Thứ Sáu, 13 tháng 12, 2013

CHÍNH SÁCH TRỒNG NGƯỜI CỦA BÁC và ĐÁNG CSVN!!

facebook Nguyen Thi Hong



(Hình trên là các nử sinh trung học phổ thông dưới mái trường XHCN ngày nay. Các bạn có thể bấm mgay hình nầy để tham khảo tiếp Giáo Dục xưa..thời Pháp Thuộc, Giáo Dục VNCH...và một số hình ảnh xưa về vấn đề thi cử...)

…Cái học ngày nay thật hỏng rồi

Bảy thằng tới lớp, sáu thằng thôi
Ba chàng thất học thành ông sếp
Vỗ ngực rằng tao tiến sĩ rồi.



CHÍNH SÁCH TRỒNG NGƯỜI CỦA BÁC và ĐÁNG CSVN!!

Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nền giáo dục Việt Nam theo định hướng của Bác và Đảng với chủ trương HỒNG hơn CHUYÊN, một nền giáo dục hoàn toàn ngược với các nước tự do trên thế giới là đặt nặng CHÍNH TRỊ vào giáo dục. Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị. Số học sinh và sinh viên bị giới hạn tối đa về lý lịch, là một nền giáo dục phân chia giai cấp rỏ rệt, còn tệ hại hơn thời phong kiến và thời Pháp thuộc. Chính vì thế mà bằng cấp của hệ thống giáo dục của VNDCCH và CHXHCNVN không được tính tương đương với các nước khác trên thế giới, các du học sinh khi đi du học nước ngoài đều bị học lại!! Với chiến lược trồng người như vậy nên trong dân gian mới có câu ca dao:

Lãnh tụ học hết lớp ba
Đỉnh cao trí tuệ đảng ta tuyệt vời!

Nền giáo dục của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức có mặt từ năm 1945 nhưng đến năm 1946 vì phải sơ tán trước cuộc phản công của Pháp nên mãi đến năm 1954 sau khi chính phủ Việt Minh về tiếp thu thủ đô Hà Nội và tiếp quản các cơ cấu hành chính, trong đó có Tổng nha Học chính của Liên bang Đông Dương cũ, thì mới có cơ sở vững vàng để thực hiện. Với chính thể mới, hệ thống giáo dục này tồn tại cho đến năm 1985 khi nền giáo dục hai miền Nam Bắc thống nhất, dù rằng việc thống nhất chính trị giữa hai miền đã diễn ra từ năm 1976. Một đặc điểm của giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là có tính định hướng chính trị và giáo dục được xem là một thành phần phục vụ quan điểm của nhà nước.

Giáo dục tiểu học và trung học

Ngay từ năm 1946 Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cho áp dụng chương trình học của Hoàng Xuân Hãn (ban hành thời quốc gia Việt Nam củai chính phủ Trần Trọng Kim) ở cấp tiểu học và trung học. Nỗ lực của thập niên 1940 và 1950 cũng là phải xóa nạn mù chữ với sự đóng góp của Nha Bình dân Học vụ. Năm 1950, hai bậc tiểu học và trung học được quy hoạch lại tổng cộng có 9 lớp:

tiểu học (cấp I), bốn năm;
trung học cơ sở (cấp II), ba năm;
trung học phổ thông (cấp III), hai năm.

Năm 1956, chính quyền lại ra nghị quyết cải tổ giáo dục phổ thông, đổi lại thành 10 năm:

tiểu học (cấp I), bốn năm;
trung học gồm cấp II và cấp III, mỗi cấp có ba năm.

Nguyễn Khánh Toàn, Thứ trưởng Bộ Giáo dục đã dùng hệ thống giáo dục của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc và Liên Xô làm mẫu với sự giúp đỡ của cố vấn Liên Xô. Chủ trương của hệ thống giáo dục mới đặt trọng tâm ở mặt thực dụng. Xong năm lớp 10 học sinh thi lấy bằng trung học phổ thông.

Học sinh

Số liệu học sinh trung tiểu học:
Niên học Cấp I Cấp II Cấp III
1964-65 2.160.000 670.000 80.000
1966-67 2.410.000 810.000 100.000

Số liệu vào giữa thập niên 1960 cho biết tổng cộng cả ba cấp có 10.150 trường sở, trong đó có 242 trường cấp III. Số học sinh lên gần ba triệu và khoảng 80-85% trẻ em ở lứa 7 đến 10 tuổi đi học. Số học sinh từ cấp I lên cấp II rất thấp, chỉ khoảng 15%; từ cấp II lên cấp III xuống chỉ còn 10%. Cũng khoảng thời gian đó có 90.000 giáo viên.
Trường dạy nghề

Học sinh đậu cấp II có thể ghi danh học nghề thay vì lên cấp III. Khoảng 20% học sinh xong cấp II được chuyển sang trường nghề. Loại trường huấn nghệ có chương trình 2 năm, 2,5 năm và 3 năm. Cả nước có 106 trường (1962) đào tạo hơn 55.000 học sinh trong số đó 75% thuộc thành phần giai cấp công nông.

Giáo dục đại học

Bậc đại học thì vì lúc đầu phải sơ tán nên chủ yếu vẫn dùng chương trình thời Pháp thuộc kể cả tiếng Pháp để giảng dạy đến năm 1950 mới đổi sang tiếng Việt. Viện Đại học Đông Dương (tiếng Pháp: Université Indochinoise) phải đóng cửa nhưng rồi tái khai giảng vào cuối năm 1945 với tên mới: Trường Đại học Quốc gia Việt Nam với hơn 1.100 sinh viên ghi danh. Lúc đó trường có năm ban: Y khoa, Khoa học, Văn khoa, Chính trị xã hội, và Mỹ thuật. Trường này sau đó chuyển lên Việt Bắc và được sắp xếp lại. Trường Đại học Luật bị bỏ hẳn, thay thế bởi Trường Đại học Chính trị Xã hội, đến năm 1948 thì gọi là Trường Pháp chính. Trong khi đó Văn khoa dạy thêm ngoại ngữ: Anh, Nga và Hoa.

Sau khi trở về Hà Nội, Chính phủ ký nghị định ngày 6 tháng 3 năm 1956 tổ chức lại cấp đại học và lập ra năm trường đại học: Bách khoa, Nông lâm, Sư phạm, Tổng hợp (Văn khoa và Khoa học), và Y dược. Cũng kể từ đó giáo trình đại học bỏ mô hình của Pháp và theo chương trình học của Liên Xô, chú tâm đến mặt thực dụng. Học sinh phải chọn một chuyên môn rất sớm và rẽ theo học trình đó. Cũng theo mô hình của Liên Xô thì mỗi trường cũ đứng riêng thành trường độc lập, giao cho từng bộ quản lý. Bộ Xây dựng nắm Đại học Kiến trúc, Bộ Nông lâm điều khiển Đại học Nông lâm, v.v. Hệ thống giáo dục đại học bị phân tán đơn lẻ. Bộ Giáo dục không giữ vai trò quản lý mà chỉ là cơ quan liên lạc giữa các trường sở. Bậc đại học của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong thời gian hơn 20 năm không cấp bằng tiến sĩ nào nên sinh viên cần đào tạo kiến thức cao hơn thì phải đi du học ở Liên Xô và Đông Âu.

Bắt đầu từ niên học 1959-1960, tuyển viên muốn nhập học đại học bị chia thành bốn nhóm với những điều kiện căn cứ trên giai cấp và lý lịch như sau đây:

1. Thành phần cán bộ kháng chiến, thanh niên giai cấp công nông, cán bộ dân tộc thiểu số: 40%, Lý lịch sạch, tư tưởng chính trị vững chắc,xong lớp 10, nếu không thì có thể phải thi thêm một kỳ thẩm định nhưng vẫn được ưu tiên nhập học.

2. Thành phần cán bộ: 35% ( chọn từ con đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam, con em bần nông, cố nông, hoặc trung nông,con em liệt sĩ)

3. Thành phần khác: 25% chọn theo điểm

4. Thành phần "giai cấp bóc lột" không được quá 3%.

Vì quan niệm giáo dục phải PHỤC VỤ MỤC TIÊU CHÍNH TRỊ nên bất kể học ở chuyên ngành nào, sinh viên đại học đều phải học triết học Mác-Lê và lý thuyết đấu tranh giai cấp. 

Ngay trường Y khoa Hà Nội cũng phải tham gia chỉnh huấn Cải cách ruộng đất cùng "học tập công nông". Sinh viên khi tốt nghiệp không trình luận án mà chỉ thi hai phần: Chuyên môn và Chính trị.

Trong niên học năm 1975-76 thì lối học tập chính trị được đem áp dụng triệt để ở miền Nam và cả năm học đó được dành cho "công tác chính trị tư tưởng" cho các sinh viên và giảng viên.

Các cơ sở giáo dục đại học

Trường Đại học Y khoa Hà Nội: trước thuộc Viện Đại học Hà Nội nhưng theo nghị định năm 1956 thì tách riêng. Trường Y khoa bị cắt khỏi Bộ Giáo dục và chuyển sang Bộ Y tế và học trình rút bỏ từ bảy năm thành sáu năm, loại bỏ ngoại trú, nội trú và luận án. Ngoài ra Bộ Y tế mở một chương trình hai năm học bắt đầu từ năm 1960 ở Thanh Hóa, Nghệ An (Vinh), Nam Định, Vĩnh Phúc, Thái Bình, Hà Nam, Hà Đông và Phú Thọ để đào tạo hàng ngàn y sĩ trung cấp trong khi học trình bác sĩ y khoa rút xuống còn bốn năm. Việc này diễn ra được hai năm nhưng vì thấy không hiệu quả nên sau đó lại trở lại học trình sáu năm cho y khoa.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội: thành lập năm 1956 với bốn ngành, Cơ khí, Điện & Mỏ, Luyện kim & Hóa học, và Thực phẩm & Xây dựng.

Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội: thành lập năm 1956, tập trung vào các ngành khoa học cơ bản. Năm 1993, trường này sáp nhập với Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội để hình thành Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội: thành lập năm 1951, ban đầu với tên gọi Trường Đại học Sư phạm Khoa học (1951–1956), sau đó là Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1956-1966), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội I (1966–1993), Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (1993–1999) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, và trở lại tên Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào tháng 10 năm 1999.

Trường Đại học Nông lâm Hà Nội: thành lập năm 1956. Các tên gọi khác: Học viện Nông Lâm (từ 1958), Trường Đại học Nông nghiệp (từ 1963), Trường Đại học Nông nghiệp I (từ 1967), và Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội (từ 2007).

Số sinh viên vào năm 1964 có khoảng 27.000 sinh viên cấp đại học, trong số đó khoảng 20.000 theo học ở Hà Nội.

Hệ quả của chính sách trồng người của bác hù là: từ sau giải phóng xuống cấp nghiêm trọng.

Sinh viên, Bác sĩ trẻ đã ra trường, ngay cả nghiên cứu sinh hậu Đại học, vẫn còn viết sai chính tả. Nhà văn, Nhà báo, công chức hành chính sử dụng ngữ pháp và ngôn từ rất tùy tiện, rườm rà, khó hiểu, sai quy tắc, như: “Cửa hàng bách hóa tổng hợp”, “Cửa hàng thịt tươi sống Thanh niên”, “Cửa hàng nội ngoại”, “Phim hoạt hình”, “Thu hình viên”, “Ghi điện viên”, “Xí nghiệp cán kéo quấn cuộn dây đồng”, “Lễ mít tinh kỷ niệm ngày thành lập…”. Người ta không ngại ngùng thay từ Hán-việt thanh nhã bằng những từ bình dân thô tục giữa nơi công cộng: phân/ cứt, tiểu/ đái, Nhà vệ sinh/ Buồng ỉa đái, Phòng sanh/ Buồng đẻ.

Hiện nay vẫn còn tồn tại dư luận về việc một số cán bộ quân quản Miền Bắc lúc mới giải phóng, đã buộc sửa bảng hiệu “Bảo sanh viện Từ Dũ” thành “Xưởng đẻ Từ Dũ”.

Danh từ y học trước giải phóng cũng bị buộc nhường chỗ cho những cụm từ thiếu chuẩn xác, như: “Cơ thể học” (Anatomie) được thay bằng “Giải phẫu học” – trùng lấp với “Giải phẫu học (Chirurgie) là mổ xẻ. Tiếng Việt đang mất dần sự trong sáng và thanh nhã của ngày xưa. Vào giữa thập niên 80, một cán bộ cấp cao của Ban Khoa Giáo Trung ương (ĐQB) đã cảnh báo nguy cơ một sự tan rã từng mãng của nền Quốc gia Giáo dục, nếu tình hình không sớm được cải thiện.

Từ đó đến nay, nền Quốc gia Giáo dục của đất nước vẫn tiếp tục xuống dốc và hiện lâm khủng hoảng trầm trọng, chưa tìm được lối ra. Truyền thống đạo đức và giá trị học đường ngày càng bị xói mòn. Văn bằng Tú tài Việt Nam - trước giài phóng vốn có giá trị quốc tế - nay không còn được Pháp, Mỹ và các nước công nhận. Các nhà lãnh đạo giáo dục chạy theo thành tích, dối trên lừa dưới, có nơi biến học sinh thành “gà chọi” để được dịp thăng quan tiến chức.

Nhà giáo thiếu gương mẫu của người thầy. Nhà trường trở thành trọng điểm của ma túy, nơi thanh toán giữa các băng đảng học sinh, là cái chợ mua bán chữ nghĩa, nơi phô trương thế lực của con cán bộ cách mạng hoặc con nhà giàu.

Thi cử là dịp phơi bày sự thoái hóa nhân cách của kẻ sĩ thời nay: “phao”, quay cóp, đạo văn, thi thuê, giả bằng cấp mua bán luận văn và học vị. Dưới thời bao cấp, giáo viên bị cấm dạy tư, đồng lương không đủ sống buộc họ phải đi làm những việc đau lòng để cải thiện đời sống: đạp xích lô, bồi bàn, bán kem cho học sinh giờ ra chơi, dựng quán cà phê bia hơi, … Sĩ khí truyền thống lừng lẫy của cha ông ngày xưa đã không còn trong nhà trường mới xã hội chủ nghĩa.

Trong lịch sử dựng nước của dân tộc, chưa có thời kỳ nào người trí thức - sĩ phu - bị thoái hóa nhân cách và lâm hoàn cảnh nhục nhã, đoạn trưòng, như thời nay. Những đợt cải cách giáo dục trong 30 năm qua, trên thực tế đang làm hư hỏng giới trẻ học đường và phá hoại sự nghiệp giáo dục của tiền nhân để lại.

Từ người ra ngợm, từ thứ trưởng đến các ban ngành đều thi nhau xài bằng gĩa.http://vtc.vn/2-301758/xa-hoi/thu-truong-bo-y-te-tu-phong-minh-la-tien-si.htm

http://www.anninhthudo.vn/Ban-doc-lam-bao/Lanh-dao-Truong-DH-Chu-Van-An-su-dung-bang-cap-bat-minh/507752.antd

http://kienthuc.net.vn/phap-luat/khoi-to-giang-vien-truong-dh-tay-nguyen-vi-xaibang-gia-184423.html

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130509/phuong-doi-truong-xai-bang-tot-nghiep-gia.aspx

Tình trạng bằng giả ở nước CHXHCNVN, báo chí đã nói đến nhiều, nhưng cách xử lý ra sao thì rất ít người biết. Nói cho cùng, chức danh này nọ mà chưa đánh giá đúng thực lực; chưa thật minh bạch; xử lý chưa nghiêm.

Thời gian qua tại nhiều trường ĐH ở TP.HCM đã phát hiện hàng trăm trường hợp sử dụng bằng giả được làm rất tinh vi. Điều đáng nói là các “cò” vẫn nhởn nhơ mua bán mà không hề bị xử lý.Hẻ cứ kiểm tra là phát hiện bằng giả!! Hết thuốc chửa!!

(nguồn tổng hợp Internet)

Nguyen Thi Hong

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét