiếu khán vào thăm bà và ông đã chết trong cô đơn ở London năm 1999, bà Suu Kyi cũng gạt nước mắt, cương quyết không rời bỏ xứ sở, vì sợ rằng chế độ quân phiệt sẽ không cho bà cơ hội trở lại quê hương.

    Mặt khác, khi đày ra nước ngoài, Hà Nội cũng sẽ “muợn dao giết người” để làm hỏng uy tín và tư thế của những nhà dân chủ bị lưu vong. Chính buá rìu dư luận, và mạng lưới tình báo vận sẽ mở chiến dịch bôi nhọ, nói xấu và làm hỏng uy tín. Chưa kể đến điều kiện sống và những khó khăn về kinh tế, xã hội, văn hoá ở môi trường lạ sẽ làm thui chột hết khả năng đấu tranh. Từ nhiều năm nay, có biết bao anh chị em đấu tranh dân chủ ở trong nước ra hải ngoại, phần lớn họ đều sống đời an phận thủ thường. Có rất ít những khuôn mặt nổi bật, có uy tín và còn tiếp tục hy sinh cho lý tưởng Dân chủ Việt Nam như Giáo sư Đoàn Viết Hoạt, ông Võ Đại Tôn hay cả nhà thơ quá cố Nguyễn Chí Thiện v.v…, nhưng chính họ cũng đã bị vùi dập, bị lời ong tiếng ve, bị chụp mũ và đau nỗi đau của kẻ sĩ, vì lực bất tòng tâm.

    Thả tù chính trị, Hà nội cũng nhắm vào mục tiêu “biến cáo thành người”, vì tự vẽ mặt chế độ độc tài CSVN mang bản chất nhân bản, được tiếng tôn trọng nhân quyền đối với dư luận quốc tế, đạt được một số mục tiêu chiến lược, nhằm kéo dài tuổi thọ của chế độ độc tài.

    Dù vậy, có thể nhận định là Hà Nội không ở vị trí thượng phong khi phải bôi mặt “thả tù chính trị”. Nó xác định thế cầu cạnh, yếu kém và xuống nước của Hà Nội đối với Mỹ vì các mục tiêu chiến lược. Nó cũng khẳng định bản chất tráo trở và ngoan cố của một chế độ độc tài, đã vô cớ đàn áp chính nhân dân mình chỉ vì họ can đảm lên tiếng một cách ôn hoà. Và sử dụng tù nhân chính trị, đồng bào của mình như một món hàng đổi chác cho các mục tiêu kinh tế, chính trị và quân sự. Điều này, cũng phi nhân tính, tàn bạo và không xứng đáng với tư thế của một chế độ được Cộng Đồng Quốc Tế quan hệ. Nói cách khác, tương lai của chế độ “thiếu nhân tính”, và “tàn bạo” như CSVN sẽ kết thúc và nhập vào dòng các chế độ độc tài bị lật đổ ở các nước Trung Đông như Libang, Ai Cập v.v… có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

    Cuộc chiến còn tiếp diễn

    Cuộc đấu tranh chống chế độ độc tài toàn trị là một cuộc chiến lâu dài. Nó không thành hình một sớm một chiều. Để có được thành quả hôm nay, chúng ta đã đi một quãng đường rất xa. Đây là một cuộc chiến có sự thay đổi theo qui luật, có tiếp nối và sóng sau dồn sóng trước. Khi lớp này mất đi, bị đào thải hay bị cô lập, thì không vì vậy mà phong trào dân chủ sẽ đi vào con đường thất bại, tuyệt vọng.

    Những năm 60 khi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện bước vào tù, hay sau những năm 1975 khi Bs Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Việt Hoạt bị bắt, bị tuyên án tù, các anh đó chắc không tưởng tượng ra được chục năm sau, lại có những người như Bs Phạm Hồng Sơn, Luật sư Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Bắc Truyển, Nguyễn Vũ Bình, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Lê Thị Công Nhân v.v… tiếp nối con đường đấu tranh chông gai, chống độc tài, toàn trị để dũng cảm bước vào tù. Cũng vậy, những anh chị em này khi trả những bản án tù man rợ, họ cũng không biết là sau họ, lại có những thế hệ khác đã và đang tiếp nối. Những Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Quốc Quân, Đoàn Huy Chương, Nguyễn Xuân Nghĩa, Phạm Thanh Nghiên, Vi Đức Hồi khi viết lên những bản án cho chính mình, thì cũng là lúc những Việt Khang, Đỗ Thị Minh Hạnh, Đinh Đăng Định, Tạ Phong Tần, Đinh Nguyên Kha, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng v.v… nhập cuộc. Đó chỉ là bề nổi của một tảng băng trong cuộc đấu tranh chống độc tài toàn trị. Hiện nay, phong trào dân chủ, vẫn còn có rất nhiều chiến sĩ dân chủ khác, đã và đang đấu tranh trên nhiều mặt trận, công khai lẫn bí mật.

    Qui luật cho thấy, chúng ta sẽ mất đi một số tiếng nói dân chủ vì áp lực của chế độ, chúng ta cũng sẽ có một số người bỏ cuộc vì không chịu nổi sức ép của guồng máy an ninh. Cũng vậy, sẽ có người rút lui và cũng có người nhập cuộc. Dòng sinh mệnh và sức sống của Dân tộc sẽ đi tới, cho dù có bị các thế lực ngoại bang, tay sai vong bản tìm cách kéo lùi. Cuộc đấu tranh chống lại chế độ toàn trị, độc tài CSVN là một cuộc chiến tự nguyện, mỗi người là một chiến sĩ trên mọi mặt trận. Và đã là chiến sĩ tự nguyện, thì cũng đừng kỳ vọng người khác phải làm anh hùng cho mình, phải hy sinh cho mình và phải mẫu mực cho mình. Họ đã đóng góp trong một chừng mực, đã đánh đổi tương lai, sự nghiệp và đã cất tiếng nói dũng cảm. Họ đã hy sinh trong một giai đoạn, đã làm viên đá lót đường cho thế hệ tương lai tiếp nối, và đó chính là hướng thiện mà chúng ta cần trân trọng.

    Đừng sợ chúng ta sẽ thiếu nhân tố dân chủ cho dù CSVN có tìm mọi cách tống xuất hay cô lập hoá anh chị em dân chủ. Thời gian đã minh chứng, dù bị đày ải để sống lưu vong hay dùng nhà tù để trừng trị, dập tắt khát vọng dân chủ thì chế độ độc tài, toàn trị cũng đã hoàn toàn thất bại. 

    Hãy cứ can đảm đốt đuốc mà đi, thì trong chính các bạn, sẽ là những hy vọng và mẫu mực.

    Đỗ Thành Công


    Cong Do facebook


    Đối đầu bất bạo động



    Những vị Thánh tiên phong

    Thánh Gandhi được coi như hình ảnh tiêu biểu của đấu tranh bằng phương thức bất bạo động. Sinh ở Ấn, du học tại Anh Quốc và trở thành lãnh đạo đấu tranh cho nền độc lập dân tộc. Chủ trương triệt để đấu tranh bất bạo động, Gandhi nổi tiếng với câu nói “Nếu cứ trả thù theo cách mắt đổi mắt thì cả thế giới này rồi ai cũng bị mù”.

    Riêng Mục sư Martin Luther King, Jr. người Mỹ gốc Phi châu đã dành trọn cuộc đời đấu tranh chống chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc. Cả hai ông, Thánh Gandhi và Mục sư Luther King đều chủ trương đối đầu bất bạo động.

    Bất bạo động, khởi thủy từ phương thức đấu tranh của người Quakers, sau đó được áp dụng tại Ấn, Mỹ thông qua các phong trào biểu tình đòi độc lập, đòi các quyền dân sự, phong trào chống chiến tranh Việt Nam. Trong khi Thánh Gandhi chủ trương tiến hành đối đầu bất bạo động thể hiện qua “tình yêu thương và lòng khát khao tìm kiếm sự thực”, Mục sư Luther King, Jr. kêu gọi một sự “dũng cảm ở trí tuệ nhưng mang trái tim nhân bản”.

    Cuộc cách mạng ở Ba Lan do Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan khởi xướng năm 1980-1981 và Cách Mạng Nhung Tiệp Khắc năm 1989 là những thí dụ điển hình của đối đầu bất bạo động. Một cuộc đối đầu mang ý nghĩa làm thay đổi cả một chế độ toàn trị.

    Đối đầu bất bạo động gồm hàng loạt chuỗi đấu tranh bằng hình thức vận động Nhân dân đồng loạt xuống đường thể hiện ý chí phản đối, không tuân lệnh, không cộng tác và bất chấp các định chế của chế độ đương quyền. Đây là phương thức khai dụng quyền lực của Nhân dân để đạt những mục tiêu bằng các hoạt động phản kháng ôn hoà.

    Bất bạo động đối đầu Bạo động

    Trở ngại chính của đối đầu bạo lực là điều này đặt hai phía chỉ chú tâm vào mục tiêu phải đạt được chiến thắng, phải tìm cách trả thù hoặc tự vệ. Trong những tình huống này, trọng tâm của cuộc tranh luận nhằm giải quyết đối với những vấn nạn đã bị bỏ quên. Vấn đề chỉ còn lại mang tính cấp bách là một bên dùng vũ lực để đàn áp và bên kia đối đầu lại cũng bằng vũ lực để tự vệ chính đáng. Trong bối cảnh đó, vấn đề thảo luận song phương nhằm tìm cách đối thoại, giải quyết đã bị bế tắc khi một bên chủ động tiến hành bạo lực.

    Chiến lược đối đầu bất bạo động như Thánh Gandhi và Mục sư Martin Luther King, những người tiên phong trong kỷ thuật này, đã từng tìm mọi cách tránh dẫn đến tình trạng bị đặt vào thế phải đối đầu bạo động. Đấu tranh bất bạo động, hoàn toàn trái ngược với cách nhìn coi đó như biểu hiện của sự hèn nhát. Chiến lược đối đầu bất bạo động đòi hỏi sự dũng lược, tự chế cũng như tinh thần xã thân, chấp nhận bị đàn áp, chịu đựng đau đớn về thể xác và thậm chỉ cả cái chết. Sức mạnh của chiến lược đối đầu bất bạo động tiềm ẩn ở chính tinh thần chủ đạo “làm hỏng tính chính nghĩa và đạo đức của chế độ toàn trị, khi chủ trương bạo động để đối phó với tinh thần bất bạo động”.

    Một khi tính chính thống bị đánh mất, ảnh hưởng dây chuyền kéo theo sự sụp đổ về mặt tinh thần, đồng thời còn bị phỉ nhổ và chia rẽ từ chính bộ phận đàn áp và bị áp lực lên án, tẩy chay từ cộng đồng quốc tế. Về ý nghĩa chiến lược, đối đầu bất bạo động là dùng sức mạnh của chính tinh thần bất bạo động, chống lại yếu tính bạo động dựa vào khả năng tự huỷ và tự tác động nội bộ của phía đàn áp.

    Nhiều kỷ thuật đối đầu bất bạo động đã được áp dụng hiệu quả nhằm chống lại chế độ toàn trị, bất hợp pháp, sử dụng bạo lực tùy tiện và vi hiến để đàn áp.

    Để có được yếu tố thành công, quan trọng nhất là thái độ dũng cảm, sẵn sàng hy sinh của những người trong cuộc, tin tưởng sắt đá vào các nguyên tắc đấu tranh chính nghĩa và chiến lược thông tin toàn cầu nhằm phổ biến bản chất vô đạo và thú tính khủng bố, bạo động của những kẻ cầm quyền. Không thể kỳ vọng vào lòng phẫn nộ của đám đông khi họ không tận mắt chứng kiến cảnh sử dụng bạo lực. Vì vậy, nguyên tắc dẫn đến thành công trong mục tiêu là phải quảng bá tin tức phổ quát, sâu rộng và toàn cầu. Nó nằm ở chổ biết tận dụng những nhân chứng sống có mặt tại hiện trường và kỷ xảo của nghệ thuật thông tin. Kỷ thuật chuyển và nhận tin một cách hiệu qủa phải được đo lường bằng sự hiện diện và nhập cuộc của các phương tiện thông tin đại chúng qua báo chí, hệ thống truyền hình, đài và mạng lưới toàn cầu.

    Có hàng trăm phương cách đối đầu bất bạo động. Mỗi cách có ưu và khuyết điểm riêng. Ông Gene Sharp, một nhà nghiên cứu hàng đầu về lãnh vực này đã tổng kết 198 hình thức đấu tranh bất bạo động, trong đó ông chia ra làm 3 lãnh vực tiêu biểu, từ nhẹ tới mạnh: Đối đầu bất bạo động bằng biểu tình và thuyết phục – Đối đầu bất bạo động bằng bất hợp tác – Đối đầu bất bạo động bằng trực tiếp phản ứng.

    Phương thức biểu tình, thuyết phục ôn hoà bao gồm các hành động như xuống đường, diễn hành, cầu nguyện, gồm tất cả những hành động phản kháng ôn hoà nhằm phản đối một điều luật vô lý, hay chính sách bất công. Mục tiêu thuyết phục phía chánh quyền thay đổi các dự luật, các chính sách nhằm phục vụ ý nguyện của đám đông.

    Trong khi đó, phương thức mạnh hơn, đối đầu bất bạo động không cộng tác bao gồm từ chối tham dự những hoạt động bình thường diễn ra chung quanh đối với cá nhân, nhóm, tập thể, cở sở dân sự, công xưởng hay chính quyền đang là trọng tâm của cuộc đối đầu. Nhân dân từ chối trả tiền thuế vì không đồng tình với chính sách sử dụng tiền thuế của dân vào mục tiêu bất xứng, đình công, lãn công, từ chối làm việc hay tổ chức làm việc cầm chừng để bày tỏ thái độ không đồng tình trong môi trường làm việc nơi hãng xưởng, văn phòng nhà nước. Thậm chí có thể không tuân luật nếu nhân dân tin rằng luật này không công bằng, vi hiến và vi phạm đạo đức. Các hình thức đối kháng này liên hệ nhiều vào các lãnh vực xã hội, chính trị hay kinh tế, tất cả tuỳ thuộc vào điều kiện và đối tượng đang đối đầu.

    Phương thức đối đầu bất bạo động mạnh nhất là tích cực can thiệp, nhằm làm ảnh hưởng đến diễn tiến đối đầu từ phiá nhà nước. Thí dụ, các cuộc biểu tình ngồi trong cơ xưởng, văn phòng nhà nước, chận đoàn xe lửa, xe vận chuyển, tàu v.v… nhằm ngăn chận tiến trình vận hành của cơ chế đối đầu. Và quan trọng không kém mà Sharp đã nhấn mạnh, đó là phương cách “đối đầu can thiệp qua tác động tâm lý” bằng cách tuyệt thực cá nhân hoặc tập thể để gây tác động tâm lý.

    Những hình thức trên, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện mà áp dụng đều tạo ra những tác động cụ thể. Bởi vì chính nó đã làm yếu đi tính hợp pháp và quyền lực của nhà nước. Sharp viết “Tự chính việc đối đầu bất bạo động đặt kẻ cầm quyền vào vị trí bị thử thách quyền lực của chính họ, làm yếu đi sức mạnh của bạo lực đồng thời tăng sức mạnh cho những kẻ đối đầu bất bạo động”.

    Những chiến lược cần thiết cho cuộc biểu tình ôn hoà:

    Cần hiểu, mục tiêu của các cuộc biểu tình chỉ nhằm tạo điều kiện cho sự thương thảo kín đáo giữa hai bên. Nơi đây không phải để soạn thảo các văn bản, thoả ước. Biểu tình chỉ là phương tiện để đạt được các mục tiêu khác, không phải là cứu cánh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp mục tiêu của những cuộc biểu tình không rỏ ràng, vì vậy điều khẩn thiết nhất đối với những người tổ chức, lãnh đạo là phải biết mình muốn gì. Nhiều khi có nhiều mục tiêu và mục tiêu bị biến đổi trong quá trình biểu tình. Nhiều thành viên trong đám đông có thể có những mục tiêu khác biệt, không giống mục tiêu nguyên thuỷ của đoàn biểu tình.

    Biểu tình có thể gồm ba hình thức riêng biệt: Hình thức chuyển gửi thông điệp đến quần chúng, trong đó biểu tình để tận dụng phương tiện truyền thông. Mục tiêu này thường bao hàm ý nghĩa “nếu đám đông cùng biết thì mục tiêu của tôi có thể sẽ đạt được”, kế đến là “nếu đám đông được giải thích cặn kẻ về mục tiêu đấu tranh và hiểu được bản chất sai lạc của vấn đề, họ sẽ thay đổi quan điểm của họ”. Nằm trong hướng như vậy, cuộc xuống đường biểu tình để đạt được cả hai ý nghĩa trên nhằm tác động vào đám đông.

    Thứ hai, dự phóng một cuộc đối đầu. Vì tự bản thân của ý nghĩa hình thức biểu tình này là “chúng tôi muốn nhà cầm quyền phải biết vì những sai lầm họ đã tạo ra cho chúng tôi”. Chúng tôi muốn có một cuộc đối đầu “mặt đối mặt” với đại diện của phía chánh quyền.

    Hình thức sau cùng, biểu tình có thể diễn đến tình trạng biểu tỏ sự “bức xúc” cao độ. Người biểu tình ở trạng thái tâm lý kích động và có nhu cầu cần bày tỏ nguyện vọng, thể hiện nỗi tức giận đã từng chịu đựng. Đây là giai đoạn người biểu tình sẽ biểu tỏ thái độ vì họ cần hành động cụ thể.

    Nếu bạn là người trong cuộc, bạn cần tự hỏi chính bạn. “Đây có phải là phương tiện hữu hiệu nhất để đạt được mục tiêu của mình không?” Bạn cũng cần đặt lại vấn đề “Đây có phải là điều tôi quyết tâm theo đuổi không?” Và “Liệu cuộc biểu tình này có tác động để đạt được mục tiêu lâu dài không?”.

    Là người tổ chức, bạn cần phải tự đặt mình vào vị trí này để lượng định phương cách và mục tiêu đấu tranh. Nếu bạn chỉ cần muốn đám đông nắm thông tin để đồng tình với mục tiêu đấu tranh của bạn, thì bạn phải hết sức tránh phương thức đối đầu. Mục tiêu của bạn là : Một cuộc biểu tình ôn hoà, trật tự và có tổ chức. Nằm trong dự phóng này, những khẩu hiệu, biểu ngữ đẹp, gọn và ăn mặc lịch sự sẽ làm cho cuộc biểu tình được cảm tình ban đầu của quần chúng. Phải lượng định rằng các hình ảnh của đoàn biểu tình sẽ lan truyền ra ngoài, chuyển gửi qua mạng toàn cầu đến tất cả những đối tượng quan tâm.

    Nếu phải tổ chức một cuộc biểu tình ở dạng đối đầu. Mục tiêu là nói thẳng vào mặt của những kẻ đàn áp. Bạn muốn cho đối tượng biết là bạn đã phẩn nộ đến cùng cực rồi và bạn sẽ không chiụ luồn cúi mãi nữa. Phải có hướng giải quyết chứ không thể kéo dài tình trạng nửa vời.

    Sau cùng thì hình thức bày tỏ sự “bức xúc” được thể hiện qua nhiều hình thức. Đoàn biểu tình có thể tự xích họ lại, có thể làm những điều ngoạn mục trên đường phố. Bạn không cần phải đạt mục tiêu, điều bạn muốn trong cuộc biểu tình là một chổ công cộng để đoàn biểu tình xả những phẩn nộ.

    Để tác động hiệu quả, một cuộc biểu tình cần có những bài hát và lời kêu gọi, nó cũng cần những câu chuyện tình tiết và luôn cả huyền thoại. Những yếu tố này gây ảnh hưởng tốt lên đoàn biểu tình. Hãy cứ tưởng tượng cuộc biểu tình như những kinh nghiệm bạn cảm nhận trong các thánh lễ mang hình thức tôn giáo. Ở đó có những bài thánh ca, những lời giảng tôn giáo huyền bí. Khi đám đông bắt đầu bằng những bài hát có tính tập thể, họ dễ hoà lại với nhau, tình liên đới nảy sinh.

    Một điều nữa cũng cần đề cập đến là những công an, mật vụ, những kẻ trực tiếp đàn áp và là “kẻ thù” của đám đông. Kinh nghiệm cho thấy là nhiều khi phải thay đổi mục tiêu lâu dài của cuộc đối đầu, chuyển qua đối tượng trước mặt, những kẻ đang đàn áp đám đông và đặt họ vào vị thế “kẻ thù”. Điều này chỉ có tính giai đoạn nhưng đôi khi cũng có tác dụng tích cực.

    Cần phải mang bộ mặt nhân bản vì đám đông đang đối diện với hình ảnh xấu của những kẻ đàn áp. Các cuộc biểu tình thường xây dựng trên khái niệm bạn – thù, ác – thiện. Vì vậy, rất dễ để đi từ thái cực đấu tranh ôn hoà, bất bạo động chuyền sang bạo động khi hai bên trong tình trạng đối đầu. Những đột biến không kiểm soát có thể xảy ra không lường được. Một chai bom xăng, một tiếng súng nổ v.v…có thể tạo thành biến động lớn rất dễ dàng. Vì vậy, khi tổ chức một cuộc biểu tình, ban tổ chức, những người giữ vai trò lãnh đạo cần phải đặt ra mục tiêu, phương thức và sách lược cho đoàn biểu tình.

    Những nguyên tắc căn bản trong cuộc biểu tình bất bạo động:

    Theo Peter Ackerman and Christopher Kruegler nhận định trong tiểu luận – Những nguyên tắc của đấu tranh bất bạo động – Có mười hai nguyên tắc căn bản cần đặt trọng tâm khi tổ chức một cuộc biểu tình bất bạo động.

    Đầu tiên, cần có một mục tiêu rõ ràng. Mục tiêu này phải xác định có thể đạt được trong một giai đoạn nhất định bằng phương cách không bạo động. Mục tiêu cần được đồng thuận từ cả nhóm, phản ánh quan niệm chung và có sự ủng hộ rộng rãi và nếu được sự đồng tình từ bên ngoài thì càng hữu ích hơn nữa.

    Thứ hai, phải nắm được điểm mạnh và yếu của đoàn biểu tình, của từng phân nhóm về lãnh vực điều hành, lãnh đạo và tầm nhìn chung của đám đông. Để nắm được thắng lợi, một cuộc biểu tình đối đầu ôn hoà cần biết cách khai dụng lực lượng của nhóm, biết cách che đậy lực lượng của mình, biết phân tán nhân sự và biết tập hợp khi cần. Những người lãnh đạo phải có khả năng quyết định khi khẩn cấp, có khả năng vận dụng sự yểm trợ và ứng dụng hữu hiệu các quyết định.

    Thứ ba, phải tính trước khả năng kiểm soát phương tiện. Phải dự trữ thuốc men, thực phẩm, nước uống và những nguồn vật liệu quan trọng khác để giữ khí thế của đoàn biểu tình. Phải có sẵn trong tay các phương tiện thông tin, liên lạc như máy photocopy, máy fax, máy chụp hình, điện thoại, điện toán, điện thư, face book, twitter v.v…

    Thư tư, cần nuôi dưỡng các nguồn yểm trợ từ ngoài. Những trợ lực, thông cản của quần chúng đối với đoàn biểu tình rất cần thiết để có thể đạt được ba mục tiêu ban đầu. Nếu cần, phải dự tính cả kế hoạch chặn nguồn yểm trợ từ phiá đàn áp đoàn biểu tình.

    Thứ năm, tính đến kế hoạch phát triển đoàn biểu tình. Linh động và thích ứng rất cần thiết để thành công. Khi quyết định một hình thức biểu tình, lãnh đạo đoàn cần dự phóng là hình thức này có thể mang lại thành tựu không? những sự chuẩn bị nào cần thiết và những yếu tố nào có thể mang đến bất lợi. Cần tính đến khả năng phải hành động để vừa làm tăng cường sức mạnh của đoàn biểu tình và làm suy yếu phía đối tác.

    Thứ sáu, vạch ra các nguyên tắc ứng phó khi đối đầu. Cần chủ động có kế hoạch để làm suy yếu phiá đối phương về khả năng kiểm soát của họ. Càng làm cho đối phương khó khăn, thì càng tạo điều kiện dễ dàng hơn cho đoàn biểu tình.

    Thứ bảy, cần tránh đối đầu nhằm đẩy phía chánh quyền sử dụng bạo lực để đàn áp. Khi trở thành đối tượng bị đàn áp, tác động này làm suy yếu đám đông và kích thích bản năng bạo động từ phiá đoàn biểu tình. Nếu được, cần vượt ra khỏi tình trạng bị nguy hiểm, cần làm giãm khả năng đàn áp từ phía chánh quyền. Nếu bạo động, cần chuẩn bị tâm lý để giải quyết các hệ lụy xảy ra cho những nạn nhân và cả gia đình của họ.

    Thứ tám, khai dụng thái độ đàn áp, khủng bố của chính quyền để làm cho kẻ đàn áp bị tảy chay, xa lánh và khinh miệt. Công bố và làm rộng các âm mưu, kế hoạch đàn áp, vạch trần bản chất bạo động chống lại tinh thần bất bạo động của đoàn biểu tình.

    Nguyên tắc thứ chín là tập trung vào việc tự kiểm soát tình trạng đấu tranh bất bạo động. Khi thể hiện đối đầu bằng hành động bất bạo động, điều này không chỉ làm cho phiá đối tác bị mất đi chính nghĩa mà còn tạo cho đoàn biểu tình tư cách hợp pháp, chính thống, được cãm tình và nâng sức mạnh. Nếu vì bất cứ lý do gì, đoàn biểu tình rơi vào tình trạng bạo động, chính họ đã làm hỏng uy tín và tạo điều kiện thuận lợi cho những kẻ đàn áp lý do để sử dụng bạo lực. Càng giữ được kỷ luật đối đầu không bạo động, càng tăng thêm sức mạnh chịu đựng nhằm áp lực ngược lên phía chính quyền.

    Điều thứ mười, chú tâm vào việc tìm hiểu bản chất của sự đối đầu. Cần rà xét lại 5 nguyên tắc của cuộc biểu tình gồm: mục tiêu, điều hành, chiến lược, chiến thuật và tiếp vận. Trong khi không sao lãng bản chất của cuộc biểu tình là đối đầu bất bạo động, cần dự phóng các tình huống bất thường xảy ra trong các cuộc biểu tình.

    Thứ mười một, đối đầu bất bạo động phải bao gồm “điều chỉnh chiến lược công và phòng thủ hữu hiệu nhằm ứng phó từng giai đoạn liên hệ đến phía chính quyền”. Tấn công sẽ làm yếu khả năng đàn áp từ phía đối tác, ngược lại những hành động phòng thủ sẽ làm cho đoàn biểu tình đủ sức chống trả khi cần.

    Sau cùng, điều thứ mười hai, các nhà lãnh đạo cần nắm vững nguyên tắc là đối đầu bất bạo động không những là mục tiêu của đoàn biểu tình mà còn phải làm cho phía đàn áp chấp nhận nguyên tắc này thành mục tiêu của họ.

    Trong tình huống bất ngờ, phiá chánh quyền có thể nhượng bộ. Họ có thể đồng tình với mục tiêu của đoàn biểu tình. Họ có thể chấp nhận các đòi hỏi của đoàn biểu tình. Họ có thể không tiếp tục nổi thái độ đàn áp và đi theo đoàn biểu tình. Họ cũng có thể không còn hiện hữu nữa để chống lại những yêu sách chính đáng của đoàn biểu tình.

    Đỗ Thành Công
    —————————————–
    Tài liệu tham khảo và chuyển dịch:
    - Non-Violent Struggle: University of Colorado, USA
    - Conflic Research Consortium: – Constructive Demonstration Strategies and The Principles of Strategic Nonviolent Conflict

    Anh Tạ Lỗi Với Những Người Đã Chết



    còn vòng lên đao phủ thủ
    khi tội nhân
    đồng nghĩa với anh hùng
    và trâu bò
    được phong thánh lên ngôi
    thì tổ quốc
    còn lắm điều vất vả

    Em đừng hỏi
    vì sao mình nhục nhã
    sao quê nghèo
    lũ lụt quanh năm
    sao em phải đi
    bán tấm thân vàng
    mà mù chữ
    lên làm chủ tịch

    Khi thần tượng
    còn đang vẽ mặt
    đất nước mình
    ăn sắn thay cơm
    hơn 60 năm tự hào
    với những hão huyền
    nên ra ngõ anh hùng

    thành anh bán nước


    Cong Do facebook
    https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1455032201376349&set=t.100003127921641&type=3&theater