Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến - Đảng và đảng tính

"Những kẻ bị “chết lòng tử tế” ở đất nước này phần lớn (chắc chắn) đều không phải... nhân dân. Bởi vậy, khi xếp “thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125)” thì tưởng cũng cần phải nói thêm cho rõ là những con số này chỉ “thể hiện” sự tiểu tâm, ti tiện, bạc ác, và đểu cáng của đám côn đồ đang “lãnh đạo” ở xứ sở này chứ không liên quan dính dáng gì nhiều đến những lương dân đất Việt. Người Việt chỉ chịu một phần trách nhiệm (e cũng không nhỏ lắm) khi cam chịu để cho “bọn đầu trâu mặt ngựa” hoành hành trên quê hương và đất nước của mình mà không có được một sự phản kháng nào đáng kể, hay đáng nể..."

*

“Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần phải có tính đảng mới làm được việc. Kém tính đảng, thì việc gì cũng không làm nên.” - Hồ Chí Minh


“Đất nước đã mắc phải một giống vi trùng có tên gọi tính đảng nó kháng lại mọi yêu cầu tử tế của con người.” - Trần Đĩnh



Từ Vọng Các, Mặc Lâm bay tuốt luốt qua Nam Vang rủ nhậu: 


- Ê, kiếm chỗ nào ngồi uống sương sương vài ly cho nó có chút hương vị đầu Xuân nha.


- Tưởng gì chớ uống thì bất kể Xuân, Hạ, Thu, Đông... gì tui cũng chịu liền.

Mặc Lâm đi cùng với Sơn Trung, thông tín viên mới nhất (và chắc cũng nhỏ tuổi nhất) của RFA đang cư trú tại Phnom Penh. 

Tôi rất hài lòng với người bạn trẻ vừa quen: nhanh nhẹn, thông minh, và (xem chừng) đôn hậu. Ghé quán Ngon Restaurant, chúng tôi gọi “liều” một chai Johnnie Walker Black Label. Thấy cái giá 40 MK mà gần muốn “đứt ruột” luôn nhưng rồi đành tặc lưỡi: “Thôi chả gì thì cũng mừng tân niên, mỗi năm chỉ có mật lần, và cũng là dịp mừng một tân đồng nghiệp.”

Đêm giao thừa vừa rồi, nằm chèo queo mình ên ở nhà trọ buồn gần chết tôi bèn lò dò ra phố, đang đi lơ ngơ thì chợt thấy một chai Ballatine’s bám bụi đứng co ro trong góc một quầy hàng. Ngó “thương” quá mà giá cả cũng nhẹ nhàng thôi (nên) nên tôi “ẵm” liền, sợ chậm. Vừa về tới nhà là lật đật vặn nắp tu liền: rượu giả! Đ... mẹ, cái con bà nó. Khi khổng khi không (cái) mất tiêu 15 U.S.A dollar, lảng xẹc!

Bữa nay thì rượu thiệt (và vì “vật vã” đã lâu) nên tôi tợp liền liền. Vừa cạn ly đầy, lại đầy ly cạn. Rượu ngon, bạn hiền nhưng chỉ có mình ên tui là vô cùng hào hứng còn Mặc Lâm – không hiểu sao – bỗng ưu tư quá cỡ về chuyện nhân quần và cứ nói hoài cái cuộc phỏng vấn mới rồi (“Chuyện Tử Tế Ngày Nay”) với đạo diễn Trần Văn Thủy, cùng rất nhiều buồn bực về tình trạng “đạo đức xuống cấp, văn hoá xuy đồi của” của cả nước Việt Nam.

Tôi sốt ruột (“biết rồi khổ quá”) ngắt ngang:

- Tôi có nghe hai ông “mạn đàm” trên RFA rồi. Hay lắm. Người hỏi đã hay mà kẻ đáp còn hay hơn nữa nhưng chuyện này toàn thể đồng bào, cũng như toàn thể nhân loại, cũng đều đang rất quan tâm nên xin cứ an lòng mà... uống vài ly đi đã. Để lâu rượu bốc hơi, nhạt mùi, tội chết.

Nói đến vậy mà đương sự (ngó bộ) vẫn còn băn khoăn lắm nên tôi lại phải thêm:

- Bữa trước, G.S. Nguyễn Văn Tuấn còn bàn về “thứ hạng tử tế” của Việt Nam nữa kìa.
- Có cái vụ đó nữa sao?
- Sao không, coi nè. 

Vừa nói, tôi vừa mở smartphone – mới sắm hồi hôm, cho kịp với trình độ văn minh nhân loại – kiếm tuan's blog chìa liền:

Tính chung, thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125). Điều đáng nói hay cũng có thể xem là nhục là thứ hạng tử tế của VN chỉ đứng chung bảng với mấy nước “đầu trâu mặt ngựa” như Lybia, Iraq, Zimbabwe, Yemen...

Sự bủn xỉn của VN thể hiện rõ nhất qua đóng góp vào quĩ dành cho nạn nhân sóng thần ở Nhật vào năm 2011. Trong đợt đó, Chính phủ VN đóng góp 200,000 USD. Chỉ hai trăm ngàn USD! Chúng ta có thể lí giải rằng VN còn nghèo nên đóng góp như thế là hợp lí. Nhưng lí giải đó có lẽ không thuyết phục. Thái Lan đã giúp nạn nhân sóng thần Nhật 65 triệu USD và 15 ngàn tấn gạo. So với tỉ trọng GDP, đóng góp của Thái Lan hơn VN 100 lần. Chúng ta có thể nào tự hào với mức độ đóng góp chỉ có thể mô tả bằng hai chữ "bủn xỉn" đó?

Ngược lại, VN đã và đang là một gánh nặng cho thế giới. Sau 1975, hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi và các nước phương Tây đã cung cấp nơi định cư (nhưng VN thì chẳng nhận người tị nạn từ Duy Ngô Nhĩ). VN cũng là nước chuyên xin xỏ: suốt năm này sang năm khác, quan chức VN ngửa tay xin viện trợ từ rất nhiều nước trên thế giới. Xin nhiều đến nỗi có quan chức nước ngoài phàn nàn nói "Sao chúng mày nói là chúng mày rất thông minh và cần cù mà cứ đi xin hoài vậy. Dân xứ tao phải làm lụng vất vã mới có tiền cho chúng mày". Thật là nhục...

Nói nào ngay, bị xỉ vả cỡ đó, cũng chưa “nhục” gì cho lắm. Nhà văn Trần Đĩnhcòn trích lời của một thằng cha tham tán thương mại Ba Lan (nào đó) nghe nhục nhã hơn nhiều:

“Với chúng mày tốt nhất là đưa chúng mày ra một hòn đảo hẻo lánh giữa Thái Bình Dương rồi thế giới góp tiền nuôi và mọi người nhờ thế mà được yên ổn.”

Bị thiên hạ liệt vào hạng “đầu trâu mặt ngựa” nên họ muốn xua đuổi ra tuốt “một hòn đảo hẻo lánh” (cứ như bệnh nhân cùi hủi hồi xa xưa vậy) thì cũng không oan uổng gì cho lắm nhưng ăn ở cư xử ra sao mà tai tiếng dữ vậy cà? Muốn biết, xin nghe qua vài câu chuyện (nhỏ) liên quan đến cuộc sống của giới quan chức lãnh đạo nước CHXHCNVN – vẫn theo lời Trần Đĩnh:

- “Trường Chinh chết, Hồng Ngọc, vợ Hoàng Minh Chính và Hà, con gái cả đến nhà chia buồn. Hai mẹ con về, Đặng Xuân Kỳ tiễn. Kỳ vừa đi qua sân sỏi vừa nói: ông cụ tôi ngoài không dám ăn uống bất cứ thứ gì. Họp Bộ chính trị với Trung ương cũng uống nước của nhà mang theo và nếu không về nhà ăn trưa được thì ông cụ nhịn.” (Trần Đĩnh. Đèn Cù, tập II. Người Việt, Westminster, CA: 2014). 

- “Khi Long đã mệt, tôi đến thế nào anh cũng bắt tôi đưa anh đi dạo một vòng phố. Từng bước nhích rất chậm, kiểu như đi dè cho được ngâm mình lâu trên đường.

Một bữa đến đầu Dã Tượng ra Lý Thường Kiệt, anh nhìn vào tòa biệt thự bên trái mà có lần anh bảo ông Đồng có người quen, thân thiết ở đây, rồi nói khẽ với tôi: Tôi đến ông Đồng, ông ấy thường kéo tôi ra vườn nói chuyện. Nghe nói mũ của trung uý Dương con ông ấy cũng bị gài rệp nghe trộm ở ngôi sao đằng trước mũ.

Tôi sững nhìn Long. Long biết thì ông Đồng tất biết! Sao biết mà cam nhẫn chịu cho đồng chí của mình dò la, nghe trộm mình? Ôi, các lãnh tụ của phong trào giải phóng đất nước và loài người mà không phá nổi vòng kiểm soát của đồng chí. Bữa ấy tôi hiểu cả tại sao Võ Nguyên Giáp chịu đắng cay tủi hổ như thế mà im! Các vị tại sao tự nguyện phục tùng tội ác?” (S.đ.d. trang 194).

Coi: ông Tổng Bí Thư chỉ ăn uống ở nhà vì sợ các đồng chí của mình đầu độc, còn ông Thủ Tướng thì chỉ dám nói năng ở ngoài vườn vì sợ bị “dò la, nghe trộm.” Vậy mà hai vị vẫn thừa “liêm sỉ” và “kiên nhẫn” để “lãnh đạo” toàn dân cho gần đến hơi thở cuối cùng.

Thiệt là đã đời luôn!

Giữa “các anh ở trên” với nhau mà còn xử sự tàn tệ và đốn mạt tới cỡ đó thì đám dân lành, tất nhiên, đều bị hành cho tới bến:

“Thí dụ sáu bao diêm (bị móc vơi mất gần nửa vì gian giảo là thuộc tính trời sinh của thứ kinh tế tạo ra bằng những kẻ đói ăn, thiếu mặc nên quay sang tháu trộm lại của Nhà nước).

Thí dụ mạt cưa và củi mua về đốt lò nấu cơm thì ướt dề dề vì nhà mậu rẩy nước vào cho nặng cân. 

Thí dụ nước mắm pha nước lã, đậu phụ trộn thạch cao. Nhà nước độc quyền mọi sản vật, nhất là lương thực... 

Con người cũng sẽ giống như bao diêm trăm que chỉ cháy một que, sống điêu, sống gian, sống vờ, sống giả.” (S.đ.d. 225 – 226).

Buộc phải “sống điêu, sống gian, sống vờ, sống giả” qua vài ba thế hệ thì trách sao mà người dân không bớt dần tấm lòng tử tế:

“Một cái gì đó đã phá vỡ lòng tin của con người rằng xã hội luôn luôn cố gắng đem lại sự tốt đẹp cho mình, và chính mình phải có bổn phận phải gìn giữ các công trình xã hội để mình và mọi người cùng hưởng. Người ta thẳng tay cắt dây điện để bán lấy chút tiền, có thể đốt hết một kho hàng hoá để phi tang cho một vật ăn cắp không đáng là bao… con người đối xử với xã hội thô bạo như vậy chỉ vì xã hội đã đối xử với họ tệ quá.” (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. Thế Kỷ: Hoa Kỳ 1994, 32-33).

Quả là “tệ” thật nhưng nhưng nói theo Trần Đỉnh (“bao diêm trăm que chỉ cháy một que”) thì e có hơi quá đáng. Coi:

VnExpress: “Sau một tháng mở đợt quyên góp, hàng nghìn độc giả trong và ngoài nước đã hướng về người dân đôi bờ Pôkô, ủng hộ hơn 2,4 tỷ đồng. Dự kiến, cầu sẽ được khởi công sau 2 tuần tới.”

Dân Trí: “Từ sự ủng hộ của bạn đọc, tính đến nay báo Dân trí đã xây dựng được 8 cây cầu để giúp các em học sinh vượt sông tìm chữ. Những cây cầu được đặt tên Dân trí thực sự đã ‘nối đôi bờ vui’ trên khắp mọi miền đất nước.”

Có hàng chục ngàn cây cầu từ thiện như trên đã được dựng xây chỉ nhờ vào lòng tử tế của người dân Việt. Tương tự, có hàng triệu mảnh đời rách nát ở đất nước đang được chia sẻ, đùm bọc bởi tình đồng bào ruột thịt, kể cả những khúc ruột xa ngàn dặm. 

Đó là chưa kể đến “những chuyện nhỏ” hàng ngày “nhưng lay động lòng người” theo như cách nói của nhà báo Quỳnh Trân:

Những ai đi ngang qua đường Huỳnh Văn Bánh, Quận Phú Nhuận đều bị thu hút bởi tấm biển "Sửa giày dép miễn phí cho người bán vé số, xe ôm, ba gác, xích lô, người thu gom rác..." của anh thợ sửa giày Lý Ngọc Bình, 30 tuổi. Ảnh và chú thích: vietnamnet.vn

Trà đá miễn phí. Chủ nhân của những bình nước này đều là người dân lao động. Ảnh và chú thích :vietnamnet.vn


“Gần gụi và cảm động nhất,” theo ghi nhận của blogger Đinh Tấn Lực “là những hoạt động âm thầm trợ giúp bà con có nhu cầu thiết thực: Bữa Cơm Có Thịt, Trường Lớp Tình Thương, Quà Trung Thu Cho Trẻ Em Miền Núi, Học Bổng Bước Đầu Vào Đại Học, Tủ Sách Nông Thôn, Bầu Bí Tương Thân, Cứu Lấy Dân Oan, Bữa Cơm Dân Oan… “

Những kẻ bị “chết lòng tử tế” ở đất nước này phần lớn (chắc chắn) đều không phải... nhân dân. Bởi vậy, khi xếp “thứ hạng về tử tế của Việt Nam trên thế giới đứng hạng áp chót (124/125)” thì tưởng cũng cần phải nói thêm cho rõ là những con số này chỉ “thể hiện” sự tiểu tâm, ti tiện, bạc ác, và đểu cáng của đám côn đồ đang “lãnh đạo” ở xứ sở này chứ không liên quan dính dáng gì nhiều đến những lương dân đất Việt.

Người Việt chỉ chịu một phần trách nhiệm (e cũng không nhỏ lắm) khi cam chịu để cho “bọn đầu trâu mặt ngựa” hoành hành trên quê hương và đất nước của mình mà không có được một sự phản kháng nào đáng kể, hay đáng nể.

Biểu tình: Có thể tổ chức mà không đợi phải có luật

01-03-2015
H1Nhà nước Việt Nam đã cam kết gì?
Ngày 24-9-1982, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội và Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị.
Điều 2 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị, ghi: “Các Quốc gia thành viên ký kết Công ước này cam kết tôn trọng và bảo đảm thực thi những quyền được nhìn nhận trong Công ước cho tất cả mọi người sống trong lãnh thổ và thuộc thẩm quyền quốc gia, không phân biệt chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác.
Trong trường hợp những quyền được nhìn nhận trong Công ước này chưa được quy định thành văn trong luật pháp quốc gia, các Quốc gia thành viên ký kết Công ước cam kết sẽ ban hành các đạo luật theo thủ tục luật pháp quốc gia và theo các điều khoản của Công ước để các quyền này có hiệu lực”.
Như vậy, “các quyền tự do dân chủ của công dân” được nêu tại Nghị định quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng số 38/2005/NĐ-CP, và Thông tư 09/2005/TT-BCA hướng dẫn thi hành Nghị định 38/2005/NĐ-CP quy định một số biện pháp bảo đảm trật tự công cộng do Bộ Công an ban hành, cần được hiểu theo nội dung của Công ước quốc tế về các quyền dân sự chính trị mà chính phủ Việt Nam đã ký cam kết thực hiện.
Tuy nhiên lâu nay cả hai văn bản pháp luật nói trên được ghi nhận là nhằm cản trở quyền tự do dân chủ, hơn là bảo vệ trật tự công cộng và bảo đảm việc thực thi dân chủ như mục đích mà nghị định hô hào. Đồng thời hai văn bản này cũng là công cụ mà chính quyền sử dụng để cáo buộc người dân vi phạm pháp luật khi xảy ra những vụ việc biểu tình.
Được quyền tụ tập để đưa kiến nghị
Theo Nghị định 38/2005/NĐ-CP, “tập trung đông người” (văn bản này không dùng từ “biểu tình”) phải được “xin phép” trước bảy ngày kèm theo đó là danh sách thành phần tham gia cũng như địa điểm tập trung, lộ trình đoàn biểu tình đi qua…
Hoạt động tập trung đông người ở nơi công cộng theo quy định của Nghị định số 38 và hướng dẫn tại Điều 4, Thông tư 09/2005/TT-BC là những trường hợp tổ chức tập trung từ 5 người trở lên tại các khu vực, địa điểm phục vụ chung cho mọi người như vỉa hè, lòng đường, quảng trường, cơ sở kinh tế, văn hóa, nơi sinh hoạt cộng đồng; tại khu vực trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội hoặc tại những nơi công cộng khác nhằm mục đích đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.
Thời gian tiến hành các hoạt động đó chỉ được phép diễn ra trong khoảng thời gian từ 8 giờ đến 17 giờ hàng ngày, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Công khai trấn áp mà vẫn… đúng luật
Vẫn đang “lấn cấn” cụm từ “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ của công dân”.
“Quyền tự do dân chủ của người dân Việt Nam có tồn tại thực hay không, và tồn tại ở mức độ nào để có thể bị lợi dụng?”. Đây là điều mà cho đến nay chưa được cụ thể, ngoài những dòng quy định mang tính nguyên tắc ở Hiến pháp 2013.
Lưu ý rằng, “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” (Điều 14, Hiến pháp 2013). Điều đó có nghĩa các quyền này bị giới hạn “trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức, sức khoẻ cộng đồng”, mà không hề định lượng cần thiết ở mức nào, giới hạn ra sao; nghĩa là bỏ mặc cho quan chức hành xử tự đo lường.
Đơn cử, Hiến pháp 2013, Điều 25, “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. “Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật” (Điều 30.2)
Theo nguyên lý “logic học hình thức”, tất cả điều khoản “Mọi người có quyền…”, kèm theo mệnh đề “… theo pháp luật” đều được phép chuyển đổi thành: “Mọi người có quyền… do nhà nước quy định”, vô hình trung phủ nhận luôn chức năng hiến pháp sinh ra để chế tài nhà nước.
Điều này cũng tương tự như Điều 14, Hiến pháp 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Vậy giải thích thế nào về việc hầu hết lãnh đạo trung, cao cấp phải đảng viên? Liệu có chấp nhận bộ trưởng không phải đảng viên? Đó chính là nội hàm của khái niệm “không phân biệt đối xử”.
Phân tích nói trên cho thấy, mặc dù về nguyên tắc là đã có thể thực hiện một cuộc “tụ tập đông người” đúng theo quy định, tuy nhiên “quy định pháp luật” này lại được ban hành theo hướng nhằm để ngăn trở người dân “đưa ra yêu cầu hoặc kiến nghị về những vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, gia đình, tổ chức hoặc nhằm đưa ra những yêu cầu, kiến nghị về những vấn đề có liên quan chung đến đời sống chính trị – xã hội, đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác”.
© Thảo Vy

Tại sao phải giấu?

Bùi Bảo Trúc
28-02-2015
“Ngai vàng” của Nông Đức Mạnh. Hình được đăng đầu tiên trên báo Tiền Phong.
“Ngai vàng” của Nông Đức Mạnh. Hình được đăng đầu tiên trên báo Tiền Phong.
Tờ Tiền Phong trong một số báo mới đây đã phổ biến mấy bức ảnh chụp tư gia của cựu Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh, hình như ở bên hồ Tây thì phải. Tôi rất ghét hai chữ “hoành tráng” nhưng đành phải dùng chúng vì không tìm được những chữ nào khác hơn và chính xác hơn để mô tả nội thất của người đàn ông ấy.
Ông Ngô Đình Diệm, theo một người (Ðại Úy Châu, em ruột họa sĩ Mạnh Quỳnh) rất thân cận với ông, vẫn chỉ ngủ trên một chiếc giường trải chiếu, ăn cháo trắng, có 3 bộ complet, mấy cái ca vát, 2 đôi giày. Ông Diệm là tổng thống của đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam. Đến lúc chết, đời sống của ông cũng chỉ có thế. Đạm bạc, giản dị, tầm thường, khổ hạnh.
Tổng Thống Thiệu cũng không khá gì hơn. Số vàng 10 hay 16 tấn mà người ta nói là ông mang theo khi rời Sài Gòn là chuyện không hề có. Frank Snepp, người lái xe cho ông Thiệu ra phi trường đi Đài Bắc viết trong cuốn Decent Interval xác nhận chi tiết đó. Số vàng ấy do Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Lê Quang Uyển giữ tại ngân hàng và sau được con Lê Duẩn đưa sang Nga bán lấy tiền, nói là để trả nợ, bây giờ ai giữ thì đi hỏi Lê Duẩn may ra biết như ông Phạm Kim Ngọc đã nói từ những năm của thập niên 60, một tiên đoán rất chính xác của Đường Xăng Đại Huynh (tên của Đạo Cấy đặt cho tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc).
Ông Nguyễn Cao Kỳ thì hớt hơ hớt hải bay chiếc trực thăng đáp vội xuống hàng không mẫu hạm Mỹ chỉ có bộ quần áo trên người.
Ghé thăm tư gia của Nông Đức Mạnh người đàn ông gốc thiểu số nông dân thuộc tỉnh Bắc Kạn thì đúng là một trời một vực. Gọi là tư gia thì không đúng lắm. Tư dinh thì đúng hơn. Dinh Độc Lập hồi ông Thiệu còn là tổng thống cũng không bằng. Biệt điện của Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn ở Đà Lạt cũng thua xa. Nơi ông Nguyễn Cao Kỳ ở trong căn cứ không quân thì còn tồi tệ không thể nào đem sánh với trú sở của anh thiểu số người Tày họ Nông này. Dinh của Nông Đức Mạnh là một kiến trúc tráng lệ rõ ràng là đắt tiền. Tất cả đều được làm bằng cẩm thạch và đá hoa cương từ sàn lên đến trần. Phòng khách bày hai chiếc ghế thếp vàng, chạm trổ hình đầu rồng kê hai bên một chiếc bàn cũng thếp vàng. Trên tường treo một mặt trống đồng lớn. Phải nói là nơi tiếp khách ở lâu đài Windsor hay điện Buckingham của nữ hoàng Anh cũng không “khủng” bằng. Nơi tổng thống Mỹ tiếp khách cũng chỉ là mấy chiếc ghế không có gì đặc biệt. Chiếc ngai nữ hoàng Anh ngồi mỗi khi thiết triều ở Westminster cũng không sánh nổi với chiếc ghế của Nông Đức Mạnh ở phòng khách nhà hắn.
Có thể những đồ trang trí đó đắt tiền vì được mạ vàng hay thếp vàng, nhưng chúng vẫn có cái vẻ nhà quê, diêm dúa một cách quá đáng. Đó là kiểu trang trí của mấy anh nouveau riche mới giầu lên muốn khoe của nhưng mắt thẩm mỹ thì không có. Nông Đức Mạnh nhất định không chịu thua Lê Khả Phiêu.
Anh họ Lê này cũng bầy ra cảnh giàu sang trong ngôi nhà của anh ở Hà Nội. Trong nhà đầy những đồ đạc đắt tiền, bước vào là thấy ngay một chiếc trống đồng, mấy cái tủ kính, tranh ảnh chụp với các ngợm khác. Cứ thế, anh này không chịu thua anh kia. Anh họ Nông qua mặt anh họ Lê, không ai chịu thua ai.
Nhưng hình như làm vậy cũng chuế thì phải, vì sau khi những bức ảnh đó xuất hiện trên trang điện tử của tờ Tiền Phong thì chúng bị lấy xuống không có một lời giải thích nào.
Nhiều người cho rằng tờ báo này phải lấy xuống vì có nhiều ý kiến phản đối cảnh (cựu) lãnh tụ sống xa hoa quá đáng trong khi người dân thì quá khổ sở. Điều đó có thể đúng. Nhưng một số ý kiến khác thì cho rằng cần phải phổ biến những bức ảnh đó để cho thấy nhà nước của ta đối xử tử tế như thế nào với những người có công với đất nước chứ đâu có như cách đối xử của lũ Ngụy dành cho các cựu lãnh tụ của chúng.
Kể ra xuất thân từ một anh thiểu số theo cách mạng mà giầu sang được như vậy là giỏi quá rồi còn gì. Mặc dầu là vẫn nhà quê nhà mùa gốc Tày vậy. Cũng có khác gì cảnh “su hào rủng rỉnh Mán ngồi xe” mà Trần Tế Xương đã có lần nhắc đâu!
Người ta nhớ đến đoạn cuối của cuốn The Animal Farm của George Orwell, cảnh mấy con heo tiệc tùng với mấy tên trại chủ láng giềng sau khi cách mạng lật đổ lão chủ trại, nói là để giải phóng cho lũ gia súc trong trại. Milovan Djilas, nhà văn Nam Tư gọi chúng là Giai Cấp Mới. Chúng nó còn tệ hơn là anh chàng Jourdan trong kịch hơn Le Bourgeois Gentilhomme (Trưởng Giả Học Làm Sang) của Molière vì chúng nó không chỉ nhà quê nhà mùa mà còn cực kỳ khốn nạn nữa. Chúng nó cách mạng chỉ để ăn trộm ăn cướp với nhau mà thôi.
Nhìn nhà cửa của chúng nó là thấy liền.

Đảng mất mình đi đâu?

Không phải chỉ trong hàng ngũ công an mới có người đang đặt câu hỏi trên. Tất cả những kẻ đang nắm quyền hành và hưởng lợi lộc nhờ chế độ Cộng Sản cũng ôm nỗi băn khoăn này.
Đảng mất mình đi đâu? Có người đã chọn rồi: Đi Mỹ! Trên mạng Internet đã thấy hình ngôi nhà một ông phó thủ tướng đương quyền mua ở Anaheim, California, USA. Cả hình bằng lái xe ở California của con trai ông ta. Trong đảng họ phá lẫn nhau cho nên mới tiết lộ cho bà con biết, còn hàng ngàn căn nhà khác vẫn được giữ kín “bảo vệ đảng.” Chắc chắn nhiều cán bộ cao cấp cũng tìm đường chạy từ lâu rồi. Và họ cũng biết một quy tắc của nghề đầu tư là “Không để trứng tất cả vào chung một cái giỏ.” Nếu rớt, trứng bể hết. Cho nên, những kẻ quyền cao nhất, thế mạnh nhất, “đông tiền” nhất, họ đều biết phải “phân tản” (diversify) các món đầu tư cho tương lai.
Một căn nhà ở Mỹ, một cái khác ở Đức, vài ba địa chỉ ở Úc, gửi tiền của đi chỗ nào xa xa nước Việt Nam đều tốt cả. Mà phải chọn những nơi an toàn. An toàn nhất là những nước dân chủ tự do. Chọn nơi nào có hệ thống tư pháp công bằng, trong sạch, tài sản của mình được luật pháp bảo vệ, không sợ có đứa nó ỷ quyền chiếm mất – như ở nước Việt Nam. Đem tiền sang các nước đó không những khỏi lo bị cướp mà dùng làm vốn sẽ sinh lợi cao hơn. Những nước có truyền thống dân chủ lâu đời cũng là những nước kinh tế lên cao nhất, nhờ tinh thần trọng pháp và luật lệ bảo vệ quyền tư hữu. Cho nên, các đồng chí chưa chắc đã mua nhà ở Quảng Châu, Côn Minh, Bắc Kinh, mà còn đem tiền sang các nước tư bản chính hiệu. Đó là tín hiệu con tàu sắp chìm, đàn chuột bỏ chạy trước.
Đảng mất mình đi đâu? Không phải ai cũng có tiền và có địa vị để chuẩn bị đường rút lai sang Tàu, sang Úc, Canada, Pháp, Đức, hay sang Mỹ.
Cho nên, đang lo lắng nhất bây giờ chắc là những người công an. Khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” đã được nêu lên từ thời Trần Quốc Hoàn, Mai Chí Thọ. Công an tự nhận họ đóng vai “chó săn;” nhưng hãnh diện rằng họ “làm chó săn cho cách mạng!” Bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng Sản tài tình đã dựng hai chữ “cách mạng” như một vị thần hoàng để họ chui vào cung đình chia nhau ăn thủ lợn. Cái gì phục vụ“cách mạng” thì tốt, thì cao quý. Gán cho ai nhãn hiệu “phản cách mạng” thì xúi giục đám “quần chúng” côn đồ chửi bới, chém giết (Cải Cách Ruộng Đất), ám sát (Coi gương Khái Hưng, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm) ném phân vô cửa nhà người ta (Coi Hoàng Minh Chính, Trần Khải Thanh Thủy), hoặc đem vùi xuống đất đen (Coi Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần). Núp dưới bóng thần “cách mạng” đó, công an “phục vụ cách mạng” là công an an tốt, đáng tự hào. Họ có thể hãnh diện nhìn nhận công an an gắn bó keo sơn với đảng; họ hô to khẩu hiệu “Đảng còn thì mình còn” mà không thấy xấu hổ về cái vai trò ăn bám như loài ký sinh trùng.
Nhưng bây giờ, bức mặt nạ “cách mạng” đã rớt xuống. Đảng lệ thuộc ngoại bang đến mức không dám gọi tên những con tàu ăn cướp dân mình là Tàu Trung Quốc mà bắt các báo đài phải gọi là “tàu lạ.” Dân bèn chế nhạo: Coi chừng Người Lạ, Hàng Lạ! Chế độ gọi là “cách mạng” đã từng “học tập Mao Chủ Tịch” chia rẽ dân tộc, gây đấu tranh giai cấp, gây chiến tranh Nam Bắc, người Việt giết người Việt cho Trung Cộng thừa cơ chiếm quần đảo Hoàng Sa. Những công an dẫn đám côn đồ đàn áp các cuộc biểu tình đòi Hoàng Sa, Trường Sa của dân Sài Gòn, dân Hà Nội, phải tự nhìn thấy họ đang bị Đảng Cộng Sản xua đi phục vụ đế quốc đỏ Trung Hoa. “Mình còn” nhưng “Nước mất” thì ai sẽ trả lời cho con cháu đây?
Chính công an cũng thấy rõ chế độ bây giờ chỉ còn là một bộ máy cường quyền liên kết với tư bản đỏ tham nhũng, trục lợi. Đó là hậu quả không thể tránh được ở bất cứ nước nào do một chế độ độc tài đảng trị cầm quyền. Đảng còn ăn cướp được thì mình còn được ăn cướp. Nhưng họ cũng thấy hình ảnh những ngôi biệt thự xa hoa của những bí thư tỉnh ủy to lớn sang trọng hơn nhà mình trăm lần, ngàn lần. Họ đã thấy hình phòng khách trong nhà cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu toàn bảo vật quốc gia. Gần đây là hình trong nhà Nông Đức Mạnh, tường cũng dát vàng với hai cái ngai vàng chạm hình rồng, bắt chước vua chúa đời xưa. Người có học nhìn cảnh đó phải cảm thấy thương hại đám cựu tổng bí thư đua đòi “trưởng giả học làm sang” bày trò khoe khoang nhơ nhuốc! Ngoài những “của nổi” này, các vua chúa đỏ còn bao nhiêu “của chìm” cất giấu trong các ngân hàng, trong thị trường chứng khoán và bao nhiêu ngôi biệt thự đã mua ở ngoại quốc? Công an vẫn phải đóng vai “chó săn,” nhưng bây giờ họ đang làm chó săn cho loài vua chúa nhố nhăng đó chứ chẳng có thứ cách mạng nào cả.
“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình đi đâu?” Đó là câu hỏi đang ám ảnh những người công an biết suy nghĩ. Ở Việt Nam, Bắc Hàn và Trung Quốc.
Một mối lo ám ảnh nặng nề nhất là “ngàn năm bia miệng.”
Nhà văn Bùi Ngọc Tấn không phải là người nhỏ mọn. Nhưng trước khi qua đời ông không thể không nhắc đến tên một tay chỉ huy công an ở Hải Phòng, mà nhờ cuốn sách “Hậu Chuyện Kể Năm Hai Ngàn” của ông bây giờ cả nước biết họ biết tên. Họ và tên ông này là Trần Đông, thường vụ thành ủy, giám đốc sở công an Hải Phòng. Trần Đông đã vu cáo, đầy đọa nhiều nhà văn, chỉ để chứng tỏ mình tích cực tham dự chiến dịch vu cáo “nhóm xét lại chống đảng.” Bỏ tù mấy nhà văn làm lễ dâng công với Lê Đức Thọ, nhờ thế Trần Đông được thăng quan, lên làm tới chức thứ trưởng. Con cháu ông Trần Đông có cảm thấy nhục nhã khi biết cha, ông mình đã làm những việc thất đức đó hay không?
Bùi Ngọc Tấn không muốn thanh toán mối thù riêng. Ông phải viết ra vì món nợ chung với bao nhiêu bạn tù bị guồng máy độc tài hãm hại. Không kể hết thì những mối oan khiên không bao giờ được cởi. Nhà thơ Hoàng Hưng viết lá thư mở đầu cuốn sách đã thông cảm nỗi lòng Bùi Ngọc Tấn. Cho nên ông đã viết những lời hứa, những lời nguyền: “Còn một ngày cũng sống sao cho ra sống! Vì thế chúng ta phải viết! Họ không muốn ta viết, ta phải viết! Họ sợ ta viết, ta phải viết! Họ cấm ta viết, ta phải viết!…”
Những người không viết, họ có thể quay phim, có thể chụp hình. Vì vậy những bức ảnh ngai vàng trong nhà Nông Đức Mạnh mới được đưa lên mạng. Người phóng viên cầm máy ảnh trong tay chứng kiến cảnh vàng son lố bịch đó tự cảm thấy mình phải giúp tất cả đồng bào trông thấy cuộc sống xa hoa nhố nhăng của các vua chúa đỏ! Người biên tập trong tòa báo cũng đồng ý. Dòng họ Nông sẽ đi vào lịch sử không phải vì ông Nông Đức Mạnh làm lãnh tụ Đảng Cộng Sản một thời. Cả cuộc đời làm tổng bí thư của ông ta không ai nhớ Nông Đức Mạnh đã làm gì, đã nói được câu nào cho ra hồn. Nhưng từ nay ai cũng nhớ hình ảnh hai cái ngai vàng chạm đầu rồng trong nhà Nông Đức Mạnh!
“Đảng còn thì mình còn nhưng đảng mất mình biết trốn đi đâu?”
Không ai trốn được ngàn năm bia miệng!
Những người công an bây giờ biết nhiều hơn, nhìn lại các thủ lãnh đời trước cũng phải thấy nhục, phải xấu hổ: Cả ngành công an đã thối nát ngay từ thủa ban đầu, không phải chỉ vì những tên như Trần Đông. Trần Quốc Hoàn, trùm công an toàn quốc cũng “phục vụ cách mạng” bằng việc “dẫn gái” và giết người bịt miệng. Hoàn đã đưa cô gái từ miền thượng du về cho Hồ Chí Minh, hai bác cháu dùng xong rồi đem thủ tiêu người phụ nữ xấu số bằng tai nạn ô tô. Vũ Thư Hiên đã kể rõ chuyện trong Đêm Giữa Ban Ngày. Ngàn năm bia miệng, biết trốn đi đâu?
Tất cả các chế độ độc tài thối nát đều sẽ tan rã. Những người công an phải đọc được các tín hiệu báo trước chế độ đang tan rã. Một gia đình nông dân ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đứng giữa chợ đả đảo chế độ Cộng Sản. Cậu con trai đã không ngần ngại hô khẩu hiệu “Tiêu diệt Đảng Cộng Sản!” “Tiêu diệt! Tiêu diệt!” Người mẹ còn hô to: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm!” Mà họ không chỉ hô một, hai lần! Lòng người dân phải chứa chất nỗi phẫn uất đến mức nào họ mới dám liều mạng hô to những tiếng “chết người” như vậy!
Chế độ độc tài chuyên chế nào cũng phải tan rã. Dân Việt Nam không ngu, không hèn hơn dân các nước Đông Âu. Công an mật vụ ở các nước này đã ngửi thấy mùi chế độ tan rã trước tháng 11 năm 1989. Cho nên khi chứng kiến cơn thủy triều dân chủ tự do dâng lên chính họ bỏ rơi Đảng Cộng Sản. Cuộc cách mạng ở Đông Đức không thể thành công nếu các công an Stassi đang gườm súng quyết định bắn vào đám biểu tình ngay trong ngày đầu ở thành phố Dresden. Dân thủ đô Praha nước Tiệp không thể tiến chiếm “Lâu Đài” nếu chính các công an không buông súng để ủng hộ. Đảng Cộng Sản Liên Xô tan hàng khi chính các sĩ quan KGB ngoảnh mặt đi, không cứu, dù chỉ bắn một phát súng. Trong cả ba nước đó, không một ai cất một ngón tay lên cứu Đảng Cộng Sản! Không một người nào nhỏ một giọt nước mắt tiếc thương! Tất cả cũng từng thuộc lòng câu: “Đảng còn thì mình còn!” Nhưng chính họ cũng nhiều đêm nằm vắt tay lên trán tự hỏi: “Đảng mất mình biết trốn đi đâu?” Và họ đã lựa chọn: Mình đứng về phía những người dân oan ức! Dân còn thì mình còn!

Ngô Nhân Dụng
27-02-2015

(Đoạn video biểu tình chống chế độ ở huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An ngày 10 tháng Hai năm 2015 có nối kết trên mạng làhttp://youtu.be/uRW1SBR0zZ4 , nhưng có thể đoạn phim này đã bị tiêu hủy rồi. Chúng tôi mới mở ra và chỉ thấy một hình mở đầu, chúc quý vị may mắn hơn).

Dân Trí Việt Nam Ra Sao?

Đầu thế kỷ thứ 20 cụ Phan Bội Châu cho rằng dân trí người Việt quá thấp cho nên muốn thoát ách thực dân Pháp, muốn canh tân đất nước thì không thể nào không quan tâm đến dân trí.
Đầu thế kỷ thứ 21, hơn một trăm năm kể từ khi cụ Phan nói về dân trí của người Việt Nam, thiết nghĩ chúng ta cũng nên nhìn lại để đánh giá, tìm hiểu tại sao đến giờ phút này, dân tộc Việt vẫn chẳng có một sự tiến bộ nào so với hơn trăm năm trước.
Dĩ nhiên có người cho rằng dân trí Việt Nam đã tiến bộ hơn thời của cụ Phan. Chúng ta có mạng (internet) ở khắp mọi nơi, điện thoại di động hầu như ai cũng có, học vấn Việt Nam trong những cuộc thi quốc tế — chúng ta xếp hạng khá cao so với các nước dân chủ Tây Phương. Nếu chỉ dựa vào những hình ảnh bề ngoài này để cho rằng dân trí của nước ta đã khá hơn thời của cụ Phan thì rõ ràng sự hiểu chúng ta quá nông cạn và tầm hiểu biết này thể hiện rõ sự thật dân trí của chúng ta ra sao.
Đất nước Việt Nam đạt được thành quả gì trên phương diện khoa học, văn hóa, xã hội đối với sự tiến bộ của thế giới hiện nay? Câu trả lời là con số không to lớn. Theo tờ báo Người Việt online, một bài viết mang tên “Tiến sĩ khác gì với dũng sĩ” cho biết rằng tại Việt Nam có trên 24 ngàn người tốt nghiệp tiến sĩ và trên 101 ngàn người có bằng thạc sĩ. Nếu con số này thực sự đúng thì là một điều đáng mừng. Và một câu hỏi được đặt ra là những vị tiến sĩ và thạc sĩ này trình độ ra sao hay chỉ là “hàng mã” để che mắt thiên hạ cho cái dân trí thấp kém của chính mình?
Một dân tộc không thể nào có một dân trí cao khi mà dân tộc đó đang nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc với một hình thức đô hộ kiểu mới mà đảng CSVN là những thái thú của thời đại. Bởi dân trí thấp kém cho nên những người ngoài đảng, đang phục vụ bộ máy cầm quyền hiện giờ, tiếp tục làm ngơ trước những áp bức, trấn áp bằng tinh thần lẫn thể xác của bộ máy công an đối các thành phần trong xã hội, đặc biệt đối với các nhà đấu tranh dân chủ. Bởi dân trí quá thấp kém, các vị tiến sĩ, thạc sĩ tiếp tục phục vụ bộ máy cầm quyền mà không hề đứng về phía dân tộc để hướng dẫn tập thể quần chúng thấy được sức mạnh của chính mình (xem bài Điểm Khởi Đầu: Đại Khối Dân Tộc) — cùng nhau hợp lực thay đổi thành phần lãnh đạo độc tài, thoát khỏi sự đô hộ kiểu mới của Trung Quốc. Bởi dân trí quá thấp kém, số đông người dân vẫn làm ngơ trước những cuộc biểu tình chống Trung Cộng. Bởi dân trí quá thấp kém, giới làm truyền thông tiếp tục thông tin để phục vụ đảng cầm quyền; thay vì phục vụ tập thể quần chúng bằng những lý luận, dẫn chứng, đòi hỏi sự minh bạch trong bộ máy cầm quyền. Bởi dân trí quá thấp kém, bộ phận Tư Pháp tại Việt Nam tiếp tục chấp nhận những bản án vô lý từ đảng đưa xuống dành cho những người dân thấp cổ bé miệng, dành do những người đấu tranh cho quyền Con Người tại VN. Bởi dân trí quá thấp kém, cơ quan Quốc Hội Việt Nam là một bộ máy bù nhìn, để đảng muốn làm gì thì làm, muốn nói gì thì nói. Bởi dân trí quá thấp kém, bộ máy công an sẵn sàng đàn áp, đánh người dân của mình bởi chỉ vì người dân đó thực hiện quyền tự do căn bản của Con Người mà những quyền đó đã có trước khi một bộ máy cầm quyền ra đời. Bởi dân trí quá thấp kém, đảng cầm quyền sẵn sàng bán đất — biển qua hội nghị Thành Đô để được ăn trên ngồi trước, để tiếp tục đàn áp Dân Tộc Việt, tiếp tục độc tài lãnh đạo, làm tay sai cho Trung Quốc và Việt Nam có thể thành một tỉnh thành của Trung Quốc trong tương lai — mà các thái thú thời đại là đảng CSVN. Bởi dân trí quá thấp kém, thương buôn Việt Nam tiếp tục bán hàng sản xuất từ Trung Quốc mà không biết sự nguy hiểm của những chất hóa học trong sản phẩm bán buôn. Bởi dân trí quá thấp kém, các thầy cô giáo tiếp tục sống cuộc đời của con vẹt, nói những điều hoàn toàn sai với sự thật nhưng vẫn nói mà không biết sự tự trọng của chính mình ở đâu. Bởi dân trí quá thấp kém, mọi người, mọi thành phần nằm trong cơ cấu cầm quyền — từ ý tế, giáo dục, xã hội — xem chuyện hối lộ — tham nhũng là chuyện bình thường, chẳng cần phải suy nghĩ đắn đo trong việc nhận tiền hay đút lót tiền hối lộ. Bởi dân trí quá thấp kém, ranh giới đạo đức và phi đạo đức hoàn toàn biến mất tại xã hội Việt Nam. Người Việt Nam làm những chuyện phi đạo đức nhưng cứ nghĩ rằng mình làm việc rất là đạo đức. Bởi dân trí quá thấp kém, người Việt Nam nhìn bọn đầu gấu đánh người giữa thanh thiên bạch nhật nhưng không hề nhảy vào can thiệp bởi lý do sợ liên lụy — dù rằng số người chứng kiến cảnh hành hung đông gắp ba, bốn lần bọn đầu gấu. Bởi dân trí quá thấp kém, người Việt Nam xem mạng sống con người quá nhỏ bé, sẵn sàng đánh chết người bị tình nghi là trộm chó. Bởi dân trí quá thấp kém, người Việt Nam chấp nhận những sản phẩm giải trí rẻ tiền mà không cần biết có nghệ thuật hay không có nghệ thuật. Bởi dân trí quá thấp, người nông dân bị cướp đất đi biểu tình chống lại sự cưỡng chiếm đất đai, còn người khác chưa bị cướp đất đứng ngoài nhìn, bởi không phải đất của mình và bởi đất của mình chưa bị cưỡng chiếm. Bởi dân trí quá thấp, ông thiếu tướng Nguyễn Văn Tuyên, Cục Trưởng Cục Cảnh Sát Giao Thông Đường Bộ cho rằng việc công an giao thông nhận tiền vài chục, vài trăm không thể nào gọi là tham nhũng. Còn rất nhiều hình ảnh để chứng minh trình độ dân trí của người Việt Nam quá thấp nếu không muốn nói là thục lùi so với sự tiến bộ của thế giới hôm nay.
Đầu thế kỷ thứ 20 dân tộc ta nằm dưới sự đô hộ của Pháp, tuy dân trí thấp kém, nhưng vẫn có một số đông trí thức, học giả sẵn sàng đứng lên vận động người dân, công khai hay âm thầm để cùng nhau tranh đấu thoát khỏi sự đô hộ của Pháp.
Đầu thế kỷ thứ 21, dân tộc ta đang nằm dưới sự đô hộ của Trung Quốc dưới một hình thức mới và chính bởi hình thức mới này, dân tộc ta không nhìn thấy hay không muốn nhìn thấy sự thật này. Dĩ nhiên vẫn có những đấu tranh để thoát khỏi sự đô hộ kiểu mới này kể từ khi đất nước thống nhất đến nay; nhưng những đấu tranh bộc phát này vẫn quá nhỏ, chưa đủ mạnh để thay đổi suy nghĩ của số đông, để cùng nhau hợp lực tranh đấu thoát khỏi sự đô hộ kiểu mới này. Bởi dân trí của ta qua thấp nên số đông không nhìn ra được vấn đề để cùng với những nhà đấu tranh dân chủ, những tổ chức xã hội dân sự — đấu tranh giành lại quyền tự quyết của dân tộc mà cha ông ta đã từng làm trong quá khứ. Bởi dân trí quá thấp nên chúng ta không nhìn ra được sức mạnh thực sự của chính Đại Khối Dân Tộc và cuối đầu sợ hãi, phục vụ cái ác, xa lánh cái thiện.
Tại sao dân trí ta thấp kém? Tất cả đều là từ nền giáo dục mà ra. Một nền giáo dục để phục vụ nhà cầm quyền thay vì phục vụ dân tộc. Một nền giáo dục nhồi nhét những điều không phải là thật. Một nền giáo dục lý thuyết đi trái ngược lại với thực tế. Một nền giáo dục mà giáo sư Hồ Ngọc Đại nói như sau:
“Nếu so với thế giới, nền giáo dục của chúng ta quá lạc hậu. Tôi có thể nói thế này: Vào thời điểm này từ cuộc sống, tất cả các ngành, các nghề của con người và xã hội đã biến đổi rất lớn so với cách đây 15-20 năm, nhưng nghiệp vụ sư phạm của chúng ta thì từ nửa thế kỷ nay không thay đổi gì cả. Thậm chí còn tệ hại hơn trước vì trước là thầy giảng, trò ghi nhớ nhưng bây giờ là thầy đọc, trò chép”
Nhưng nếu đổi thừa cho hệ thống giáo dục thì cũng không công bằng. Hệ thống giáo dục của hôm nay không phải tại tự nó không thay đổi, không phải tại không có thầy cô giáo nhìn rõ ra được vấn đề là cần có sự lột xác thực sự. Thực tế thì đảng cầm quyền đã đóng một vai trò rất lớn trong việc tạo ra một hệ thống giáo dục của hôm nay. Một hệ thống giáo dục để đào tạo ra một Con Người Xã Hội Chủ Nghĩa chỉ nghĩ đến đảng và bản thân mình mà không hệ quan tâm đến sự sống còn của dân tộc. Một hệ thống giáo dục chỉ quan tâm đến con số Tiến Sĩ, Thạc Sĩ mà không quan tâm đến chất lượng của Tiến Sĩ, Thạc Sĩ. Một hệ thống giáo dục mà người lãnh đạo hoàn toàn không có khả năng trong ngành giáo dục. Chính đảng cầm quyền là nguyên nhân chính đã cản trở dân trí phát triển và tạo ra một hệ thống giáo dục của con vẹt; một hệ thống giáo dục đào tạo ra những người nô lệ kiểu mới phục vụ bộ máy cầm quyền với những quyền, tiền là chất keo nối kết những người nô lệ kiểu mới này — mục đích gìn giữ bộ máy cầm quyền vô luật pháp nhưng miệng luôn luôn nói rằng có luật pháp (rừng).
Những ai có tâm quyết đưa dân tộc ra khỏi sự ảnh hưởng của Trung Quốc; những ai có tâm quyết tạo ra một xã hội dân chủ trong đó mọi người biết thương yêu nhau, biết bảo vệ lẫn nhau và cùng nhau tranh đấu để giành quyền tự quyết cho chính bản thân và dân tộc mình thì không thể nào làm lơ trước sự xuống cấp của dân trí Việt Nam ở đầu thế kỷ thứ 21 này.
Làm sao để nâng cao dân trí khi mà chủ trương của đảng cầm quyền là cản trở dân trí phát triển? Để trả lời câu hỏi trên, chúng ta cần tìm hiểu những căn bệnh của người Việt Nam mà những căn bệnh này thể hiện rõ dân trí của chúng ta đang ở mức độ nào. Đây là đề tài sẽ nói trong tương lai với những đề nghị nhằm giúp thế hệ tương lai vươn lên với một dân trí cao — để tự chính mình giành lại quyền tự quyết cho chính mình và dân tộc mình, chứ không giao khoán cho một đảng tham quyền, tham tiền và hèn với giặc phương Bắc nhưng ác với dân hiện nay.
Vũ Hoàng Nguyên
New Orleans, LA

Căn Bệnh Nô Lệ

01-03-2015
Dân trí thấp sẽ dẫn đến toàn xã hội nô lệ cho một cái gì đó có thể là trù tượng và cũng có thể là không trù tượng — mà những người sống trong xã hội đó không nghĩ rằng mình đang mắc căn bệnh nô lệ, đang là những người nô lệ phục vụ cho một ai đó, một tập đoàn nào đó, hoặc cho một chủ đích nào đó.
Cần phải hiểu rõ nô lệ ở một nghĩa rộng lớn. Nô lệ ở đây không có nghĩa là hình thức nô lệ của ngày xưa mà kẻ nô lệ bị mua bán, đổi chát giữa người mua và người bán mà người nô lệ không có quyền lên tiếng nói. Và khi đổi chát này chấm dứt thì người nô lệ phải theo người chủ mới của mình, phục tùng người chủ mới của mình, và làm tất cả mọi chuyện mà người chủ mới mình sai bảo.
Trước khi tìm hiểu tính nô lệ của người Việt Nam ra sao, chúng ta cần tìm hiểu người nô lệ là người như thế nào? Người nô lệ có thể là một cá nhân, một đảng phái, một tổ chức. Người nô lệ là những người phục tùng ai đó, hay theo đuổi một mục tiêu nào đó mà không cần biết giá trị của mục tiêu đó ra sao, không cần biết sự tốn kém, nguy hại của việc theo đuổi mục tiêu đó ảnh hưởng đến xã hội, đến dân tộc ra sao. Người nô lệ là người ngoan ngoãn phục tùng người khác dù biết rằng người đó hoàn toàn ngu xuẩn, không có cái bản lãnh của người lãnh đạo. Người nô lệ là người không biết liêm sĩ là gì, không biết thiện – ác là gì, sẵn sàng làm bất cứ điều gì để tự thoả mãn bản tính cá nhân của mình bằng cái giá trả của những người khác.
Nhìn lại dân tộc ta hiện giờ, bản tính nô lệ được phát hoạ từ trên đi xuống như sau: Đảng cộng sản Việt Nam (CSVN) làm nô lệ cho Trung Quốc, Đảng viên đảng CSVN làm nô lệ cho đảng, người dân Việt Nam làm nô lệ cho đảng viên đảng CSVN. Mục đích của sự nô lệ theo thứ tự từ dưới đi lên như sau: để bản thân mình an toàn, để mình làm giàu, và sau cùng là để độc quyền lãnh đạo.
Nô lệ tính của đảng CSVN
Trước hết hãy nói về sự nô lệ của đảng CSVN. Tính nô lệ của đảng CSVN đã có từ khi đảng được hình thành. Khởi đầu đảng làm nô lệ cho quốc tế cộng sản để nhận sự viện trợ về tiền bạc lẫn tư tưởng mà trong đó tư tưởng Mác-Lênin-Mao là cái mà đảng CSVN rất là tích cực để làm nô lệ cho cái tư tưởng này. Bản tính nô lệ này được che giấu qua chủ nghĩa dân tộc, làm cho mọi người yêu nước của đầu thế kỷ 20 tưởng rằng đây là một tổ chức yêu nước chứ không phải là một tổ chức tình nguyện làm nô lệ cho quốc tế cộng sản.
Sự nô lệ cho quốc tế cộng sản chấm dứt khi nơi sinh ra chủ nghĩa Mác-Lênin, tức là Liên Xô, sụp đổ và toàn bộ khối cộng sản Đông Âu sụp đổ. Sự sụp đổ này đã đưa đảng CSVN vào thế kẹt là phải hợp tác với Trung Quốc để tiếp tục độc quyền đảng trị. Thế là hội nghị Thành Đô diễn ra và đảng CSVN đã không ngần ngại tình nguyện làm nô lệ cho Trung Quốc với hiệp ước Thành Đô, dâng biển — đảo cho Trung Quốc và sẽ biến VN thành một tỉnh thành của Trung Quốc trong một thời gian không xa lắm. Đổi lại thì đảng cộng sản Trung Quốc sẽ ra tay giúp đỡ Việt Nam trên lãnh vực kinh tế. Hai bên đều có lợi. Dĩ nhiên là một chủ nhân ông để điều khiển kẻ nô lệ là đảng CSVN, Trung Quốc đã cao tay ấn dùng kinh tế buộc đảng CSVN làm một người nô lệ trung thành, không phản lại người chủ. Những địa thế chiến lược tại VN lần lượt được Trung Quốc thuê mướn, đưa người của Trung Quốc qua Việt Nam làm việc cho các dự án kinh tế mà Trung Quốc trúng thầu tại VN, tạo ra những vùng tự trị trên lãnh thổ Việt Nam để sau này nếu đảng CSVN phản chủ thì Trung Quốc có cơ hội đưa quân đội sang đánh VN với danh nghĩa là bảo vệ người dân Trung Quốc. Đảng CSVN thấy được đường đi của Trung Quốc, nhưng vì tham vọng chính trị, vì muốn độc tài lãnh đạo cho nên đảng CSVN — tuy bên ngoài tỏ ra chống Trung Quốc — nhưng bên trong đã tình nguyện làm nô lệ, làm thái thú thời đại của Trung Quốc trên đất nước Việt Nam mà cha ông ta, Trần, Lê, Lý, Nguyễn đã anh dũng đứng lên chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc. Cựu ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch đã thoát lên một câu sau khi hiệp ước Thành Đô ký kết là “bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc nguy hiểm và lâu dài”.
Để thành công trong công việc làm nô lệ cho Trung Quốc, đảng CSVN bắt buộc các đảng viên của mình phải phục vụ cho đảng. Cách duy nhất để đảng viên làm nô lệ cho đảng thì không gì tốt bằng cho quyền và tiền. Ai chẳng muốn được nằm trong vị thế lãnh đạo nếu sự lãnh đạo không cần đòi hỏi khả năng mà chỉ đòi hỏi sự trung thành tuyệt đối, sự nô lệ tuyệt đối cho đảng? Và khi đã nằm trong vị thế lãnh đạo thì tiền vô như nước. Đồng lương đảng trả chỉ là cho có hình thức. Nếu chỉ dựa vào đồng lương đó thì chẳng có đảng viên nào chịu làm nô lệ cho đảng ở đầu thế kỷ 21 này. Tiền hối lộ, cướp đất của dân, buôn bán tài sản của đất nước, tham nhũng với các công ty nước ngoài, với các đoàn thể thiện nguyện nước ngoài vào viện trợ cho Việt Nam. Đây là những số tiền khổng lồ đảng âm thầm bảo kê cho đảng viên của mình miễn sao đảng viên tích cực làm nô lệ cho đảng để đảng tiếp tục làm thái thú cho Trung Quốc.
Dĩ nhiên đảng CSVN không bao giờ nghĩ rằng mình làm nô lệ cho Trung Quốc. Điều này cũng dễ hiểu, bởi đảng có toàn quyền tại VN thì làm sao gọi là nô lệ được. Đảng muốn bắt ai thì bắt, muốn giết ai thì giết. Đảng là chủ nhân ông của một quốc gia thì làm sao đảng nhìn ra được chính bản thân đảng là một tổ chức nộ lệ không hơn không kém — để phục vụ thiên triều Trung Quốc của hôm nay.
Nô lệ tính của đảng viên đảng CSVN
Tính nô lệ này được thể hiện qua câu “còn đảng, còn mình”. Nộ lệ tính này được thể hiện triệt để thực thi những gì đảng muốn. Từ thông tin, văn hoá, giáo dục, tôn giáo, kinh tế, y tế, tư pháp, an ninh … tất cả những sinh hoạt trong xã hội đều do các đảng viên chi phối và tích cực phục vụ đảng để nhận những phần thưởng quyền và tiền.
Quyền lợi (kinh tế và quyền lực) là động cơ thúc đẩy các đảng viên CSVN tình nguyện làm nô lệ cho đảng CSVN. Thực thi chính sách ngu dân trong giáo dục bởi dân càng ngu thì càng dễ trị. Thực thi chính sách ru ngủ qua báo chí, truyền hình để xoa dịu người dân nhằm quên đi những bất công đang diễn ra trong xã hội mà những bất công đó do chính cái cơ chế đảng tạo ra. Thực thi một nền kinh tế phồn thịnh giả tạo bằng cách chi xài cẩu thả để thành lập những công ty vô tích sự, không cần biết có lợi hay không có lợi, miễn sao tạo ra công ty để có lý do bắt người dân đóng thuế và các đảng viên bỏ tiền vào túi của chính mình. Có ai biết rằng những nợ xấu do các công ty nhà nước phá sản là cái nợ mà cả dân tộc phải trả — trong khi đó các đảng viên thì tiền đầy túi và gửi ra nước ngoài để chuẩn bị cho cuộc sống sau khi đất nước thực sự bị chiếm đóng bởi Trung Quốc?
Dĩ nhiên những đảng viên này không nghĩ rằng mình bị nô lệ hay đang làm nô lệ cho đảng CSVN. Suy nghĩ này cũng giống như suy nghĩ của tổ chức đảng CSVN. Đảng viên đảng CSVN cho rằng mình là những ông chủ có đầy quyền hành trong tay và từ cái quyền hành đó có thể làm bất cứ chuyện gì. Từ chuyện lập ra những thứ quỹ với bất cứ cái tên nào đó để bắt người dân đóng góp tiền vào quỹ, đến chuyện đưa ra những thứ thuế mà người dân hoàn toàn không biết có thật hay không có thật. Từ chuyện đánh đập người dân, hoặc cảnh sát giao thông đậu xe giữa đường và người lái xe phải tránh qua lộ khác thì bị bắt lại — thổi phạt là chạy xe không đúng lộ nhằm mục đích lấy tiền của dân để bỏ vào túi. Từ chuyện xông vào nhà những người bất đồng chính kiến với đảng cầm quyền để đưa những tan chứng hoàn toàn bịa đặt để bắt giam, đến chuyện đưa ra những bộ luật 79, 88, 245, 258 hoàn toàn đi ngược lại với hiến pháp mà chẳng có một vị nào trong bộ tư pháp lên tiếng.
Những vị nằm trong bộ tư pháp để xét xử những tội phạm — ngoài một số người có khả năng, số còn lại hoàn toàn đóng vai một người nô lệ tích cực để bảo vệ hệ thống nhà nước độc tài, phục vụ ông chủ là đảng CSVN. Ngay cả những vị có khả năng trong ngành luật pháp được đào tạo từ nước ngoài — sẵn sàng bán đứng lương tâm của một người học luật để đứng về phía nhà cầm quyền, đưa ra những bản án mà chính các vị đó biết rằng sai trái nhưng bởi bản tính nô lệ đã có sẵn — cho nên nhắm mắt làm ngơ để bộ máy cầm quyền dùng luật rừng, đi ngược lại bản hiến pháp, đi ngược lại giá trị của Con Người và chà đạp quyền tự do nguyên thủy của Con Người đã có từ thời nguyên thủy, cái thời mà đảng CSVN chưa hề ra đời.
Những vị trong cái gọi là Quốc Hội đại diện cho dân nhưng thực tế cái Quốc Hội đó tiếm dụng từ ngữ đại diện cho dân để đưa ra những chính sách phục vụ cho đảng và phục vụ cho chính cá nhân những vị trong cơ chế Quốc Hội. Những trò hề rẻ tiền mà những người trong Quốc Hội bầu với Tín Nhiệm Cao, Tín Nhiệm Thấp, Tín Nhiệm thấy rõ được mục đích của Quốc Hội là mèo khen mèo dài đuôi. Tại sao không để chính người dân bỏ phiếu tín nhiệm hay không tín nhiệm mà lại chơi cái trò chạy trốn trách nhiệm đó? Mà thực ra đâu cần phải để người dân bỏ cái phiếu tín nhiệm đó. Tất cả những vị trong cái gọi là Quốc Hội đều thấy rõ là mình không phải đại diện cho dân cho nên không cần cái tiếng nói chân thật của người dân. Với bản tính nô lệ đã ăn sâu vào trong máu cho nên các đảng viên phải tự Tín Nhiệm với nhau để khoe với ông chủ (Đảng CSVN) mình luôn luôn là người trung thành với đảng và thực thi câu “còn đảng còn mình” bằng mọi hình thức cho dù bán cả đất nước cũng chẳng sao.
Những đảng viên nào không chịu làm nô lệ cho đảng thì sẽ bị cô lập, sẽ mất đi quyền hành và nếu cần thủ tiêu những đảng viên không trung thành này — đảng cũng sẵn sàng làm điều đó nếu thấy cần thiết phải sử dụng bạo lực với chính đảng viên tại chức hay đã về hưu. Cái chết của Trung Tướng Phan Bình, Cục Trưởng Cục Quân Báo, sau khi bị Lê Đức Anh tước mất quyền hành, thì bị chết ngày 13 tháng 12 năm 1987 tại Sài Gòn do một viên đạn bắn vào đầu mà nhà cầm quyền Việt Nam cho rằng Trung Tướng này tự sát. Cái chết đột ngột của Thủ Tướng Phạm Hùng tại Sài Gòn ngày 10 tháng 3 năm 1988 trong lúc vẫn còn tại chức. Gần nhất là cái chết của Tướng Công An Phạm Quý Ngọ và Cục Trưởng Cục Đường Sắt, Nguyễn Hữu Thắng. Sự đầu độc bằng chất phóng xạ được sử dụng cho ông Nguyễn Bá Thanh, Ủy Viên Trung Ương Đảng là những thí dụ điển hình là đảng CSVN tàn bạo với chính đảng viên của mình nếu đảng viên không chịu làm nô lệ cho đảng. Chính vì thế những đảng viên đang nằm trong hệ thống đảng là những người nô lệ rất tích cực để giúp cái tổ chức đảng sống còn đến hôm nay.
Tính nô lệ của người dân Việt Nam
Với chính sách khủng bố, đàn áp, tù tội đã tạo sự sợ hãi nằm trong lòng mỗi người dân đang sinh sống tại Việt Nam. Sợ bởi nghĩ rằng mình chỉ là một cá nhân không làm được gì. Sợ bởi muốn bản thân và gia đình mình được yên. Và rồi số đông trở nên thụ động, ù lì; sẵn sàng làm theo, nghe theo những gì nhà cầm quyền muốn dù rằng người dân biết rằng đó là những cái phi lý.
Sự sợ hãi thường đưa ra đến hai kết quả: một là chống lại để được sống còn, hai là tình nguyện làm nô lệ để được sống còn. Và 99.99 % người dân Việt Nam chọn thái độ thứ hai, tức là im lặng để sống đời nô lệ, để mặc cho các đảng viên đảng CSVN muốn làm gì thì làm, muốn bắt ai thì bắt, muốn lấy tài sản ai đó thì mặc kệ.
Những người nằm trong bộ máy cầm quyền không là đảng viên đã đóng một vai trò nô lệ rất quan trọng để bộ máy cầm quyền độc tài này tồn tại. Những người này được hưởng những bổng lộc để tích cực làm người nô lệ cho đảng viên đang nắm những chức vụ quan trọng trong bộ máy cầm quyền. Những giáo viên nằm trong hệ thống giáo dục sẵn sàng thực thi chính sách giáo dục nô lệ nhằm đào tạo ra thế hệ mang nô lệ tính để phục vụ cho đảng và bộ máy cầm quyền. Một đội ngũ truyền thông, báo chí thực thi chính sách ru ngủ, tuyên truyền những điều hoàn toàn sai với thực tế nhằm mục đích ngu dân hóa để người dân tiếp tục chọn kiếp sống nô lệ của thời đại mới. Một đội ngũ y tế nô lệ cho đồng tiền mà không cần biết mạng sống của người khác ra sao. Một tập đoàn kinh tế sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì để tạo ra đồng tiền mà không cần biết sự ảnh hưởng của môi sinh hay mạng sống của người khác.
Những thường dân tình nguyện làm nô lệ cho đảng cầm quyền bằng cách sẵn sàng báo cáo cho nhà cầm quyền biết bất cứ những gì mà nhà cầm quyền muốn biết từ bất cứ gia đình nào, làng xã nào, cá nhân nào. Sự tình nguyện làm nô lệ này được trả lại là sự yên thân cho chính bản thân mình, dù rằng sự yên thân này chỉ là sự tạm thời.
Người chủ của thời nô lệ xa xưa hành hạ người nô lệ, ngay cả giết người nô lệ mà những người nô lệ khác đứng nhìn, không dám làm gì, bởi nghĩ rằng mình không có khả năng để cứu người cùng cảnh ngộ. Tại Việt Nam thì hình ảnh nô lệ được thể hiện qua thái độ vô cảm. Vô cảm trước những đánh đập, hành hạ, giết chết người ở các đồn công an, hoặc trên đường phố. Vô cảm trước những cuộc biểu tình của dân oan. Vô cảm để sẵn sàng giết người trộm chó còn những người bán cả dân tộc đất nước thì lại không dám làm gì.
Nô lệ được thể hiện qua thái độ im lặng hoặc chửi đổng bởi những sai trái của nhà cầm quyền nhưng khiếp sợ trước những hành động của nhà cầm quyền đối với những cá nhân khác — để rồi chính mình không dám cùng những người có cùng cảnh ngộ để đứng lên, chống lại hình thức nô lệ kiểu mới của hôm nay.
Nô lệ thể hiện qua thái độ chạy theo đồng tiền, đua đòi của cuộc sống và sẵn sàng a dua với cái ác nếu có thể tạo ra được đồng tiền cho mình được sống sướng hơn.
Dĩ nhiên sẽ có người không đồng ý với nhận định của sự nô lệ này (người dân tình nguyện làm nô lệ). Cái vấn nạn là chúng ta không dám nhìn nhận cái thực tế là cả dân tộc đang sống đời nô lệ. Chính sự trốn chạy sự thật này đã không ít thì nhiều giúp cho đảng cầm quyền tiếp tục áp dụng chính sách nô lệ lên trên đại khối dân tộc Việt của hôm nay.
Phương cách thoát nô lệ tính của dân tộc
Một đất nước bị nô lệ từ trên xuống dưới thì để thoát được nô lệ tính này phải bắt đầu từ dưới lên trên. Có nghĩa là phải bắt đầu từ những người dân thấp cổ bé miệng đã tình nguyện sống cuộc đời nô lệ từ mấy chục năm qua. Nhà cầm quyền Việt Nam sẽ không bao giờ thay đổi nếu người dân tiếp tục chọn nếp sống nô lệ của hôm nay. Muốn làm được điều này cần có những người tiên phong chỉ rõ cho người dân thấy được sức mạnh của mình.
Khi công an đến nhà ai đó bắt bớ, cả làng, cả xóm bỏ hết công việc để chạy lại xem sự kiện như thế nào. Nhà cầm quyền VN không thể nào bắt người vô cớ và cũng không thể dựa vào những bộ luật đi ngược lại bản hiến pháp của Việt Nam. Chúng ta, những người dân thấp cổ bé miệng, phải đoàn kết lại với nhau mới có thể tạo ra sức mạnh để chống lại những sai trái của nhà cầm quyền. Không thế nào tiếp tục để họ lấy nhà, lấy đất và bồi thường với giá rẻ mạc để bán lại với giá ngàn lần mà họ đã đòi thu mua từ chúng ta.
Chúng ta đòi hỏi cơ quan công an điều tra những vụ đánh người bị thương tích và nếu họ không làm điều này, chúng ta vận động cả làng, cả xóm, cả thành phố đến nơi cơ quan công an để đòi hỏi công bằng và lẽ phải. Không thể nào tiếp tục đòi hỏi với con số người quá nhỏ bởi sẽ bị lực lượng công an đè bẹp với con số đông hơn.
Chúng ta phải sẵn sàng hy sinh, loại bỏ sự sợ hãi, cùng nhau với những tổ chức xã hội dân sự tranh đấu đòi lại quyền làm Con Người mà chúng ta đã mất từ mấy chục năm qua. Nếu cuộc biểu tình đòi hỏi công lý hôm nay thất bại và bị công an đàn áp thì cuộc biểu tình của lần sau phải đông hơn để tạo thêm sức mạnh chống lại lực lượng công an. Phải thấy được sức mạnh của chính mình. Chúng ta không cần súng đạn trong cuộc đấu tranh thoát tính nô lệ của hôm này mà chúng ta cần tấm lòng, cần niềm tin vào lẽ phải, không nản lòng khi thất bại. Sự thất bại sẽ tạo cho chúng ta thêm niềm tin, thêm sức sống để cùng nhau đoàn kết chống lại cái ác; chống lại những chủ nhân ông tình nguyện làm nô lệ cho Trung Quốc và bắt buộc chúng ta làm nô lệ cho họ.
Khi 87 triệu người dân nhập cuộc để giành lại quyền tự chủ của chính mình, thoát khỏi đời sống nô lệ thì hệ thống nô lệ hóa từ bên trên sẽ sụp đổ. Hãy mạnh dạn để cùng nhau tranh đấu thoát khỏi đời sống nô lệ của hôm nay, thoát khỏi sự đô hộ kiểu mới của Trung Quốc. Đây là sự lựa chọn duy nhất mà chúng ta cần phải làm ngay từ thời điểm hôm nay để thoát khỏi căn bệnh nô lệ của dân tộc.
Vũ Hoàng Anh Bốn Phương
Dallas, TX