Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Việt Nam dưới mắt cựu thủ tướng Lý Quang Diệu

lyquangdieu 210

Trong thế kỷ 21, có những điều mà trong thế kỷ trước không ai nghĩ rằng sẽ có nhiều thay đổi đến vậy. Giờ phút này, một công dân trẻ như tôi ngồi đây, viết những dòng chữ này thì đất nước Việt Nam, nơi tôi đang sống, làm tôi thất vọng về trình độ phát triển. Sáng nay tôi được đọc một bản nói rằng năng suất lao động của người Việt chỉ bằng 1/5 của người Malaysia, 2/5 của người Thái Lan và tệ hơn, chỉ bằng 1/15 của người Singapore.
Singapore, một đất nước nhỏ bé về diện tích, đang ám ảnh những công dân Việt Nam ở thế kỷ 21 này. Những khu dân cư, những trung tâm thương mại, những thành phố mới được xây dựng… tất cả đều được “ăn theo” mô hình và kỹ thuật của Singapore. Nhưng tại sao lại là Singapore? Chẳng phải những mô hình, những kỹ thuật đó Singapore cũng đã học tập từ những quốc gia phương Tây tiên tiến hay sao? Tại sao từ một làng chài kém phát triển trên bán đảo Malay, Singapore đã phát triển thành một quốc gia đứng thứ 2 ở châu Á về mức sống? Câu trả lời có thể dẫn đến nhiều nguyên nhân, nhưng căn nguyên nhất vẫn là yếu tố con người.
Lý Quang Diệu, nhân vật đã thay đổi và biến làng chài nhỏ bị dịch bệnh triền miên trở thành đất nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu của châu Á. Singapore là nơi mà những kiến trúc hiện đại cùng chung sống với thiên nhiên chan hòa, nơi cả thế giới ngưỡng mộ về chuẩn mực môi trường xanh sạch, nơi có làn sóng di dân ngược từ châu Âu sang châu Á. Nhưng trong những ngày đầu lập nước vào thập niên 60 thế kỉ trước, Lý Quang Diệu, thủ tướng đầu tiên của Singapore, đã từng nói “hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn”. Thật đáng kinh ngạc khi có một thời chính nhà lãnh đạo của Singapore đã mơ tưởng và bị ám ảnh về sự phát triển của Sài Gòn.
Còn bây giờ thì sao? Sau hơn 30 năm, chính người Việt Nam đang thèm thuồng được như Singapore ngày nay. Sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, chính Lý Quang Diệu, người từng có tuổi thơ sinh sống tại Biên Hòa, đã nắm ngay lấy cơ hội đó để biến thời cuộc thành lợi ích cho Singapore. Sau năm 1975, tất nhiên Mỹ và phương Tây đóng cửa với Việt Nam, mọi giao thương với châu Á đều dành cho đồng minh của họ. Singapore được Lý Quang Diệu phát triển thành cảng trung chuyển đường biển lớn nhất tại khu vực. Và đúng theo quy luật về thương mại – kinh tế, Singapore được thừa hưởng những đặc quyền của một cảng biển lớn, một cửa ngõ hướng vào Đông Nam Á và cả châu Á.
Lý Quang Diệu cho rằng, cuộc chiến tranh giữa Việt Nam và Mỹ là tiền đề quan trọng cho sự phát triển của những nước phi Cộng sản ở châu Á. Rõ ràng là trước khi tuyên bố như thế, Lý Quang Diệu đã nhanh chóng nắm lấy cái “tiền đề quan trọng” đó để biến Singapore từ một quốc gia non trẻ kém phát triển thành một đất nước giàu có. Lý Quang Diệu nhận định rằng, sau khi Mỹ rút khỏi miền nam Việt Nam, lập tức những đồng minh của Mỹ ở châu Á tranh thủ thời cơ để trở thành 4 con rồng châu Á, và sau này có thêm sự xuất hiện của 4 con hổ Đông Nam Á. Bốn con rồng được nói đến là Singapore, Nam Triều Tiên, Hong Kong và Đài Loan. Bốn con hổ là Malaysia, Thái Lan, Philippines và Indonesia. Vậy Việt Nam đã biến đi đâu trong bản đồ khu vực? Và lý do gì Việt Nam lại tụt hậu một cách nhanh chóng như vậy?
Lý Quang Diệu từng nói rằng lẽ ra vị trí số một ở châu Á phải là của Việt Nam. Theo ông, vị trí địa lý chiến lược, tài nguyên thiên nhiên phong phú là hai yếu tố hàng đầu có thể đưa Việt Nam trở thành người khổng lồ ở châu Á. Ông cho rằng, đất nước Singapore nhỏ bé với diện tích và dân số chỉ xấp xỉ Sài Gòn, hoàn toàn không có tài nguyên thiên nhiên, chỉ có một ít đất để xây dựng và ngay cả nước sinh hoạt cũng phải nhập từ nước bạn Malaysia, nhưng Singapore đã phát triển trở thành đất nước có GDP cao thứ hai ở châu Á chỉ sau Nhật Bản. Lại nói đến Nhật Bản, Lý Quang Diệu cũng chỉ ra những bất lợi của quốc gia này, đó là một quốc gia bại trận sau Chiến tranh thế giới thứ hai, không giàu tài nguyên, quanh năm động đất và sóng thần, nhưng chỉ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, Nhật Bản là người khổng lồ châu Á. Lý Quang Diệu cho rằng, sự thành công của một quốc gia bao gồm ba yếu tố: điều kiện tự nhiên (vị trí chiến lược và tài nguyên thiên nhiên), con người và thời cơ. Trong đó, để có yếu tố thời cơ, thì yếu tố con người phải vững và nhanh nhạy. Lý Quang Diệu đánh giá rất cao điều kiện tự nhiên của Việt Nam, nhưng ông không đánh giá cao yếu tố con người trong sự phát triển chậm chạp này. Tôi hay đọc các bài viết trong nước ca ngợi sự thông minh, tính cần cù, chịu khó của người Việt. Xin lỗi, tôi không thấy được sự thông minh và cần cù đó. Xin nhắc lại, năng suất làm việc của người Việt Nam chỉ bằng 1/15 của người Singapore, tức là một người Singapore làm việc bằng 15 người Việt Nam. Dân số Singapore là 5 triệu dân, dân số Việt Nam là hơn 90 triệu dân. Vậy tức là năng suất làm việc của 5 triệu dân Singapore chỉ mới bằng 75 triệu dân Việt Nam, thế nhưng GDP của Singapore là gần 300 tỷ USD, trong khi GDP của Việt Nam là khoảng 170 tỷ USD. Đó chỉ là một so sánh chung chung, chưa tính đến dân số ở độ tuổi lao động của hai quốc gia. Một khi yếu tố con người đã yếu kém như thế thì yếu tố cơ hội cũng sẽ chẳng có nhiều.
Lý Quang Diệu tiếc vì Việt Nam không biết trọng dụng người tài, ông nói rằng người tài ở Việt Nam đã định cư ở nước ngoài hết rồi. Tôi đồng tình với quan điểm này của Lý Quang Diệu. Tôi thường nghe nói về cậu bé thần đồng Đỗ Nhật Nam và cũng thường xem các video thi hùng biện tiếng Anh của em. Báo chí và truyền thông Việt Nam cũng hay đề cập đến em, nhưng tuyệt nhiên không thấy có một động thái nào của chính phủ Việt Nam dành cho Đỗ Nhật Nam. Phải chăng đối với chính phủ Việt Nam, cậu bé ấy không phải là nhân tài cần đầu tư và phát triển? Chưa kể là trong một lần phát biểu về truyện tranh, cậu bé ấy đã bị những người lớn Việt Nam công kích, chỉ vì em không thích đọc truyện tranh mà chỉ thích đọc sách khoa học. Thật trớ trêu. Đỗ Nhật Nam chỉ là một trường hợp thần đồng được báo chí ưu ái, nhưng cũng bị chính phủ thờ ơ. Vậy còn những thần đồng thầm lặng khác ở cái đất nước hơn 90 triệu dân này thì sẽ nhận được hỗ trợ gì từ chính phủ? Trong mọi sự phát triển, yếu tố con người luôn tối quan trọng. Thật đáng tiếc.
Nói thế nào đi chăng nữa, Lý Quang Diệu cũng chỉ là người ngoài, không phải người Việt Nam. Thế nhưng những nhận định khách quan của ông cũng đáng để suy ngẫm về sự phát triển của một quốc gia nhiều thuận lợi như Việt Nam. Tôi thường thấy Việt Nam rất tự hào về lực lượng lao động trẻ với giá nhân công rẻ của minh. Tôi cảm thấy đó là một điều đáng xấu hổ. Giá nhân công rẻ chẳng qua là do trình độ, tay nghề kém nên chẳng thể đòi hòi được trả công cao. Gần đây, quốc gia láng giềng với GDP thấp hơn Việt Nam là Campuchia cũng đã tự chế tạo được xe hơi. Ngược lại, khi hãng điện tử Samsung đưa ra danh sách những mặt hàng có thể đặt gia công với các doanh nghiệp Việt Nam thì mới vỡ lẽ là Việt Nam chưa thể sản xuất nổi cái sạc pin, usb và ngay cả vỏ nhựa cho điện thoại di động. Tất nhiên, Việt Nam đã đánh mất cơ hội gia công cho hãng này. Việt Nam còn sẽ đánh mất nhiều cơ hội như thế cả về quy mô và số lượng nếu cứ tiếp tục tự hào với những cái thuộc về quá khứ và không nhận thức được một cách thấu đáo và nghiêm túc rằng mình đang ở đâu trên bản đồ khu vực và thế giới. Lý Quang Diệu nói phải mất 20 năm nữa Việt Nam mới bằng Malaysia, vậy thì 20 năm nữa Malaysia sẽ phát triển ra sao và mãi mãi người Việt Nam sẽ bị ám ảnh bởi sự thua kém của mình hay sao?
Cao Huy Huân

Giải quyết nguy cơ nội tuyến

ndt 2281
Truyền thông Hoa Kỳ có thể không hiểu cuộc Hội Thảo Thượng Đỉnh (HTTĐ) tại Bạch Cung là để mưu tìm phương thức đối phó với quân khủng bố IS, nhất là đối phó với những tên khủng bồ đang có mặt trên lãnh thổ Hoa Kỳ với tư cách công dân Mỹ, hoặc thường trú nhân. Do không hiểu thấu đáo, hãng thông tấn AP viết là chưa bao giờ Tổng thống Barack Obama lại trắng trợn bảo thẳng những tín đồ Hồi Giáo đang sống tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác là họ cần khẳng định thái độ với IS, đừng để tổ chức khủng bố này nhân danh Hồi Giáo và nhân danh họ, để giết người bằng cách vô cùng tàn ác là cắt đầu con tin.
Đúng như AP và nhiều cơ quan truyền thông khác viết, ông Obama quả có kêu gọi người Mỹ gốc Trung Đông, tín đồ đạo Hồi, lên tiếng khẳng định IS không phải là Hồi Giáo, mà IS chỉ là những kẻ phản giáo, đi ngược lại những giáo điều nhân đạo của đạo Hồi.
Nhưng lời kêu gọi đó của ông Obama chỉ là một phần nhỏ, trong nhiều công tác phức tạp và khó khăn mà ông vạch ra cho những tổ chức mang danh nghĩa “cộng đồng nhân dân” thực hiện.
Theo tài liệu FACT SHEET: The White House Summit on Countering Violent Extremism, (SỰ KIỆN: HTTĐ tại Bạch Cung về cách chống lại bọn quá khích bạo động) do phòng báo chí Bạch Cung thực hiện và phổ biến, còn có nhiều chi tiết quan trọng cần được truyền thông loan tải đến quần chúng – độc giả hay khán, thính giả của họ.
Chi tiết đầu tiên về cuộc HTTĐ cần được ghi nhận là cái tên của nó – Countering Violent Extremism – Chống Cực Đoan Bạo Động. Obama quan niệm việc tấn công tờ báo Pháp Charlie Hebdo là một hành động khủng bố, cực đoan bạo động nhưng không phải là do chủ mưu của IS, mặc dù bọn tấn công đã giết đến 11 người dân Paris.
Ông cho đó là việc làm của bọn Violent Extremists -bọn cực đoan khủng bố- mà ông muốn ngăn chặn bằng hệ thống Countering Violent Extremism (CVE) được tổ chức tại từng địa phương, quận, hạt trên lãnh thổ Hoa Kỳ, và trên khắp thế giới.
Obama coi đó là việc đáng buồn và đáng trách, vì thế giới tự do vẫn câu nệ hình thức, không muốn chấp nhận nhu cầu của một hệ thống “an ninh nhân dân” – người này để mắt đến hành động khả nghi của người khác.
Cảnh sát chìm không đủ đông, không có mặt khắp nơi, và không có mặt bất cứ lúc nào, để kịp thời ngăn chặn cuộc đánh bom hệ thống vận chuyển công cộng của thành phố Luân Đôn nên 4 tên khủng bố Hasib Hussain, Mohammad Sidique Khan, Germaine Lindsay, và Shehzad Tanweer đã dễ dàng đem bom đến ga xe điện ngầm, đến bến xe bus để đặt bom giết 52 thường dân và gây thương tích cho hơn 700 người khác vào giờ những công nhân này đón xe điện, xe bus đi làm. Chuyện xẩy ra ngày mùng 7 tháng Bẩy 2005, nên dư luận thường gọi là cuộc thảm sát Song Thất.
Nguy cơ nội tuyến không chỉ xẩy ra tại Pháp hay tại Anh mà Hoa Kỳ cũng đã gánh chịu hai cuộc tấn công, một bằng máy bay chúng không tặc chiếm giữ và điều khiển, và một bằng mìn, cả hai cùng do bọn nội tuyến thực hiện, cùng đến từ mụt ung thư trong ruột – nội tuyến.
Chuyện đánh bom xẩy ra trưa 15 tháng Tư 2013; vào lúc 2 giờ 49 phút, hai cái nồi ninh – được biến chế thành bom – đã phát nổ giữa đám đông những người tham dự cuộc chạy Marathon hằng năm của thị xã Boston. Hai quả mìn nồi đó giết 3 người và làm bị thương 264 người khác. Hai quả bom này được đặt cách nhau 190 thước, và nổ cách nhau 12 giây.
Sở cảnh sát Liên Bang FBI điều tra nội vụ bằng cách cắt nhiều chuyên viên ngồi nghiên cứu những video của các tiệm buôn đặt trước cửa tiệm, quanh mức đến của cuộc chạy Marathon, và khám phá ra thủ phạm là 2 anh em di dân Dzhokhar và Tamerlan Tsarnaev, gốc Chechen.
Sau khi FBI phổ biến chân dung thủ phạm, cuộc săn người diễn ra – ráo riết và tàn khốc; trong lúc tháo chạy hai nghi can giết một cảnh sát viên phục vụ tại trường MIT, Massachusetts, bắn bị thương một cảnh sát viên khác. Hung thủ Tamerlan Tsarnaev -người anh- bị trọng thương trong lúc đấu súng với cảnh sát, và chết vì bị xe cán – là một chiếc SUV do cậu em chiếm đoạt và trong lúc vội vã vọt đi tìm đường thoát thân đã cán lên Tamerlan, bị thương, đang nằm dưới bánh xe.
Hai anh em Tsarnaev đều là tín đồ Hồi Giáo, người em -Dzhokhar- mang song tịch -Mỹ và Kyrgyzstan- người anh Tamerlan Tsarnaev còn là một thường trú nhân, và cũng mang song tịch -Nga và Kyrgyz.
Tháng Giêng 2012, Tamerlan về Nga sống nửa năm, nhưng vẫn nhận food stamps của Mỹ trong khoảng thời gian sống tại Nga để được huấn luyện về cách chế bom, đặt bom.
Tờ New York Post, trong số phát hành ngày 18 tháng Hai 2015, nhắc lại những diễn biến này rồi nêu lên câu tuyên bố của ông Obama trong lúc khai mạc cuộc HTTĐ là, “Không tôn giáo nào chủ trương khủng bố; khủng bố và bạo động là trách nhiệm của con người.”
Obama chấp nhận việc dư luận chỉ trích ông là thiếu lập trường – họ viết trong lúc lính Mỹ chiến đấu và chết tại Trung Đông; thì chính ông lại không dám lên án Hồi Giáo; thật ra ông chỉ tránh không đối đầu với khối 1.57 tỉ tín đồ Hồi Giáo, chỉ tách khối IS quá khích ra khỏi khối Hồi Giáo, trong chiến thuật tránh diện, đánh điểm.
Trong chiến thuật Chống Cực Đoan Bạo Động, Obama nói với những nhân vật Hồi Giáo ông mời tham dự HTTĐ là chỉ có nửa phần ngàn tín đồ Hồi Giáo đang sống tại Mỹ bị ảnh hưởng của chủ trương bạo động, phá hoại trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Nửa phần ngàn của dân số 200,000 tín đồ Hồi Giáo mang quốc tịch Mỹ cũng đã nhiều đến 100 người; chủ ý của Obama là kêu gọi số còn lại -199,900 người công dân Mỹ theo đạo Hồi- không để cái thiểu số nguy hiểm đó núp dưới danh nghĩa Hồi Giáo, giết người Mỹ như 2 anh em Dzhokhar và Tamerlan Tsarnaev đã giết. Quan niệm không ai biết người Hồi Giáo bằng những tín đồ Hồi Giáo khác.
Nỗ lực của Obama giải quyết nguy cơ nội tuyến là việc người Nam Việt đã chật vật thực hiện trong cuộc nội chiến dài nhiều chục năm với chiến lược Ấp Chiến Lược; những hào sâu đào quanh ấp, những nông dân võ trang, giữ không cho Việt Cộng xâm nhập vào ấp, trong lúc bên trong ấp những biện pháp thanh lọc, kiểm kê dân số giúp kiện toàn công tác chống nội tuyến.
Vào thời điểm 1963, trong lúc gần 100,000 du kích quân Việt Cộng bị trục ra khỏi Ấp Chiến Lược, không chịu nổi đói khổ xin về hồi chánh, thì chính quyền Mỹ giết anh em ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, hai tác giả của chiến lược Ấp Chiến Lược, và do đó giúp nội tuyến Việt Cộng về đến Sài Gòn.
Năm nay, công tác “giải quyết nguy cơ nội tuyến” tại Hoa Kỳ có thể dễ hơn tại Việt Nam 52 năm trước, vì ông Obama không phải đối phó với nguy cơ bị giết như anh em ông Diệm đã bị giết; nhưng dễ dàng cũng chỉ giới hạn vào địa hạt an toàn sinh mạng của vị nguyên thủ quốc gia.
Ngoài ra, mọi khó khăn khác vẫn còn nguyên; một số người Mỹ vẫn chủ trương giao tranh trực diện với lực lượng Hồi Giáo như họ đã làm từ năm 2003 tại A Phú Hãn và Iraq. Nếu những người đó lên cầm quyền tổng tư lệnh để phải giải quyết nguy cơ nội tuyến, họ có thể bắt người Mỹ tín đồ Hồi Giáo sống trong các trại tập trung như họ từng bắt người Mỹ gốc Nhật sống tập trung trong những trại giam thời Thế Chiến Thứ Nhì.
Bắt giam người gốc Nhật hay tổ chức HTTĐ tại Bạch Cung cũng chỉ để tìm cách chống lại bọn quá khích bạo động, và cũng chỉ là 2 nỗ lực giải quyết nguy cơ nội tuyến – như Nam Việt đã làm bằng chiến lược xây dựng Ấp Chiến Lược.
Điểm trớ trêu là chuyện cũ rích tại Việt Nam đang được người Mỹ coi như một khám phá mới toanh.
Nguyễn đạt Thịnh

Từ chính lược đến chiến thuật


300px-Patton

Từ chính lược đến chiến thuật là con đường đi xuống, chính lược là cấp chỉ huy cao nhất trong chiến tranh, dưới chính lược là chiến lược, rồi đến chiến thuật, thấp nhất là cấp chỉ huy chiến trường.
Trong Thế Chiến Thứ Nhì (TCTN), Trung tướng George Smith Patton, Jr., chỉ huy Lộ Quân thứ 7 -quân số trên 300,000 người- đổ bộ vào Sicily, là biểu tượng cho một vị chỉ huy chiến trường; trên Patton một cấp là Đại tướng Dwight David “Ike” Eisenhower, Tư lệnh mặt trận Âu Châu, thống lãnh lực lượng đồng minh tấn công quân Đức Quốc Xã. Eisenhower là cấp chỉ huy chiến thuật, ông ấn định thời điểm, phương thức, quân số và hỏa lực cần sử dụng để vượt biển Manche tấn công Hitler.
Ngang cấp với Eisenhower là Đại tướng Douglas MacArthur, vị chỉ huy chiến thuật mang trọng trách đánh thắng quân Nhật trên mặt trận Á Châu.
Người chịu trách nhiệm chiến lược và chính lược toàn bộ cuộc TCTN là Tổng thống Franklin D. Roosevelt, Tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ. Với tư cách một chính lược gia ông quyết định đẩy cánh quân Mỹ tiến vào Bá Linh trước, trong lúc trì hoãn việc tiếp tế cho cánh quân Nga, khiến quân Nga đến Bá Linh sau quân Mỹ; quyết định đó là chiến lược dành ưu tiên chiến thắng Đức Quốc Xã cho quân đội Mỹ, và cũng là chính lược đối phó với Nga những năm sau này; năm đó -1945- Nga còn là đồng minh của Mỹ, nhưng chính lược gia Roosevelt đã nhìn thấy thái độ của Nga -sẽ thù nghịch và đối đầu với Mỹ- ngay sau khi đồng minh thắng Đức.
Roosevelt từ trần ngày 4/12/1945, trách nhiệm tổng tư lệnh chuyển qua ông Harry S. Truman, vị tổng thống thứ 33 của Hoa Kỳ. Quyết định chiến lược của tổng tư lệnh Truman là thả quả bom nguyên tử đầu tiên xuống Okinawa ngày 8/6/1945, để tránh một cuộc đổ bộ khó khăn và nhiều tổn thất cho quân đội Mỹ.
Từ ngày lập quốc cho đến hôm thứ Tư 11 tháng Hai 2015, trách nhiệm chiến tranh của vị đương kim tổng thống Hoa Kỳ luôn luôn nằm trên địa hạt chiến lược và chính lược. Thay đổi xẩy ra ngày hôm đó là Tổng thống Obama bước xuống địa hạt chiến thuật và đi thẳng vào chiến trường, ấn định từng chi tiết giao tranh; ông yêu cầu Quốc Hội ủy quyền cho ông giải quyết cuộc chiến tranh chống lực lượng Hồi Giáo IS bằng bộ binh, tấn công địch với chiến thuật biệt kích, phối hợp với hỏa lực không quân -những cuộc giao tranh nhỏ hơn cấp tiểu đoàn mà chính tướng Patton, vị chỉ huy chiến trường năm 1944 cũng không quan tâm quá đáng.
Ký giả Peter Baker nhận xét, “việc ông Obama làm là việc chưa một vị tiền nhiệm nào của ông làm: ông xin Quốc Hội giới hạn khả năng gây chiến của vị tổng tư lệnh quân đội Hoa Kỳ với một kẻ thù ở quốc ngoại. Ông còn xin Quốc Hội giới hạn cuộc chiến ông đang giao tranh (dù chưa được Quốc Hội cho phép) với lực lượng IS vào một khoảng thời gian 3 năm, giới hạn giao tranh vào những đơn vị nhỏ, đánh ngắn hạn, và đánh bằng chiến thuật biệt kích để thực hiện 2 công tác, một là giải cứu, và hai là bắt hay giết một lãnh tụ IS”.
Vài quan sát viên cho là Obama chỉ cần xin Quốc Hội cho phép ông tuyên chiến với IS, còn giao tranh cách nào, trong bao lâu là thẩm quyền tổng tư lệnh của ông. Có người lại cho là ông không muốn để chiến tranh bị mở rộng sau ngày ông mãn nhiệm kỳ tổng thống. Dĩ nhiên tất cả những điều đó chỉ là phỏng đoán.
Tuy tự giới hạn, và giới hạn quyền lực chiến tranh của những vị tổng tư lệnh tiếp nối sau ông, nhưng Obama vẫn còn để ngỏ một lối thoát rất lớn: ông không xin hủy bỏ đạo luật 2001 cho phép tổng thống Hoa Kỳ -lúc đó là ông Bush con- nhân danh chiến tranh chống khủng bố, tấn công quân sự tổ chức Al Qaeda và tấn công những lực lượng liên hệ.
Điều Obama xin là quốc hội Ủy Quyền Sử Dụng Quân Lực (Authorization for Use of Military Force-AUMF) cho ông, để đối phó với tổ chức IS đang tung hoành trên lãnh thổ Iraq và Syria, giết hại nhiều con tin bị chúng bắt giữ. Ông đã dùng hỏa lực không quân tấn công IS từ tháng Tám năm ngoái, với quyền lực của một vị tổng thống tổng tư lệnh và với hai nghị quyết AUMF 2001, AUMF 2002 ủy thác cho Tổng thống Bush con và những vị tổng thống kế tiếp.
Obama nói, “Mặc dù tôi vẫn có quyền sử dụng quân lực để đối phó với khủng bố, nhưng nghị quyết ban hành một AUMF sẽ khiến thế giới nhìn thấy quyết tâm của người Mỹ chống IS”.
Truyền thông ghi nhận 3 đặc điểm trong đề nghị của Obama:
Đặc điểm thứ nhất là ông tự cấm đoán không biến cuộc tấn công IS thành một cuộc chiến tranh mới ở Trung Đông mà quân Mỹ phải tham chiến; cấm đoán bằng cách không được sử dụng bộ binh vào những cuộc “hành quân tấn công kéo dài”.
Những cuộc đột kích thực hiện theo kiểu đưa biệt kích nhẩy vào Abbottabad, Pakistan, giết Osama bin Laden tối mùng 2 tháng 5/2011, có thể thành công, hay thất bại, nhưng không thể gây ra cảnh sa lầy cho quân đội Hoa Kỳ, như những cuộc “hành quân tấn công kéo dài”, tiến chiếm lãnh thổ A Phú Hãn hoặc Iraq.
Đặc điểm thứ nhì là quyết định AUMF của Quốc Hội lần này có giới hạn thời gian: 3 năm. Nếu sau 3 năm mà vẫn chưa dẹp xong IS, vị tổng thống kế vị Obama lại phải xin Quốc Hội ban hành thêm một quyết định ủy quyền khác.
Đặc điểm thứ ba là quyền sử dụng quân đội của Obama bị giới hạn vào lãnh thổ 2 quốc gia Iraq và Syria, chứ không mông lung như nghị quyết AUMF 2001, khiến chính quyền Bush có thể hành quân tại nhiều quốc gia như Afghanistan, Phillipines, Georgia, Yemen, Djibouti, Kenya, Ethiopia, Eritrea, Iraq và Somalia.
Phản ứng của Quốc Hội cũng khá phức tạp; cô Athena Jones của CNN phỏng vấn nhiều nghị sĩ, dân biểu, các chính khách Cộng Hòa cho là ông Obama tự trói tay, và trói những vị tổng thống sau ông, quá chặt, chặt đến mức khó đối phó với nhiều hình thái biến đổi của chiến trường.
Chủ tịch Hạ Viện John Boehner và thủ lãnh nhóm dân biểu đa số Kevin McCarthy đòi nới rộng quyền chiến tranh của tổng thống. Nghị sĩ Lindsey Graham (CH -S.C.) tuyên bố, “tôi chủ trương không ai có quyền gây trở ngại cho những nỗ lực chiến tranh; mà ban hành một AUMF giới hạn cơ may chiến thắng IS chính là hành động gây trở ngại cho chiến tranh.”
Nhiều chính khách thắc mắc về những giới hạn sử dụng bộ binh tấn công IS, mặc dù Tổng thống Obama đã trình bầy là ông không muốn đưa quân đội Mỹ vào một trận chiến tranh khác nữa tại Trung Đông.
Nghị sĩ Bob Corker (CH-Tenn.), chủ tịch tiểu ban Liên Hệ Ngoại Giao, cho biết trong vòng 2 tuần nữa ông sẽ tổ chức một buổi điều trần đòi tổng tham mưu trưởng Martin Dempsey trình bầy về chiến thuật chống IS của Hoa Kỳ.
Trong chương trình “Morning Joe” của đài MSNBC, Corker nói, “Tôi nghĩ là mọi người đều nhìn thấy tầm quan trọng của cuộc chiến tranh chống quân khủng bố IS. Các nghị sĩ, dân biểu cũng ý thức được tầm quan trọng của lá phiếu họ biểu quyết. Chúng ta sẽ rất thận trọng thảo luận việc ủy quyền cho tổng thống thực hiện và chiến thắng cuộc chiến tranh này.”
Khác biệt đầu tiên giữa hành pháp Dân Chủ và quốc hội Cộng Hòa là tầm vóc chiến tranh; Obama muốn bóp nhỏ cuộc chiến chống IS vào tầm vóc của một chiến dịch; việc ông không dùng bộ binh để tấn công dài hạn quân IS mang 2 mục đích: một là để tránh Mỹ hóa chiến tranh sau nhiều nỗ lực để hoàn trả trách nhiệm quốc phòng lại cho 2 quốc gia A Phú Hãn và Iraq; và hai là để tiết kiệm sinh mạng của binh sĩ Hoa Kỳ.
Hơn nữa, hình thức Mỹ tấn công bằng không lực trong 6 tháng vừa rồi khiến quân IS không còn khả năng hoạt động tập trung được nữa, mà phải phân tán thành từng toán nhỏ, thuận lợi cho chiến thuật biệt kích để giải cứu con tin và sát hại bọn lãnh tụ IS.
Đó là lý do Obama không chủ trương sử dụng bộ binh tấn công quân IS dài ngày; ông muốn dùng drones, dùng biệt kích đánh vỡ hệ thống đầu não của IS, như ông đã thành công trong việc đánh vỡ hệ thống đầu não của Al-Qaeda.
Từ vị trí chính lược, chỉ huy đạo quân hùng mạnh nhất thế giới, Obama đang quyết định những cuộc hành quân nhỏ -có thể nhỏ đến cấp trung đội 36 người lính biệt kích- nhưng đó là chiến thuật đúng để thắng cuộc chiến chống IS.
Với uy tín của vị tổng tư lệnh đã từng chiến thắng lớn nhất từ 70 năm nay, và với thành tích đánh tan tổ chức khủng bố Al Qaeda, đề nghị AUMF của ông sẽ được chấp thuận, dù Quốc Hội có nhiều chống đối.
Nguyễn đạt Thịnh

Bệnh loạn dâm

Strauss-Kahn_2433745b
Nguyễn đạt Thịnh
Ngày thứ Ba mùng 10 tháng Hai 2015, mới 4 giờ sáng, chi nhánh Paris của hãng thông tấn AP đã đánh đi bản tin về việc tổ chức Femen biểu tình trước tòa án Paris, vì ông Dominique Strauss-Kahn bị truy tố về tội orgy.
Chữ “orgy” có nghĩa là sex hội đồng, một loại sex party có nhiều người tham dự, và mọi người đều tự do làm tình với nhau. Mặc dù bất hợp pháp, loại party -họp bạn- này khá thông dụng tại Pháp; từ thế kỷ thứ 19 họa sĩ Édouard-Henri Avril đã để lại cho xã hội một bức tranh vẽ cảnh orgies, hùng biện và đầy đủ hơn mọi lời giải thích.
Cũng như chữ “orgy”, chữ “Femen” cần được giải thích; Femen là một tổ chức phụ nữ chuyên xuống đường trong tình trạng hở ngực; họ chống chiến tranh, chống những tổ chức du lịch tình dục, chống tổ chức tôn giáo, và chống nhiều chủ trương xã hội khác.
Nguồn gốc địa dư của Femen là Ukraine; khởi đầu là những cuộc xuống đường rất chính nghĩa -đàn bà Ukraine cởi trần biểu tình chống cuộc chiến tranh do lãnh tụ Nga Vladimir Putin gây ra. Tháng Tám 2013, tổ chức này tại Kiev đóng cửa vì bị nhiều đe dọa an toàn, có thể nguy hiểm đến tính mạng; họ chuyển qua Paris, và biến thể thành một tổ chức chống tôn giáo, chống chính quyền.
Strauss-Kahn bị truy tố về tội tham dự cuộc vui sex cộng đồng, và Femen tổ chức biểu tình xỉ nhục ông về tội mua dâm.
Orgy là sex hội đồng, Femen chống orgy vì cho đó là một hình thức mua dâm, hạ thấp nhân phẩm của phụ nữ, và Strauss-Kahn -một bị cáo- phủ nhận việc mua dâm, ông trình bầy trước tòa ông tưởng những phụ nữ tham dự cuộc vui orgy với ông cũng là những người nghiện tình dục như ông.
Chứng nghiện tình dục (sexual addiction) còn được gọi là lệ thuộc tình dục (sexual dependence), là tình trạng bị thúc đẩy tham dự tình dục, dù biết trước những hậu quả tai hại sẽ đến.
Strauss-Kahn không chỉ biết trước những hậu quả, mà ông đã lãnh những hậu quả đó, và đã trả giá rất đắt cho bệnh nghiện tình dục.
Có thể nhiều người vẫn còn nhớ vụ ông bị truy tố về tội hiếp dâm hôm 14 tháng 5/2011 tại khách sạn Sofitel, Nữu Ước. Strauss-Kahn là một chính khách, một giáo sư, một kinh tế gia, và ngày xẩy ra vụ hiếp dâm ông đang là đương kim giám đốc quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund-IMF); ông giữ chức vụ này từ ngày 9/28/2007 và chỉ từ chức ngày 5/18/2011, sau vụ hiếp dâm cô bồi phòng.
Ngày xẩy ra vụ hiếp dâm (5/14/2011), Strauss-Kahn rời khách sạn ra phi trường quốc tế John F. Kennedy, tại đó ông mới nhận ra là trong lúc vội vã ông bỏ quên cái điện thoại cầm tay. Ông gọi điện thoại yêu cầu khách sạn cho người đem điện thoại ra phi trường cho ông; ông cho người tiếp viên khách sạn biết địa điểm ông chờ nhân viên khách sạn.
Theo lời chỉ dẫn của ông, cảnh sát đến điểm hẹn gặp ông, và bắt ông về 4 tội danh 2 tội dâm dục (bắt người bồi phòng phải bú dương vật ông), một tội toan tính hiếp dâm, và một tội lạm dụng tình dục. Bộ ngoại giao Hoa Kỳ quyết định không cho ông hưởng quyền miễn trừ ngoại giao.
Strauss-Kahn mướn văn phòng luật sư Benjamin Brafman -danh tiếng nhất Nữu Ước- bênh vực ông, văn phòng này mướn một hãng thám tử tư tìm tòi về dĩ vãng và đời tư của cô bồi phòng Nafissatou Diallo.
Cô này được 2 hãng Kenneth Thompson và Douglas Wigdor of Thompson Wigdor LLP đại diện; hai hãng này cũng mướn một luật sư tại Paris để tìm những phụ nữ nạn nhân của Strauss-Kahn. Giới luật xả láng hơn thua vì cả 2 bên cùng nhìn vào khả năng tài chánh lớn lao của ông Strauss-Kahn.
Ngày 5/16, Strauss-Kahn ra tòa hình sự của thành phố Nữu Ước, bà Melissa Jackson ngồi ghế chánh án. Phía công tố trình bầy Diallo là một người di dân đến từ Guinea; cô khai với cảnh sát sự việc xẩy ra với nhiều chi tiết rõ rệt, khúc chiết, cô còn nhận diện đúng hình của ông Strauss-Kahn lẫn lộn trong nhiều hình của những người khác; tang chứng DNA được thu nhận và thử nghiệm.
Strauss-Kahn không nhận tội, nhưng bà chánh án vẫn không cho ông đóng “beo” tại ngoại, vì cảnh sát đã bắt ông ngay tại phi trường, vài phút trước khi ông lên máy bay trốn đi.
Ngày 5/19, ông bị một bồi thẩm đoàn quận Manhattan luận tội, rồi truy tố về 7 tội danh, trong đó có 2 tội danh hình sự dâm dục cấp một, mỗi tội danh này có thể lãnh án tối đa 25 năm tù giam. Cũng trong ngày hôm đó, chánh án Tối Cao Pháp Viện Nữu Ước Michael J. Obus chấp nhận cho Strauss-Kahn đóng beo $1 triệu, với quy chế quản thúc tại gia 24 giờ, và phải đeo xiềng điện tử trên cổ chân.
Luật sư xin cho Strauss-Kahn đóng thêm 5 triệu tiền tại ngoại nữa, và nộp passport cho tòa, để được giam lỏng tại một tư gia vùng ngoại ô Manhattan.
Ngày 5/24, kết quả thử nghiệm DNA cho thấy tinh trùng trên áo cô Diallo đúng là tinh trùng của Strauss-Kahn.
Bị giải tòa ngày 6/6, Strauss-Kahn vẫn khai vô tội; bên ngoài phòng xử, luật sư 2 bên tuyên bố với truyền thông. Biện hộ cho Strauss-Kahn, luật sư Benjamin Brafman khẳng định, “Sau khi nghiên cứu mọi chứng cứ, chúng tôi tin rằng không hề có hành động cưỡng hiếp.”
Luật sư Kenneth Thompson, bênh vực cô Diallo, nói quyền lực, tiền bạc, và ảnh hưởng của ông Strauss-Kahn, dù to lớn, cũng không che giấu sự thật được.
Strauss-Kahn là người gốc Do Thái, và năm 2010 tờ The Jerusalem Post xếp ông vào hạng thứ 6 trong số những người gốc Do Thái tạo ảnh hưởng lớn trên thế giới.
Ngày 7/1/2011, công tố viện trình bầy với tòa là lời khai của cô bồi phòng Diallo có nhiều điểm không vững; và cuối cùng ngày 8/23/2011, tòa chính thức miễn tố ông.
Luật sư Thompson đã lầm, vì cuối cùng Strauss-Kahn vẫn được miễn tố; cái giá ông phải trả nặng đến cỡ nào, mọi người chỉ có thể phỏng đoán; tuy nhiên, nghi vấn ‘đồng bạc đâm toạc tờ giấy’ -dù tờ giấy đó là quyển sách luật bệ vệ đến mức dễ nể của Hoa Kỳ- vẫn được truyền thông nêu lên.
Tuy nhiên, nếu quan niệm việc ông tốn tiền luật sư, việc mất chức giám đốc IMF, mất thiện cảm và sự kính trọng của xã hội như những hình thức trừng phạt, thì… một sự thật cũ kỹ lại lú ra là trừng phạt không trị được bệnh.
Cảnh sát đã chứng minh rõ rệt là họ không trị được bệnh nhậu của những người lái xe trong lúc say bằng cách phạt tiền, phạt tù, hay phạt rút bằng lái xe. Ngay khi ra khỏi tù, anh bợm cũng vẫn đi nhậu, và nhậu say rồi, anh vẫn leo lên xe lái bon bon, dù không có bằng lái.
Strauss-Kahn cũng là một người bệnh -bệnh loạn dâm, bệnh thích đàn bà. Thích không có nghĩa là muốn làm tình; khả năng làm tình của ông cũng giới hạn như khả năng của mọi người đàn ông khác, nhưng sau khi làm tình rồi, không còn khả năng làm tình được nữa, ông vẫn thích đàn bà; do đó ông và những người bạn cũng ham thích giống ông mới tổ chức những trò chơi tình dục orgies.
Là một viên chức chính trị, ông biết luật cấm bán và mua dục tình, nên khi ra tòa ông phủ nhận là ông không hề mua tình dục, không hề trả tiền cho người đàn bà nào trong tổng số 8 phụ nữ cùng bị bắt với ông và những người đàn ông khác trong trò chơi sex hội đồng.
Sau phiên tòa, một cô hooker bảo nhóm phóng viên hỏi cô về nhân vật Strauss-Kahn, “Tôi biết ổng là ai, dù ổng mặc quần hay không mặc quần.” Để nhóm phóng viên tíu tít hỏi xem cô biết Strauss-Kahn qua đặc điểm nào, cô hooker mới đủng đỉnh bảo họ, “ổng chi xộp lắm”.
Strauss-Kahn không nguy hiểm như những người mắc bệnh hiếp dâm, những người này nguy hiểm đến mức ở tù mãn hạn cũng không được trả tự do: ra khỏi tù những bệnh nhân hiếp dâm không được trở về sống với gia đình như mọi tù nhân mãn hạn khác.
Vì hiếp dâm cũng là một thứ bệnh như bệnh thích đàn bà nên người mắc bệnh hiếp dâm thích cưỡng bức, dù đôi khi việc cưỡng bức trở thành giết người, rồi tù tội và tử hình. Biết như vậy nhưng bệnh nhân hiếp dâm vẫn cứ hãm hiếp, vì họ lệ thuộc bệnh, họ mất tự chủ khi lên cơn bệnh, như người mắc bệnh ho, không thể nhịn ho.
Có thể luật pháp không thấy cần kiểm soát gắt gao những bệnh nhân thích đàn bà, như họ đang áp dụng quy chế cưỡng bách cư trú để kiểm soát những bệnh nhân thích hiếp dâm, vì dù phạm pháp và tái phạm, nhưng bệnh nhân Strauss-Kahn cũng chỉ gây rối trật tự xã hội chứ chưa gây nguy hiểm cho ai, ngoài cô bồi phòng Diallo.
Nguyễn đạt Thịnh

Thư gửi bạn ta :Cầu an

cầu an cho xe  Porsche
Cầu an cho xe Porsche
Bùi Bảo Trúc
Một câu trong bản hiến pháp Hoa Kỳ, câu “all men are created equal”, tất cả mọi người sinh ra đời đều bình đẳng nhất định không đúng trong tất cả mọi trường hợp. Câu này cũng đã bị mấy con heo trong cuốn Animal Farm của George Orwell sửa lại khi nó được viết trên bức tường của cái lẫm lúa nơi bọn gia súc họp với nhau trong những buổi tối. Mấy con heo gian ác đã thêm một câu vào phía sau để thành: “All animals are equal, but some animals are more equal.” Tất cả mọi thú vật đều bình đẳng nhưng vài con thú thì bình đẳng hơn.
Mới đọc thì thấy không ổn, nhưng nghĩ lại thì cũng thấy xuôi tai. Không phải con thú nào cũng như con thú nào. Những con ngựa đua thì được săn sóc, được đối xử tử tế hơn những con ngựa thồ, những con ngựa kéo xe thổ mộ gầy ốm tội nghiệp ở Việt Nam. Làm thế nào chúng bình đẳng với nhau được.
Luôn cả những đồ vật cũng vậy. Đôi giầy của Kate Middleton chắc chắn được đối xử nhẹ nhàng hơn những đôi giầy của chúng ta chẳng hạn. Chắc chắn là như vậy. Chiếc xe tôi đang đi cả hai tháng nay không được những bàn tay của mấy ông Mễ vỗ về đánh bóng. Thế thì làm gì có chuyện xe cộ bình đẳng với nhau tuy cũng cùng ra đời ở mấy cái xưởng sản xuất xe hơi ở Đức cả đấy chứ.
Vì thế, chẳng chỉ thân gái như hạt mưa sa (hạt vào gác tía, hạt ra cánh đồng) mà luôn cả những cái xe cũng vậy. Chiếc xe của tôi chạy cả hai chục năm nay bị đối xử chẳng thể nào được coi là tử tế ngoại trừ đúng ngày, đúng tháng hay mấy cái đồng hồ hiện lên vài ba câu hăm dọa hay nhắn nhủ thì mới thay nhớt, điều chỉnh cái này, sửa lại cái kia.
May mà cái xe của tôi không biết đọc báo chứ nếu nó mà đọc được mấy tờ báo trong nước thì không biết nó nghĩ về tôi như thế nào nữa. Cũng là xe cả, mà tôi đối xử với nó thua xa cách đối xử của một đại gia ở tỉnh Kiến An hôm tháng trước. Đúng ra là ngày 21 tháng 01 năm 2015. Chàng mới mua một chiếc Porsche, hình như đó là một chiếc 911 mầu trắng. Chàng liền thuê mấy ông sư (chắc là quốc doanh) đến đọc kinh cầu an cho cái xe của chàng. Xe mới mua, trước khi chạy những cây số đầu tiên, chàng kiếm sư nhờ, (nhưng chắc là thuê), vì chắc không có sư (?) nào chịu cầu an chùa (?) cho chàng cả. Trong ba tấm hình đi kèm theo bản tin cầu an cho xe, người ta thấy có hai người đàn ông mặc áo tu đi vòng quanh chiếc Porsche. Một người tay cầm lọ nước, chắc là nước phép để vẩy lên xe. Người kia chắp tay cung kính theo sau.
Chao ôi là sư với chả sãi! Tu hành không biết bao nhiêu năm để rồi vì vài triệu tiền công phải chắp tay cung kính với cái Porsche. Hai người đàn ông này cầu xin những điều gì cho cái đống sắt ấy, cho dù là nó được mua với cả trăm ngàn đô la?
Có thể là như thế này: Lạy Phật, Phật phù hộ độ trì cho cái Porsche này cho nó chạy ngon lành đừng nằm đường bậy bạ, không bị mấy đứa ghen ghét cào trầy sơn cho bõ ghét. Phật phù hộ chủ nó lái không nhắm mấy cái gốc cây, mấy cái cột đèn mà nhào đến, có chở theo con nào thì thỏa sức vui chơi, khỏi bị thằng C. đô la qua mặt hay mấy em chân dài đi những chiếc xe “khủng” khác át giọng. Phật phù hộ chủ nó an toàn trên xa lộ, không bị bọn chống tham nhũng cuội đòi chứng minh lấy tiền đâu mua xe, đòi xem giấy chủ quyền dọc đường xin tiền mãi lộ. Cầu Phật phù hộ cho mấy con chân dài ham ăn ham chơi không chịu làm cháu ngoan bác Hồ được thả cửa ăn chơi trước khi bị lừa bán vào động điếm bên Trung quốc…
Chắc phần cầu an cho chiếc Porsche phải đại khái như vậy.
Nhưng đã có trò cầu an cho chiếc xe Porsche thì chắc mấy ông sư này sẵn sàng bảo gì làm nấy, cứ chi cho ít tiền là lại kinh kệ xuống đường ê a đọc kinh ngay chứ gì. Chao ơi, lúc ấy thì tha hồ hốt bạc. Các thí chủ muốn mấy ông sư quốc doanh này làm gì là các ông làm ngay. Có người nhờ cầu an cho cái mũi plastic cũng được ngay. Người kia nhờ cầu an cho hai bịch silicone, cho cái bộ phận vừa được làm nhỏ như thời con gái chắc hai ông sư này cũng làm liền.
Vui kể gì.
Có một chi tiết khác cũng nên biết ở đây, đó là chủ chiếc xe Porsche này là một cán bộ nhà nước. Không biết lương lậu bổng lộc được bao nhiêu mà còn làm kiêm luôn… đại gia rồi còn mua được cả xe Posche nữa. Không hiểu được.
Bùi Bảo Trúc

World Cup mùa đông

qatar-2022
Có lẽ từ trước tới nay chưa có World Cup nào gây tai tiếng và tranh cãi nhiều như World Cup 2022 tại Qatar. Ngay từ lúc quyền tổ chức World Cup vừa được chính thức trao cho quốc gia dầu hỏa bé xíu với rất ít truyền thống bóng đá nằm ở khu vực Trung Đông vào năm 2010, thì lập tức đã có những cáo buộc Qatar đã hối lộ một số viên chức FIFA để mua phiếu, để rồi đưa tới một cuộc điều tra sâu rộng nhưng kết quả của cuộc điều tra lại được giấu kín không cho công bố.
Thế nhưng câu chuyện vẫn chưa hết, sau khi Qatar thắng cuộc đấu thầu, nhiều người quan ngại cho rằng chọn Qatar là một sai lầm vì khu vực này thời tiết không thuận lợi cho việc thi đấu vào mùa hè. Nhưng các giới chức FIFA đã lặp đi lặp lại nhiều lần rằng họ sẽ không thay đổi quyết định, thậm chí nếu có phải đổi lịch trình thi đấu theo truyền thống là vào mùa hè. Mặc dù Qatar lúc đấu thầu đã đưa ra đề nghị là họ có thể tránh được nhiệt độ mùa hè nơi đây vào ban ngày có thể lên tới 50 độ C (122 độ F) bằng cách trang bị cho các cầu trường một hệ thống máy điều hòa không khí với kỹ thuật hiện đại, nhưng đến nay lời đề nghị đó chưa thấy đi tới đâu dù thời gian chỉ còn bảy năm nữa.
Trước đây, đã có nhiều người đưa ý kiến có thể tổ chức các trận đấu vào nửa đêm, nhưng ý kiến này không được mấy người ủng hộ. Ngay chính chủ tịch FIFA Sepp Blatter cũng đã phải nhìn nhận rằng việc tổ chức World Cup tại Qatar vào mùa hè rất khó có thể thực hiện được và cho rằng thời gian thích hợp nhất là vào mùa đông. Mặc dù ý kiến này cũng bị nhiều người chống đối, nhưng theo những tin tức mới nhất cho biết có phần chắc chắn World Cup 2022 tại Qatar sẽ được tổ chức vào mùa đông. Theo bản tin của Sports Illustrated, nhóm đặc nhiệm của FIFA sẽ đệ trình đề nghị tổ chức World Cup Qatar vào thời gian của tháng 11 và 12 năm 2022 trong một cuộc họp tại Doha (Qatar) vào cuối tháng này, sau đó Ủy ban Điều hành FIFA sẽ chính thức thông qua quyết định cuối cùng trong cuộc họp tại Zurich (Thụy Sĩ) vào tháng 3 tới đây.
Nếu không có gì thay đổi, đây sẽ là World Cup đầu tiên từ trước tới nay ở khu vực Bắc bán cầu được tổ chức vào mùa đông. Nhưng quyết định này của FIFA mới chỉ là phần mở đầu của rất nhiều những bất tiện trong thời gian mấy năm tới đối với tất cả những cá nhân và tổ chức có liên hệ.
Trước hết, nhóm bị ảnh hưởng nhiều nhất là những liên đoàn bóng đá Âu châu, đặc biệt là những câu lạc bộ lớn mạnh nhiều tiền lắm bạc và là nơi mà những cầu thủ thượng thặng nhất trên thế giới đang đầu quân, vì mùa bóng đá Âu châu kéo dài từ tháng 8 đến tháng 5. Trong khi những World Cup trước luôn được tổ chức vào đúng thời gian sau khi mùa bóng đá ở Âu châu chấm dứt. Do đó, khi World Cup tổ chức trong thời gian tháng 11-12 sẽ làm cho lịch trình các trận bóng đá của các câu lạc bộ Âu châu bị lộn xộn vô cùng.
Hiệp hội Câu lạc bộ Bóng đá Âu châu có đưa đề nghị tổ chức World Cup sớm hơn một hoặc hai tháng, tức vào khoảng tháng 4 và 5, như đã từng xảy ra khi World Cup được tổ chức tại Nhật Bản và Nam Hàn năm 2002, nhưng đề nghị này đã không được lắng nghe. Thậm chí nếu tổ chức vào tháng 1 và 2 xem ra cũng là thời điểm thích hợp hơn, với phần lớn các liên đoàn bóng đá Âu châu lúc đó đang nghỉ đông. Thay vì vậy, mùa bóng trong hai, ba năm đó sẽ phải bắt đầu sớm hơn và kết thúc trễ hơn, nghĩa là World Cup 2022 không chỉ ảnh hưởng đến mùa bóng 2021-2022, mà ít nhất một mùa bóng trước và sau đó một năm. Trong khi đó, các câu lạc bộ sẽ còn phải đối diện với khó khăn là làm sao giữ cho thể lực của cầu thủ trong tình trạng hoàn hảo sau khi những cầu thủ này đã phải mất quá nhiều sức qua những trận đấu gay cấn của World Cup ngay giữa mùa bóng đá Âu châu.
Bất tiện kế tiếp là nếu Qatar bị cho là không thích hợp để tổ chức World Cup vào mùa hè, thì quốc gia này cũng sẽ không đủ khả năng để tổ chức giải Confederations Cup cũng vào mùa hè. Đây là giải để quốc gia tổ chức World Cup tập thử trước cho quen và được tổ chức đúng một năm trước World Cup. Giải Confederations Cup còn được dùng để quốc gia tổ chức xem xét lại các công trình xây cất hạ tầng cơ sở cũng như chu toàn kế hoạch tổ chức cho World Cup. Vậy, giải Confederations Cup cũng sẽ tổ chức vào tháng 11 và 12 năm 2021? Và nếu thế, FIFA có làm cho các câu lạc bộ Âu châu tức giận thêm nữa hay không vì các câu lạc bộ này bị buộc phải để cầu thủ rời câu lạc bộ trở về thi đấu cho quốc gia của họ?
Với mức độ khó khăn quá lớn trong tiến trình để biến một quốc gia sa mạc thành nơi tổ chức World Cup, thì việc tập dợt thử là điều tối cần thiết không thể sơ sót nhưng cũng không nên gây trở ngại và bất tiện cho những quốc gia và những liên đoàn bóng đá khác trên thế giới. Thế nên, cách dễ hơn hết là di chuyển giải Confederations Cup sang một quốc gia khác là nơi có thể tổ chức được vào mùa hè.
Với World Cup được tổ chức vào mùa hè, các đội tuyển tham dự thường được có ít nhất ba tuần lễ để cầu thủ tụ họp trước khi đi thi đấu. Đây cũng là thời gian tối quan trọng để các huấn luyện viên chuẩn bị đưa ra những quyết định cuối cùng để thành lập danh sách đội hình cầu thủ và đặt những kế hoạch thi đấu. Và trong thời gian huấn luyện, các đội tuyển còn chơi những trận giao hữu với những quốc gia khác để các cầu thủ làm quen với những trận đấu ở cấp độ quốc tế và chuẩn bị tinh thần.
Vì vậy, khó có thể mường tượng một World Cup diễn ra vào tháng 11 và 12 trong thời gian kéo dài một tháng lấn qua sân chơi của mùa bóng khác đang diễn ra không chỉ ở Âu châu mà còn nhiều nơi khác trên thế giới mà không mang lại những hậu quả xấu. Khi sự chuẩn bị của các đội tuyển không được chu đáo và tinh thần thi đấu của các cầu thủ không đạt được mức cao nhất, nhiều người lo lắng là các trận đấu tại World Cup Qatar 2022 vào mùa đông sẽ kém hay đi. Rất có thể FIFA sẽ hiểu ra là họ đang làm cho thương hiệu World Cup bị xuống cấp. Sợ là đến khi đó thì đã quá muộn.
Huy Vũ

Các kiểu giết người của con người

ngyt 2281
NgyThanh
Quan niệm về sát nhân trong các tôn giáo
Kể từ khi loài người nghĩ ra các phương tiện chiến tranh để làm hại và làm chết địch thủ cũng như soạn ra được luật pháp để giết các tội phạm một cách chính danh, tiền nhân của chúng ta đã không ngừng cải tiến, để các phương pháp sát nhân gây đau đớn hơn, đầy tính tàn bạo hơn, và phi nhân tính hơn cả loài thú giết và ăn thịt nhau.
Theo ngũ giới của đạo Phật, từ một Phật tử xin phát nguyện tu tại gia đến hàng tăng lữ ngay trong buổi lễ quy y hoặc phát nguyện đều quyết tâm tránh không vi phạm 5 giới răn dùng làm hàng rào ngăn ngừa các hành vi xấu qua thân thể, miệng lưỡi, ý nghĩ của mình để cầu mong được thụ hưởng quả báo tốt đẹp.
Trong ngũ giới, trước cả việc phải tránh trộm cắp, tà dâm, nói dối, rượu bia và các chất say – ngũ giới nêu ra trước nhất việc cấm sát sanh (Pànàtipàtà veramanì). Khác với tín lý của các tôn giáo khác, Đức Phật không áp đặt ngũ giới như điều luật nghiêm ngặt và triệt để, hay cưỡng bức việc tuân thủ bằng hình phạt, mà để tín đồ tự mình quyết định giữ giới hay không, và dùng năm giới như năm thành trì giúp họ tránh sa vào đường ác và hố thẳm tội lỗi. Không chỉ ngăn giết hại đồng loại, giới răn Pànàtipàtà veramanì còn khuyến cáo không nên giết từ con vật to lớn như trâu, bò, ngựa voi, mà đến cả các loài nhỏ bé như côn trùng, sâu bọ, dế, kiến v.v… và không những không làm chết, mà còn phải tránh gây đau đớn thương tổn cho con người và loài vật, nhằm nuôi dưỡng lòng từ bi, nhằm tránh nhân quả báo ứng, vì nợ máu sẽ phải trả bằng máu, nếu không nhãn tiền ngay trong kiếp này thì ở kiếp sau, làm oan nghiệp xoay vần không có ngày chấm dứt.
Đạo Islam cũng loại trừ hành động giết người. Trong cuốn Clear Your Doubts About Islam, bản dịch tiếng Việt của Dohamide Abu Talib, ở phần trả lời cho câu hỏi số 47, các soạn giả viết: “Thiên kinh Qur’An đã nghiêm cấm giết người trong những lời lẽ rõ ràng, ‘Và đừng giết hại linh hồn mà Allah đã nghiêm cấm, ngoại trừ do bởi quyền hạn hợp pháp’ (Chương 5, câu 32)” hay “‘Những ai giết hại một linh hồn cũng giống như đã giết hại toàn thể nhân loại’ (Chương 6, câu 151)”.
Trong Do Thái giáo và Kitô giáo, theo Kinh thánh cựu ước, Chúa Trời khắc 10 Điều răn (Ten Commandments) vào hai bia đá và gọi Moses lên núi Sinai rồi trao cho ông như bản hiến pháp đầu tiên. Sự tích quan trọng nầy được ghi trong Sách Xuất hành (Exodus) ở đoạn 20 câu 3 và trong Sách Phục-truyền Luật-lệ Ký (Deuteronomy) ở đoạn 5 câu 17: “Con chớ giết người”.
Nhưng trên thực tế, con người tiếp tục giết nhau, nhất là những kẻ cầm quyền lãnh đạo, tự cho mình có quyền sinh sát thiên hạ, nếu chẳng thế, văn hào Voltaire đã không mai mỉa các nhà lãnh đạo thế giới: “Giết người là điều cấm kỵ, do đó, mọi kẻ sát nhân đều bị phạt vạ, trừ phi họ giết hàng loạt, và vừa giết vừa khua chiêng gióng trống” (nguyên văn: “Il est défendu de tuer; tout meurtrier est puni, à moins qu’il n’ait tué en grande compagnie, et au son des trompettes.”). Câu nói bất hủ nầy của Voltaire, trình làng từ năm 1771, đã trở thành một lời tiên tri, khoảng 160 năm sau khi ông lìa trần sẽ được các nguyên thủ quốc gia phát xít và cộng sản như Adolf Hitler, Joseph Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh và Pol Pot lần lượt chứng minh cụ thể.
Có bao nhiêu cách làm chết kẻ khác?
Nhân loại đã dùng trí thông minh được Thượng đế trao ban để nghĩ ra được nhiều cách không chỉ làm chết kẻ khác, mà còn làm chết đồng loại một cách tột cùng đau đớn. Xin kể một số tác phẩm về thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử nhân loại qua các thời đại:
01/ Lăng trì, do người Trung Hoa nghĩ ra, được thế giới phương Tây biết đến dưới tên Ling Chi (凌迟), tức làm chết kẻ khác bằng cách cứa dao, thư thả, dần dà, khoan thai chậm rãi như việc uống trà. Nghệ thuật giết người nầy còn một tên thứ nhì nữa, gọi là sát thiên đao (杀千刀), tức làm chết bằng cách cứa không dưới một ngàn đường cắt. Vua Minh Mạng nhập cảng kiểu sát nhân ghê rợn nầy về nước, rồi Việt hóa bằng tên tùng xẻo, để áp dụng cho nhà truyền giáo thừa sai trẻ 32 tuổi tên Joseph Marchand vào hôm 30/11/1835 tại Sài gòn. Về sau, Marchand được Giáo hoàng John Paul II phong chân phước vào năm 1988. Đây là một trong những hình phạt tàn khốc và dã man được áp dụng phổ biến ở Trung Quốc từ năm 900 cho đến khi bị chính thức bãi bỏ vào năm 1905.
Là hình thức ghê rợn nhất trong các án tử hình, người bị hành hình sẽ vô cùng đau đớn vì không được chết nhanh chóng, có khi bị lột hết nửa phần da thịt trên cơ thể mà phạm nhân vẫn còn giãy giụa gào thét. Khi hành hình, phạm nhân bị treo ngược đầu xuống đất để não vẫn nhận được đủ lượng máu hòng khỏi chết hay hôn mê cho đến khi nhát cưa “ân huệ” cuối cùng cắt lìa các tĩnh mạch ở ngực. Ngoài nhiệm vụ xẻo từng miếng thịt trên thân tử tội, đao phủ còn có bổn phận phải giữ không để tử tội tắt thở nhanh chóng, trước khi nếm trải trọn vẹn sự đau đớn. Loại án tử hình nầy thường kéo dài nhiều giờ đồng hồ, ngoài mục đích làm chết người có tội, còn có chủ ý làm nhục người ấy sau khi chết.
02/ Đóng đinh vào giá chữ thập, là cách hành hình tội nhân được áp dụng từ thời cổ, với hai tay và hai chân phạm nhân bị trói chặt hay bị đóng xuyên qua bằng đinh vào một giá gỗ có hình chữ thập. Hình thức giết người nầy thường dành cho người nô lệ, phản quốc, dị giáo, hay những tội trạng tày đình, được dùng rất rộng rãi dưới thời Alexandros Đại đế (336 – 323 trước Công nguyên) bên Hy Lạp. Có nhiều cách xử tử tội phạm bằng thập tự giá, nhưng phiên bản chính thường là chính tử tội phải kéo lê hay vác lấy khúc gỗ đóng thành hình chữ thập của mình, nặng khoảng 50 kg, đến tận pháp trường, để bị trói hai tay dang hai bên hay bị đóng bằng đinh xuyên qua cườm tay, rồi thập giá được dựng đứng lên, cặp vào một khúc gỗ khác đã được chôn thẳng đứng sẵn từ trước. Tử tội sẽ chết khát, hay vì đứng tim. Đôi khi đao phủ “thương tình” dùng gậy sắt đập vỡ xương hai ống chân để tử tội chóng chết ngạt, đỡ kéo dài cơn đau đớn.
03/ Ném vào thùng nước sôi, sau khi bị lột trần truồng, hay thùng nước lạnh ngắt trước khi thùng nước bị đun nóng từ từ đến khi sôi. Có khi đao phủ dùng dây kéo cao tử tội lên rồi nhúng vào vạc chầm chậm nhiều lần. Chất lỏng trong vạc có thể là nước lã, cũng có thể là dầu, axít, nhựa dẻo, dầu hắc làm đường, rượu hay chì nấu chảy. Cách hành hình nầy được phổ biến tại nhiều nước châu Âu và châu Á. Chất lỏng đun sôi sẽ làm bỏng da, chảy mỡ, lòi thịt ra ngoài, làm vỡ các mạch máu. Một hình thức cải biến khác dành riêng cho tội nhân mưu toan đầu độc nhà vua vào thời kỳ trị vì của vua Henry VIII bên Anh từ năm 1509 đến 1547, bằng cách dùng chảo cạn, đun sôi dầu ăn hay nhựa đường rồi rán phạm nhân như chiên một củ khoai khổng lồ.
04/ Bánh xe tử thần, thường là bằng gỗ thật lớn để trói chặt tử tội vào và để các bàn tay và bàn chân thò ra khỏi vòng bánh, trước khi bị đao phủ dùng gậy hay búa sắt để đánh gãy các phần tứ chi lọt ra bên ngoài ấy. Bằng cách nầy, sau khi bị hành hình, tội nhân vẫn còn hấp hối đến bốn ngày sau mới tắt thở hẳn, như trường hợp tội nhân người Do Thái tên Bona Dies bị giết hồi năm 1348. Sau khi hành hình, dù phạm nhân chết hay còn thoi thóp, cả bánh xe lẫn xác người được đặt lên cột cao để chim chóc rỉa thịt.
05/ Xuyên thứ (穿刺), tức đóng cọc nhọn xuyên suốt qua người, là cách hành hình phạm nhân ghê rợn, được áp dụng vào thời kỳ Trung cổ bên châu Âu, kéo dài từ thế kỷ thứ 5 tới thế kỷ 15. Phạm nhân bị bắt ngồi trên đầu cọc gỗ cứng và nhọn, rồi mặc cho sức nặng thân thể trì xuống, làm người bị hành hình tuột xuống từ từ, để cọc đâm xuyên qua ngực, vai và cổ. Thông thường, cách hành hình nầy kéo dài tới ba ngày phạm nhân mới chết hẳn, một cách đau đớn và chậm chạp. Kiểu giết người nầy rất thịnh hành tại quốc gia Romania vào thế kỷ 15, dưới triều đại của vua Vlad Dracula, đến nỗi thời ấy người ta gọi tên ông thành Hoàng đế Vlad Xuyên Thứ, người đã ra lệnh hành hình hơn 80.000 người bằng phương pháp nầy, thậm chí, nhà vua còn sai người mang thức ăn tới pháp trường để vua vừa nhâm nhi ăn uống vừa thưởng thức cái chết mà người khác đang quằn quại rên siết.
Bên châu Á, người ta chế ra một kiểu tương tự, nhưng dùng tre thay gỗ, với phạm nhân bị trói chặt cố định bên trên một mụt măng. Măng tre có tốc độ tăng trưởng rất nhanh, mỗi ngày tới 30 cm, sau ít ngày, măng tự động đâm xuyên qua thân thể phạm nhân, từ bên nầy xuốt qua bên kia. Cách làm chết người nầy đã được áp dụng trong thế kỷ 19 tại Trung quốc và Mã Lai, kéo dài đến giữa thế kỷ 20, được binh lính Nhật áp dụng trong Thế chiến Thứ Nhì tại các vùng chúng chiếm đóng.
06/ Lột bì, tức lột da người đang sống, là phương pháp hành hình ghê rợn dưới thời cổ đại từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, khi hai nền văn minh Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại đan chồng lên nhau, áp dụng cho tù binh chiến tranh bị bắt hay cho các tội phạm nguy hiểm cho loài người. Theo với các nền văn minh, hình phạt nầy tập trung ở vùng quanh biển Địa Trung Hải rồi lan tràn ảnh hưởng đến châu Âu, Bắc Phi và Trung Đông.
Ở Trung Mỹ, nền văn minh của đế chế Aztecs trong khu vực thung lũng Mexico với nhiều bản sắc văn hóa đặc biệt, nhưng cũng ghê rợn trong nghi thức hiến tế phổ biến từ năm 1248 đến 1521 khi họ bị người Tây Ban Nha đánh bại. Trong văn hóa của Aztecs, họ xem Xipe Totec là vị thần cải thiện nông nghiệp, của sự phì nhiêu và sung túc, cũng như là thần bản mệnh của nghề kim hoàn. Chữ Xipe Totec có nghĩa “Vị thần Da lột”, xuất phát từ huyền thoại cho rằng thần tự lột da mình để nuôi sống nhân loại, phần da thịt ấy biến thành rau cải che phủ địa cầu vào mỗi độ xuân về, nhất là khi hạt ngô tự lột lớp da bên ngoài, chuẩn bị nẩy mầm để gieo trồng lấy hạt nuôi con người. Dân chúng thời đế chế Aztecs thường lột da tù binh họ bắt sống về, để tế thần. Lễ tế mang tên Tlacaxipeualiztli (lột da người) thường tiến hành vào ngày Xuân phân hằng năm, bao gồm nghi thức lột da nạn nhân, sơn vẽ thêm màu sắc và hình vẽ rồi các thầy tế choàng lớp da ấy lên người mình thay lễ phục để hành lễ. Trong một vài kiểu tế lễ khác, nạn nhân được phát một thanh kiếm giả để giao đấu với một binh sĩ có kiếm thật đến khi chết.
Thời đế quốc Assyria khoảng thế kỷ thứ 15 trước Công nguyên, phe chiến thắng đã tổ chức lột da phe chiến bại rồi mang các tấm da ấy ghim bằng đinh lên tường thành để cảnh cáo các phần tử manh nha ý định nổi loạn chống đối. Khi hành hình như thế, hai tay nạn nhân bị trói đưa lên cao quá đầu để đao phủ dùng dao lóc lớp da từ mặt xuống. Năm 415, bà Hypatia thành Alexandria của nước Ai Cập – một nữ thiên tài toán học kiêm triết học và thiên văn học – đã bị hành hình bởi một nhóm tín đồ Cơ Đốc cuồng tín, bằng cách bị lột da bằng vỏ hàu.
Lịch sử Trung quốc ghi nhận Tôn Hạo (242-284), Phù Sinh (335-357) và Cao Hằng (570-577) là 3 vị hoàng đế chuyên ra lệnh lột da mặt người dân. Riêng Minh Thái Tổ (1328-1398) đã từng cho lột da nhiều hầu thiếp, quan chức và thành phần nổi loạn, và chỉ trong năm 1396, ông đã hạ lệnh lột da khoảng 5.000 phụ nữ. Kiểu hành hình nầy do nhà Minh phát minh ra, và cũng chấm dứt theo triều đại ấy.
07/ Giết người bằng cách cho chuột gặm, cũng do người Trung quốc sáng chế ra vào thời Trung cổ, là một kiểu hành hình tàn ác khác bằng cách cho chuột đói nhốt chung với tử tội trong cái vại sành lật úp, để chuột vào gặm thịt da phạm nhân. Bên trên đáy vại, đao phủ cho chất than hồng để nung nóng nhiệt độ trong vại, làm chuột hoảng sợ chui rúc vào thân thể phạm nhân để trốn. Họa hiếm lắm mới có một người sống sót sau cách tra tấn nầy, phần lớn chết dần vì mất máu hay vì nhiễm trùng các vết thương.
08/ Tượng bò bằng đồng, là kiểu hành hình do Perilaus của thành Athens bên Hy Lạp nghĩ ra vào năm 560 trước Công nguyên và đệ trình cho bạo chúa Phalaris áp dụng. Tượng được đúc bằng đồng cao cỡ một con bò thật, chỉ có một cửa hông, phần đầu con bò được thiết kế bằng cách lắp đặt các ống xoắn để tiếng la thét vì đau đớn của phạm nhân khi lọt ra ngoài nghe giống y tiếng bò rống khi bị cắt tiết. Nạn nhân bị khóa chặt bên trong lòng tượng đồng sau khi bị cắt lưỡi, bên ngoài người ta chất lửa đốt đến khi người bên trong chết vì các chỗ bỏng trên thân thể. Điều trớ trêu là chính vị bạo chúa – nổi tiếng về thú vui ăn thịt trẻ sơ sinh còn bú mẹ hay mổ bụng những phụ nữ có thai để lấy thai nhi ra làm đồ nhắm rượu – lại cảm thấy kiểu giết người nầy kinh hoàng tột độ, nên phẫn nộ, và ra lệnh chính nhà phát minh Perilaus phải chui vào trong tác phẩm của mình để bị hành hình. Vẫn chưa hết trớ trêu: khi bị Telemachus cướp ngôi, chính Phalaris bị xử tử kiểu ác độc nầy vào năm 570.
09/ Đi thuyền, là một kiểu hành hình tàn bạo khác áp dụng trong xã hội Ba Tư cổ xưa, bằng cách nhét tù nhân vào bên trong một thân cây hay trong lòng một chiếc xuồng hẹp bề ngang, với đầu, hai tay và hai chân lọt ra bên ngoài, sau khi bị cưỡng bức phải uống một thứ sữa pha mật nhiều đủ để bị tiêu chảy. Số sữa pha mật còn thừa được bôi lên các phần thân thể bị phơi trần, để thu hút ruồi nhặng và các thứ côn trùng thích mật ngọt. Phạm nhân bị khóa chặt tay chân không xua đuổi được ruồi nhặng, nên các chỗ nhiễm trùng còn thu hút lũ côn trùng bu tới càng đông hơn. Khúc gỗ bọc người được thả trôi trong ao hay trong hồ, để ruồi nhặng chui vào cơ thể gây nhiễm trùng và sinh sôi nẩy nở, kéo dài thời gian chịu cực hình của người chết tới hai tuần, trước khi tắt thở hẳn. Trong thời gian nầy, người ta cố tình cho nạn nhân ăn uống để kéo dài sự sống và chịu thêm sự đau đớn cùng cực của thể xác.
ngyt 2283
10/ Máy chém, được bác sĩ Joseph-Ignace Guillotin phát minh vào năm 1789, đề nghị quốc hội Pháp áp dụng với lập luận rằng việc hành hình là nhằm chấm dứt sự sống của một phạm nhân thay vì gây ra các đau đớn thể xác. Kể từ cuộc hành hình đầu tiên 25/04/1792 ở Pháp bằng cỗ máy chặt đầu thiết kế với một bệ đáy với hai thanh sắt hay gỗ cứng dựng song song, cộng thêm lưỡi dao thật nặng và thật bén có thể nâng lên hạ xuống, thế giới bắt đầu dùng tên họ của người phát minh là Guillotin để cải biến thành danh từ chung guillotine đặt tên cho loại máy chém nầy.
Tuy nhân đạo hơn bất cứ cách hành hình nào của nhân loại trước đó, cách giết người nầy vẫn bị loại ra ngoài vòng pháp luật, và lần chém đầu sau cùng là vào năm 1977.
11/ Hôn lễ kiểu cộng hòa, là một kiểu hành hình mới lạ, áp dụng ở Nantes bên Pháp dưới tên gọi mariage républicain dưới Triều đại Khủng bố kéo dài 13 tháng, từ 27/06/1793 đến 27/07/1794, bằng cách trói người nam và người nữ trần truồng vào với nhau rồi ném xuống sông Loire. Một đôi khi, người nam và người nữ bị trói chùm ấy còn bị đâm xuyên ngang bằng một mũi kiếm trước khi bị trấn nước.
Tại châu Mỹ, bọn Mafia cải biên kiểu trói chung bằng cách trói nạn nhân rồi buộc đôi giày bằng xi măng nặng vào chân để khi ném xuống nước, kẻ bị xử tử chìm xuống và chết đuối.
ngyt 2282
12/ Voi giày, là kiểu xử tử phạm nhân được áp dụng ở các nước Nam Á và Đông Nam Á, nhất là tại Ấn Độ và Tích Lan. Voi tham gia việc nầy đã được huấn luyện thành thục để biết dùng chân giẫm lên thân thể phạm nhân và dùng vòi quấn vào người đưa lên cao trước khi quật mạnh xuống nền đá, như kiểu hành hình mà Nguyễn Ánh áp dụng với mẹ con bà Bùi Thị Xuân, một nhân vật trong nhóm Tây Sơn ngũ phụng thư, là vợ của Thái phó Trần Quang Diệu trong hàng ngũ của vua Quang Trung. Sử gia quân đội Phạm Văn Sơn trước khi bị Việt Cộng sát hại trong trại cải tạo Tân Lập ở tỉnh Vĩnh Phú hồi 1978 đã trích dẫn tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère, người tận mắt chứng kiến, kể lại thế nầy: “Đứa con gái trẻ của bà Bùi Thị Xuân bị lột hết y phục. Một thớt voi từ từ tiến đến. Cô gái biến sắc rồi mặt trắng bệch như tờ giấy. Nàng ngoảnh nhìn mẹ, kêu thất thanh. Bà Xuân nghiêm mặt trách: ‘Con phải chết anh dũng để xứng đáng là con của ta!’ Đến lượt bà, nhờ lớp vải bên trong quấn kín thân thể, nên tránh khỏi sự lõa lồ. Và bà rất bình thản bước lại trước đầu voi hét một tiếng thật lớn khiến voi giật mình lùi lại. Bọn lính phải vội vàng bắn hỏa pháo, đâm cây nhọn sau đít con vật để nó trở nên hung tợn, chạy bổ tới, giơ vòi quấn lấy bà tung lên trời. Nhưng trái với lệ thường, nó không chà đạp phạm nhân như mọi bận mà bỏ chạy vòng quanh pháp trường, rống lên những tiếng đầy sợ hãi khiến hàng vạn người xem hoảng hốt theo”. Về vụ hành hình bà Xuân, tác giả Đặng Duy Phúc, trong cuốn Việt Nam Anh kiệt, ghi thêm chi tiết: “Khi voi đưa chân toan chà đạp, bà đã thét lên một tiếng như sấm dậy khiến voi thất kinh phải thối lui, không chịu theo sự điều khiển của quản tượng. Cuối cùng, vua Nguyễn lệnh cho cột bà vào trụ sắt, lấy vải nhúng sáp nóng quấn khắp người bà rồi đốt cháy một cách man rợ…”
ngyt 2284
13/ Cưa thân, được áp dụng ở nhiều nơi tại châu Âu và châu Á, trong đó phạm nhân bị treo ngược đầu, hai chân mở rộng, và bị hai đao phủ dùng cưa để cưa thân thể làm đôi, bắt đầu từ háng xuống phía đầu. Cách hành hình nầy được dùng tại châu Âu dưới thời đế chế La Mã, tại Tây Ban Nha và một số địa phương ở châu Á.
14/ Móng mèo, đao phủ dùng dụng cụ bằng sắt chĩa ba có móc cong và nhọn có hình dạng giống như móng vuốt mèo, được tra vào cán dài để đao phủ xé rách da thịt phạm nhân, bắt đầu từ hai chân và hai tay để làm đau đối tượng trước khi xé thịt ở lưng, ngực, cổ và cuối dùng là da mặt. Phương pháp nầy thường dùng ở châu Âu vào thời Trung cổ, với nạn nhân bị lột trần truồng và bị trói để không thể chống trả. Kiểu hành hình nầy thường làm nạn nhân chết rất chậm sau nhiều ngày chịu đau đớn vì vết thương.
15/ Treo cổ (giảo hình), tử tội bị buộc dây vào cổ và treo lên cao, nạn nhân sẽ chết vì gãy cổ hay tắc thở và tắc mạch máu. Hình phạt này hiện vẫn còn áp dụng tại Iran và Singapore. Riêng ở Singapore, cách xử án nầy được áp dụng cho can phạm bị kết án tội buôn bán ma túy, bắt cóc hay sở hữu vũ khí.
Trong danh sách những tội nhân bị treo cổ của quốc gia nầy, có một thanh niên gốc Việt Nam bị hành hình cách đây gần 10 năm. Tháng 11/2002, Nguyễn Tường Vân, bấy giờ 22 tuổi, quốc tịch Úc, được móc nối để về Sài Gòn thăm quê hương lần đầu, lượt trở lại Úc, Vân đã mang từ Tân Sơn Nhất về Úc 396.2 gram bạch phiến chia thành nhiều gói quấn quanh người, đã bị bắt tại phi trường Changi của Singapore. Số ma túy nầy nhiều gấp 25 lần lượng có thể được ân xá, là 15 gram, do đó, chiếu theo Đạo Luật Chống Sử Dụng Ma Túy, phiên tòa ngày 20/03/2004 đã kết án tử hình.
Thủ tướng Úc John Howard gửi thỉnh nguyện thư đến Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long xin ân xá cho Vân nhưng chính phủ y án. Ngày 17/11/2005, chính phủ Singapore báo cho thân nhân biết đơn kháng án của Vân bị bác. Ngày 02/12/2005, Vân bị treo cổ, sau khi nước Úc tổ chức một cuộc thăm dò ý dân, và tỉ lệ đồng ý phải thi hành án treo cổ Vân cao hơn số người phản đối. Giá treo cổ là một khung bằng gỗ, nhưng tại Iran, chính phủ lắm khi làm nhanh gọn bằng cách chỉ việc treo một đầu dây thòng lọng lên một cành cây cao, bắt tử tội đứng lên chiếc thùng, đao phủ đá văng chiếc thùng, là xong.
16/ Lên giàn hỏa, đây là cách thức làm chết người phổ thông nhất, nạn nhân chết vì bỏng và bị ngạt thở. Do được phổ biến rộng rãi, nên sử sách ghi lại rất nhiều trường hợp hành hình kiểu nầy, ở nhiều nơi, như vụ thiêu sống Jacques de Molay (năm 1314), Jan Hus (1415), Joan of Arc (1431), Girolamo Savonarola (1498), Patrick Hamilton (1528), John Frith (1533), William Tyndale (1536), Michael Servetus (1553), Giordano Bruno (1600), Urbain Grandier (1634), và Avvakum (năm1682). Các ông John Rogers, Hugh Latimer và Nicholas Ridley tử đạo vì kiểu hành hình nầy vào năm 1555, rồi đến Thomas Cranmer trong năm kế tiếp. Ở Đan Mạch, năm 1617 chính phủ ban hành luật cấm dùng yêu thuật, làm ông bà phù thủy nào bị bắt đang hành nghề dùng tà ma để móc túi người mê tín đều bị thiêu sống, do đó, người ta ước tính có hàng ngàn thầy bùa đã bị lên giàn hỏa trong hai thế kỷ 16 và 17.
Nước Scotland cũng theo gương Đan Mạch, làm hơn 70 thầy bùa bị xử tử, người sau cùng bị giết là phù thủy Janet Horne năm 1727, nhưng bà thầy nầy bị ném vào vạc dầu đun sôi. Bên Anh, trong thời gian trị vì ngắn ngủi từ 1553 đến 1558, Nữ hoàng Mary Đệ Nhất đã đẩy lên giàn hỏa hàng trăm người mà bà cho là rối đạo, nên thế gian đặt cho bà cái tên Nữ hoàng Mary Máu Me (Bloody Mary). Người cuối cùng bị bà làm chết kiểu nầy là Edward Wightman, một tín đồ phái Baptist, bị thiêu sống tại Lichfield vào ngày 11/04/1612. Ngoài lý do tôn giáo, tội phạm cuối cùng bị kết án phản quốc là bà Mary Bailey, bị thiêu sống vào năm 1789, vì hành động làm giả tiền xu, còn người phụ nữ bị hành hình bằng cách thiêu sống vì tội giết chồng là Catherine Hayes, bản án được thi hành năm 1726.
Ở Bắc Mỹ, người bản xứ thường dùng cách thiêu sống để xử tử thành viên của bộ tộc khác hay người da trắng, vào thế kỷ 18 và 19. Nhưng hai vụ có tính lịch sử nhất là vụ người nữ nô lệ tên Maria ở Massachusetts phóng hỏa căn nhà của chủ để giết ông ta nên bị thiêu sống năm 1681 tại Roxbury. Cùng thời gian ấy, một nam nô lệ tên Jack bị kết án đốt nhà nhiều lần, bị xử treo cổ, sau khi chết mới bị vất xác lên cùng giàn hỏa để bị thiêu chung với bà Mary. Vụ thứ nhì là một nhóm nô lệ âm mưu giết chết chủ; người cầm đầu tên Mark bị treo cổ, còn người kia tên Phillis bị thiêu sống ở Cambridge vào năm 1755.
Ngày 03/02/2015, nhóm khủng bố tự xưng Quốc gia Hồi giáo (ISIS) công bố đoạn phim video dài 20 phút chiếu cảnh một người bị chúng hành hình bằng cách thiêu sống, mà chúng bảo là thiếu úy phi công Moaz al-Kasasbeh của Jordan, bị rớt máy bay vào ngày vọng Giáng Sinh vừa qua, khi ném bom xuống các mục tiêu ở gần Raqqah – thành phố lớn vào hàng thứ sáu của Syria, nằm bên bờ bắc sông Euphrates, cách Aleppo 99 dặm và cách đập thủy điện Tabqa lớn nhất của Syria chỉ 25 dặm. Đây là thành phố đã bị phe ISIS chiếm đóng và dùng để làm tổng hành dinh quân sự của chúng, nên bị các lực lượng quân sự phương Tây ném bom ác liệt. Kết án phi công F-16 tội đốt nhà, giết con trẻ và đòi đổi mạng với Sajida al-Rishawi, là người nữ mang bom tự sát đã chết hụt đang bị Jordan giam giữ, nhưng khi Jordan đòi ISIS đưa bằng chứng phi công vẫn còn sống, ISIS đã quyết định giết thiếu úy Kasasbeh.
Mặc dù tàn bạo là tiêu chuẩn thông thường của ISIS, nhưng đoạn video có thể làm người xem rùng mình, nhắm mắt, khi chứng kiến nạn nhân Kasasbeh mặc áo tù màu cam sáng rực, đứng trong lồng sắt, phe ISIS tưới một đường xăng dẫn ra xa, rồi châm lửa để thiêu sống người tù binh một cách dã man.
17/ Bỏ đói, cũng là cách hành hình, có vẻ nhẹ nhàng, không đau đớn, nhưng không kém phần ác độc, càng ác độc hơn khi người dân chịu cảnh ngộ “cám treo heo nhịn đói”.
Nước Ukraine vốn được xem là thúng bánh mì của châu Âu, và dân Ukraine là dân nhà nông chuyên nghiệp. Năm 1930, thủ lãnh Stalin của Liên Xô đẩy mạnh chính sách quốc hữu hóa và chụp mũ tất cả nông dân Ukraine là thành phần “kulaks”, tức địa chủ giàu có, cần phải bị xóa bỏ giai cấp. Quốc sách quốc hữu hóa nông nghiệp bắt nông dân địa phương tập họp thành từng đội có từ năm tới mười đội viên đặt dưới quyền cai quản của một cán bộ Cộng sản nòi được công an nhân dân và Hồng quân hậu thuẫn, để dễ dàng bị canh chừng cũng như loại trừ thành phần chống đối.
Những cá nhân nào có thái độ ngoan cố đều bị cưỡng bức lao động tận miền Tây Bá Lợi Á xa xôi và băng giá của nước Nga. Phía chính phủ, Stalin ra lệnh tịch thu toàn bộ mùa màng thu hoạch được của năm 1932, kể cả lúa giống, song song với việc đóng cửa các biên giới bao quanh Ukraine, và cho các đội đặc nhiệm tiến hành các cuộc lục xét định kỳ để bắt bớ gia đình nào còn cất giữ thực phẩm. Đói quá, dân làng đã giết chó và chuột để ăn thịt, nếu không săn bắt được các loài chim. Một số dân còn men theo bờ sông để mong kiếm được ổ chim với chim con hay trứng để cho vào dạ dày. Bắt được thủy vật như tôm cua, họ đã nghiền nát cả vỏ để ăn thay vì loại bỏ. Trên mặt đất không còn một thứ nấm nào kịp lớn trước khi bị con người lấy ăn. Ông Miron Dolot, một cậu bé 15 tuổi của thời kỳ nầy, đã may mắn sống sót để viết cuốn Hành hình Bằng Cái đói (Execution By Hunger), kể lại những chi tiết của bản thân và gia đình mình phải ăn cả trái cây hay rau cải vữa thối mà loài heo cũng phải úp máng chê không ăn. Ông cũng từng ăn côn trùng, ốc sên, thịt của trâu bò và lừa ngựa chết vì bệnh – trong khi vụ mùa Thu Đông năm 1932 được bội thu, nhưng lệnh chính quyền bắt tất cả phải chở tới nhà ga đường sắt để giao nộp cho cán bộ. Với tất cả các biện pháp bỏ đói quy mô nầy, Stalin đã làm chết bảy triệu người, và câu chuyện bị giấu nhẹm bưng bít khá thành công, đến khi cuốn sách nói trên được in ra vào năm 1985.
Nhưng bảy triệu nhân mạng gục ngã do bàn tay Stalin chỉ là chuyện nhỏ. Ở Trung quốc, theo giáo sư Frank Dikötter trong cuốn Nạn Đói Vĩ đại do Mao (Mao’s Great Famine) xuất bản năm 2010, chỉ bằng chính sách Bước Nhảy Vọt Vĩ Đại (大跃进) áp dụng năm 1958 nhằm đuổi theo và vượt qua nền kinh tế phồn thịnh của phương Tây, Mao Trạch Đông đã làm ít nhất 45 triệu người chết vì đói và vì bị đánh đòn trong khoảng thời gian ngắn chỉ 4 năm – gần bắt kịp tổng số người chết trong Thế chiến Thứ Nhì là 55 triệu.
18/ Chôn sống (premature burial). Mặc dù kỹ thuật nầy được các chính quyền dùng rải rác trong chiều dài lịch sử của nhân loại để giết các tử tội, nhưng biến cố được ghi rõ nhất là lần binh lính Nhật chôn sống thường dân trong Vụ Thảm sát Nam kinh, lúc thành phố nầy rơi vào tay quân Nhật vào tháng 12/1937. Hành động man rợ nầy được lặp lại ở mức độ qui mô hơn, giữa người cùng một nước, khi Hồ Chí Minh gởi bộ đội vào “giải phóng” thành phố Huế trong Tết Mậu Thân 1968. Trước khi bị đánh bật ra, “bộ đội cụ Hồ” đã chôn sống khoảng 5.000 người dân ở các hầm chôn tập thể quanh cố đô. Những hình ảnh do các phóng viên quốc tế chụp được đã phơi bày sự thực nầy, nhưng 47 năm sau, vẫn chưa có một bản án chính thức dành cho hành động man rợ ấy. Tiếp theo, sau khi tiến hành khảo sát 20 ngàn nấm mồ tập thể tại Cambodia, Viện Đại học Yale đã kết luận có ít nhất 1.386.734 nạn nhân đã bị giết chết do Pol Pot áp dụng kinh nghiệm chôn sống dân của Cộng sản Hà Nội truyền qua.
NgyThanh
Tết Ất Mùi 2015

Xài thử Windows 10

windows10
Microsoft vừa công bố bản thử nghiệm của hệ điều hành mới nhất Windows 10 vào ngày 22/01 vừa qua, với hàng loạt cải tiến và tính năng mới so với bản thử nghiệm sơ khai đầu tiên được ra mắt vào năm ngoái. Hiện Microsoft đang cho phép download miễn phí bản Windows 10 này.
Nếu muốn khám phá những tính năng mới trên Windows 10, nhưng lại lo ngại khi sử dụng một phiên bản thử nghiệm và chưa hoàn chỉnh có thể xảy ra lỗi thì có thể cài đặt và sử dụng Windows 10 ngay trên hệ điều hành sẵn có, trong giao diện của một cửa sổ, tương tự như một nhu liệu bình thường.
Cách thức này có thể áp dụng trên cả máy chạy hệ điều hành OS X.
Các bước chuẩn bị
Trước tiên cần chuẩn bị:
– Nhu liệu tạo máy ảo VirtualBox bản mới nhất. Download miễn phí tại:
Dưới đây hướng dẫn tạo máy ảo trên Windows, cách thức sử dụng trên OS X cũng tương tự.
– Tiếp theo, download file cài đặt của Windows 10 bản dùng thử mới nhất miễn phí tại đây.
– Về mặt hardware, cần sử dụng một máy tính được trang bị một bộ vi xử lý (processor) hỗ trợ chế độ ảo hóa (phần lớn các vi xử lý hiện nay đều hỗ trợ tính năng này). Ngoài ra, máy nên có bộ nhớ RAM tối thiểu 2GB.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

Thiết lập máy tính ảo trên Windows hiện có

virtualpc
Sau khi download VirtualBox, cài đặt và khởi hoạt để sử dụng.
– Từ giao diện chính, nhấn nút “New” ở menu.
– Từ hộp thoại hiện ra sau đó, tại mục “Name” điền tên của máy ảo mà mình sắp tạo ra. Tại đây bạn có thể điền Windows 10. Mục “Type”, giữ nguyên tùy chọn “Microsoft Windows”. Còn mục “Version” bên dưới, chọn “Other Version (32-bit)”.
Sau đó nhấn Next để tiếp tục.
Chinh 1
– Tại bước tiếp theo đó, nhu liệu sẽ yêu cầu người dùng thiết lập dung lượng bộ nhớ RAM cho máy ảo. Dung lượng RAM của máy ảo tùy thuộc vào dung lượng RAM tối đa trên máy tính thật, tuy nhiên tại đây nên thiết lập tối thiểu 1GB bộ nhớ RAM (1024MB) hoặc nếu cho phép nên thiết lập dung lượng RAM 2GB (2048MB).
Lưu ý: nếu máy có bộ nhớ RAM 4GB, chỉ nên thiết lập bộ nhớ RAM của máy ảo dung lượng 1,5GB (1536MB)
– Sau khi nhấn Next để tiếp tục, tại bước tiếp theo chọn “Creat a virtual hard drive now” rồi nhấn Creat để tạo phân vùng ổ cứng cho máy ảo.
Chinh 2
Để nguyên mặc định (VDI) và nhấn Next ở hộp thoại hiện ra sau đó, rồi chọn tiếp “Dynamically allocated” ở hộp thoại tiếp theo rồi nhấn Next. Nhấn nút “Creat” ở hộp thoại cuối cùng để khởi tạo ổ cứng cho máy ảo.
– Sau khi hoàn tất các bước thiết lập máy tính ảo, quay trở lại giao diện chính của VirtualBox. Tại đây sẽ thấy máy ảo có tên Windows 10 đã tạo ra. Click chuột phải vào mục Windows 10, chọn “Settings” từ menu hiện ra.
– Từ hộp thoại “Settings”, chọn “Storage” ở menu bên trái. Nhấn vào mục “Empty” ở giao diện bên phải (có biểu tượng chiếc đĩa quang), sau đó nhấn tiếp vào biểu tượng chiếc đĩa quang tại mục “CD/DVD Drive”  rồi chọn “Choose a virtual CD/DVD disk file” từ menu hiện ra (mục khoanh đỏ ở hình minh họa bên dưới).
Chinh 3
Tại hộp thoại chọn file hiện ra sau đó, tìm và chọn file ISO cài đặt của Windows 10 mà bạn download được ở trên. Nhấn OK ở hộp thoại “Settings” để lưu lại thiết lập.

Để sóng Wi-Fi trong nhà mạnh hơn

caithienWIFI-1
Wi-Fi sử dụng sóng vô tuyến để truyền thông tin nên có thể bị nhiễu bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng khi thiết lập một hệ thống mạng Wi-Fi là phải đặt bộ định tuyến (router) ở nơi phù hợp để có thể phát sóng đến mọi nơi trong nhà, đồng thời nên cấu hình router để tối ưu tín hiệu.
Dựng đứng ăng ten
Hầu hết router Wi-Fi ngày nay đều có một hay nhiều ăng ten có thể điều chỉnh được (trừ vài loại router có ăng ten ngầm bên trong). Để tối ưu tín hiệu Wi-Fi, điều đơn giản là hãy nhớ dựng đứng tất cả ăng ten của router lên theo hướng chĩa lên trời để có độ phủ sóng tốt nhất.
Đặt router ở vị trí thích hợp
Hãy cân nhắc vị trí đặt router để có hiệu năng tốt nhất khi sử dụng ở nhiều phòng khác nhau trong nhà. Nếu nhà có diện tích lớn hay có nhiều tầng, hãy đặt router ở vị trí càng gần trung tâm của ngôi nhà càng tốt, tính theo cả chiều ngang lẫn chiều dọc.
Bên cạnh đó, hãy nhớ là để có thể đạt được độ phủ sóng tối đa thì router nên được đặt ở những vị trí càng cao càng tốt.
Không nên đặt router gần những vật bằng kim loại có diện tích lớn như kệ sách hay tủ hồ sơ. Kim loại hoặc tường đá có thể chặn sóng Wi-Fi, trong khi gỗ hay tường thạch cao không gây ra vấn đề này.
Đổi channel
Nếu khu vực nhà bạn có nhiều mạng Wi-Fi khác nhau thì hiển nhiên sẽ gặp hiện tượng nhiễu sóng. Để hạn chế tình trạng này, trước hết hãy di chuyển router nhà bạn ra càng xa các điểm phát Wi-Fi khác càng tốt (nếu có thể).
Tuy nhiên, cách tốt nhất có thể làm là chuyển router sang sử dụng một channel khác. Tùy thuộc vào nhãn hiệu cũng như chủng loại, router sẽ có cách cấu hình khác nhau. Có thể tham khảo tài liệu đi kèm thiết bị hoặc tra cứu trên mạng dựa theo tên và model router. Hãy thử qua xem channel nào sẽ cho hiệu năng tốt nhất.