Thứ Năm, 9 tháng 1, 2014

Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?

ĐCV: Nhân dịp kỉ niệm 40 năm ngày Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa, báo chí ‘lề phải’ Việt Nam đã có nhiều tin bài điểm lại cuộc chiến. Đa số dành những lời lẽ trân trọng cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa dã ngã xuống trong cuộc hải chiến không cân sức. Đâu đó còn xuất hiện ý kiến truy tặng danh hiệu tử sĩ cho những người đã hy sinh.
Có thể nói, so với mấy năm trước đây, liên quan tới biển Đông, Việt Nam chỉ dám ấp úng ‘nước ngoài’, ‘tầu lạ’ khi nhắc tới Trung Quốc thì đây là một sự thay đổi đáng ghi nhận. Ở một nước kiểm duyệt chặt chẽ như Việt Nam, sự thay đổi này nhất định phải được bật đèn xanh từ cung đình Hà Nội.
Bài viết dưới đây là một trong số những bài viết được kể tới ở trên.
——————————————————————–
Dù đã chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa. Và như vậy, thực sự Hoàng Sa vẫn đang là một vùng lãnh thổ tranh chấp.
Năm 2014 là thời điểm đánh dấu tròn 40 năm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa, một quần đảo có vị trí quan trọng trên biển Đông đang trong tầm kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa đã bị mất vào tay Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Từ đó cho đến nay, biển Đông chưa được yên tĩnh, những sự kiện nối tiếp nhau kéo dài từ biển Đông cho tới biển Hoa Đông đã khiến nhiều người ví von khu vực Đông Á hiện nay như đang nằm trên một thùng thuốc súng.
Vì sao Trung Quốc dùng vũ lực để tấn chiếm Hoàng Sa vào thời điểm năm 1974 vẫn là một câu hỏi có nhiều câu trả lời khác nhau. Và việc tìm hiểu và lý giải quá khứ luôn là một phương cách để dự báo cho tương lai. Bài viết này nhằm đưa ra một cách lý giải về lý do và mục đích mà Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974.
Hải chiến Hoàng Sa 1974 khai hỏa
Hải chiến Hoàng Sa 1974 khai hỏa
Vì sao các quốc gia sử dụng sức mạnh quân sự trong các tranh chấp lãnh thổ?
Khi phân tích về lý do cũng như thời điểm mà một quốc gia sử dụng sức mạnh quân sự để giải quyết tranh chấp lãnh thổ nào đó, nhiều học giả cho rằng đó là do vị thế của quốc gia đó trong tranh chấp bị yếu đi. Sự yếu đi về vị thế này làm cho quốc gia cảm thấy mình sẽ không còn lợi thế khi “mặc cả lợi ích” trong việc giải quyết tranh chấp (bargaining power).
Lợi thế trong cuộc “mặc cả lợi ích” được M. Taylor Fravel, Phó giáo sư về Khoa học chính trị, Đại học MIT, định nghĩa bao gồm: i) Diện tích lãnh thổ tranh chấp mà quốc gia thực sự chiếm giữ; ii) Sức mạnh quân sự của quốc gia trong đối sánh với sức mạnh quân sự của đối phương trên vùng tranh chấp.
Khi một quốc gia thấy rằng vị thế của đối phương trong tranh chấp ngày càng tăng lên, đồng nghĩa với việc vị thế của họ ngày càng suy giảm, thì rất có khả năng quốc gia đó sẽ tiến hành biện pháp quân sự để khôi phục vị thế của họ. Thậm chí, để gia tăng vị thế của mình, họ còn có thể sử dụng biện pháp quân sự để có thể kiểm soát toàn bộ khu vực tranh chấp.
Mục đích Trung Quốc chiếm Hoàng Sa
Khi thành lập 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa kiểm soát rất ít trong số 4 quần đảo, bãi ngầm tại biển Đông, cũng như không kiểm soát được khu vực đảo Đài Loan. Trung Quốc lúc này đã phải đối đầu với các thách thức, chẳng hạn từ chính quyền Quốc Dân Đảng với sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, cũng như trên các đảo ngoài khơi khác tại khu vực biển Đông và biển Hoa Đông.
Năm 1951, Trung Quốc đã chính thức đưa ra yêu sách về chủ quyền của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng bị nhiều quốc gia khác phản đối. Tuy nhiên, sau này, Trung Quốc đã quyết định dùng sức mạnh để chiếm đoạt hoàn toàn Hoàng Sa năm 1974.
Trung Quốc đã thực hiện việc sử dụng vũ lực vào một bối cảnh khiến vị trí của họ trong tranh chấp đã bị suy giảm khi: i) Quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tích cực mở rộng sự có mặt trên Hoàng Sa; ii) và các lợi ích ngày càng thấy rõ của biển khơi, đặc biệt là tài nguyên dầu mỏ, khi thế giới đang bước vào cuộc khủng hoảng dầu mỏ những năm 1970.
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo chính, nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) nằm ở phía Tây Nam quần đảo, nhóm An Vĩnh (Amphitrite) nằm ở phía Đông Bắc. Năm 1956 quân đội Trung Quốc đã chiếm đảo Phú Lâm (Woody) thuộc nhóm An Vĩnh (Amphitrite). Trước đó, quân đội Pháp đã chiếm đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen), rồi đến năm 1956, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã thay chân Pháp kiểm soát đảo này.
Trung Quốc, khi nhìn thấy những lợi ích của các vùng biển này, đã quyết định phải kiểm soát được tất cả các đảo thuộc Hoàng Sa, vì trước đó, khoảng giữa những năm 1950, các đoàn tàu thương mại của Trung Quốc đã buộc phải đi qua vùng biển cạnh khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen). Năm 1959, quân đội Việt Nam Cộng hòa đã tăng cường kiểm soát chặt chẽ các đảo này, buộc các ngư dân Trung Quốc phải tránh xa khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen) này.
Tuy Việt Nam Cộng hòa không tỏ ra có hành động đe dọa nào đối với Trung Quốc tại nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite), với ý định mỗi bên sẽ kiểm soát các khu vực biển thuộc xung quanh nhóm đảo mà họ đang kiểm soát, nhưng các hành động này của Việt Nam Cộng hòa đã làm suy giảm lợi thế của Trung Quốc. Và, vì thế, Trung Quốc đã sử dụng sức mạnh quân sự như một biện pháp để phục hồi lại vị thế lợi ích của mình tại đây.
Vào đầu những năm 1970, các lợi ích từ tài nguyên biển trên biển Đông trở nên rất quan trọng, đặc biệt tại các khu vực mà các bên tranh chấp.
Năm 1970, Philippines hoàn thành việc khảo sát địa chấn tại các vùng nước xung quanh Trường Sa, và năm 1971 bắt đầu tiến hành khoan thăm dò. Trong khi đó, Việt Nam Cộng hòa cũng bắt đầu việc khai thác nguồn dầu khí ngoài khơi, và tháng 7/1973 Sài Gòn đã ký kết 8 hợp đồng khoan thăm dò tại những nơi được cho là có nhiều dầu mỏ trên biển Đông. Tháng 1 và tháng 3/1973, Việt Nam Cộng hòa cũng đã cho tiến hành khảo sát địa chấn tại khu vực xung quanh nhóm đảo Nguyệt Thiềm.
Còn tháng 12/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng công bố cho thấy triển vọng của các giếng dầu ở ngoài khơi Vịnh bắc Bộ, phía bắc của quần đảo Hoàng Sa.
Với những giá trị kinh tế của các nhóm đảo ngoài khơi ngày càng gia tăng, các quốc gia khác cũng bắt đầu giành lấy những cấu trúc tại Hoàng Sa, Trường Sa, ở những nơi mà Trung Quốc hoàn toàn không có sự hiện diện nào. Để củng cố cho các yêu sách của mình, Philippines đã chiếm 5 đảo và đá tại Trường Sa trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến năm 1971. Đây là lần đầu tiên Philippines có sự hiện diện tại vùng lãnh thổ tranh chấp này.
Tháng 9/1973, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố sáp nhập quần đảo Trường Sa vào địa bàn tỉnh Phước Tuy. Các hành động của các quốc gia này chỉ trong chưa đầy 3 năm đã đẩy Trung Quốc vào thế bất lợi trong tranh chấp này.
Để đáp lại những hành động đó, Trung Quốc quyết định mở rộng sự hiện diện của mình trên những hòn đảo ngoài khơi biển Đông, nơi có ít sự trợ giúp của các lực lượng hải quân của các quốc gia khác.
Đặc biệt, sau cuộc gặp lịch sử giữa Mao Trạch Đông với Nixon vào đầu năm 1972, và sự kiện Mỹ rút ra khỏi Việt Nam sau Hiệp định Paris đầu năm 1973, Bắc Kinh đã thấy trước một khả năng mới: Họ có thể loại trừ khả năng can thiệp của Hải quân Mỹ nếu cưỡng chiếm các hòn đảo thuộc do Việt Nam Cộng hòa quản lý.
Trung Quốc đã sử dụng các ngư dân để gia tăng sự hiện diện của họ trên vùng biển nhóm Nguyệt Thiềm (Crescen) từ năm 1973. Ngày 9/1/1974, các ngư dân Trung Quốc từ đảo Hữu Nhật (Robert) áp sát tới gần đảo Hoàng Sa (Pattle) – nơi mà Việt Nam Cộng hòa đang đóng quân trên đó. Ngày 11/1, Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc công khai thách thức Tuyên bố tháng 9/1973 của Việt Nam Cộng hòa.
Giữa tháng 1/1974, các tình huống đối đầu trở nên căng thẳng hơn. Tiếp theo các tuyên bố của Bắc Kinh, Sài Gòn gửi thêm một số tàu chiến tới khu vực nhóm đảo Nguyệt Thiềm (Crescen), trục xuất các ngư dân Trung Quốc ra khỏi khu vực này. Từ đó đã dẫn tới sự kiện ngày 19-20/1/1974, mà sau đó Trung Quốc đã giành được quyền kiểm soát trên toàn bộ quần đảo Hoàng Sa bằng sức mạnh quân sự của mình.
Kết luận
Mục đích làm gia tăng vị thế lợi ích là mô tả rõ nhất lý do vì sao và khi nào Trung Quốc sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ của họ với các quốc gia khác. Hoàng Sa là một ví dụ cụ thể, Trung Quốc đã cho thấy sự quyết đoán của họ khi vị thế của họ trong tranh chấp bị sụt giảm, đặc biệt khi gặp một đối thủ không mạnh hoặc khi Trung Quốc kiểm soát rất ít, hoặc gần như chưa kiểm soát phần lãnh thổ đang tranh chấp đó, Trung Quốc sẽ tìm cách ra tay.
Tuy nhiên cho dù đã chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa, Trung Quốc vẫn không nhận được sự công nhận của cộng đồng quốc tế về chủ quyền của họ đối với Hoàng Sa. Và như vậy, thực sự Hoàng Sa vẫn đang là một vùng lãnh thổ tranh chấp. Việc giải quyết tranh chấp như vậy cần phải tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế về tranh chấp lãnh thổ.
Thế nhưng, những sự kiện đã xảy ra đối với Hoàng Sa năm 1974 luôn là bài học kinh nghiệm xương máu cho không chỉ Việt Nam, mà còn cho tất cả những quốc gia có những tranh chấp lãnh thổ biển với một Trung Quốc hiện tại đầy tham vọng.
Hoàng Việt (Vietnamnet)

4 Phản hồi cho “Vì sao Trung Quốc chiếm Hoàng Sa năm 1974?”

  1. tudo says:
    Vì sao TC chiếm lấy đảo HS của nước VIỆT NAM….của dân tộc Việt Nam….????? . Vi VC……là người của ; TC nuôi dưởng giúp khí tài để làm tay sai Trung Thành…..” sông liền sông ! núi liền núi….!!!! ” .
    Và vi đế quốc tư bãng Mỷ muốn lợi dụng nhân công rẻ của TC làm giàu cho TƯ BÃNG Mỷ.
  2. Trúc Bạch says:
    Muốn chiếm trọn Biển Đông đầy tài nguyên, lại bao gồm những dãy quần đảo “hình thành như một vòng đai bảo vệ TQ” (sách giáo khoa của VNDCCH trước 1975), Trung cộng đã đặt ra sách lước để thâu tóm ngay khi HĐ/Giơ Ne Vơ được Hồ Chí Minh ký với Pháp năm 1954 .
    - Việc đầu tiên là Mao Trạch Đông chỉ thị cho Hồ Chí Minh phải công nhận chủ quyền hải phận 12 hải lý đối với các vùng lãnh thổ của TQ, bao gồm cả vùng hải phận xung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 của TQ đã ghi rõ (Nam Sa và Tây Sa) là thuộc chủ quyền của TQ .
    - Việc thứ hai là chỉ thị cho Hồ Chí Minh, bằng mọi giá là phải đánh cho “Mỹ cút” ra khỏi Đông Dương qua chiêu bài giải phóng Miền Nam – thống nhất đất nước ….
    Đúng như toan tính của Mao Trạch Đông – Hồ Chí Minh đã ra lệnh cho Phạm Văn Đồng ký công hàm ngày 14/9/1958 – vô điều kiện – “ghi nhận và tán thành….”, tôn trọng toàn bộ (mọi điều khoản) trong tuyên bố ngày 04/9/1958 của TC , mà trong tuyên bố ấy của TC có ghi rõ Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ của TQ .
    Triệt để thi hành chỉ thị của Mao, Hồ Chí Minh đã dùng danh nghĩa “giải phóng miền Nam” – Chống Mỹ Cứu Nước – Thống Nhất tổ Quốc ….v.v….., để bằng một giá “cắt cổ”, đã đuổi được “Mỹ cút” khỏi Đông Dương qua HĐ/Ba Lê 1973 .
    Để có thể an toàn rút khỏi miền Nam VN, Mỹ đã phải cam kết chấm dứt mọi can thiệp vào cuộc chiến trên bán đảo Đông Dương qua HĐ/Paris và “Case–Church Amendment” .
    Tóm lại, Trung Cộng đã nắm được ba yếu tố thiết yếu là :
    1/ – Nhân lúc VNCH đang phải đơn phương, túng quẫn, chật vật đối phó với các cuộc tấn công tàn khốc , ngày một gia tăng của CS Bắc Việt trên toàn lãnh thổ miền Nam ….
    2/ – Được Mỹ cam kết không can dự vào chiến cuộc của miền Nam VN thông qua HĐ/Paris và nghị quyết của quốc hội Mỹ (Case–Church Amendment – 26/1/1973)….
    3/ – Nắm được Công hàm 1958, lại được phía Hà Nội gián tiếp yểm trợ bằng các cuộc tấn công tàn khốc vào quân VNCH trong xuốt thời gian đã định….
    Với đầy đủ ba yếu tố Thiên Thời – Địa Lợi – Nhân Hòa; Ngày 19/1/1974, quân Trung Cộng đã tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam .
    Tóm lại :
    Ngày nay Trung Cộng có được Hoàng Sa – Trường Sa và hơn 80% Biển Đông là hoàn toàn nhờ công lao của Hồ Chí Minh và đảng CSVN !
    Dân tộc VN đời đời không thể quên được điều này !!
  3. nguyenlan says:
    Đọc bản tin mới dưới đây lại hình dung thấy cảnh cũ sắp sửa tái diễn : Ngoài khơi, giặc Tàu nai nịt súng ống, miệng xí xa xí xô ra oai nạt nộ những ngư dân Việt đang quỳ gối, khóc ròng chắp tay lạy lấy lạy để xin giặc Tàu tha mạng. Tuốt tận xa xa, bọn lính hải quân Việt Nam tên thì mặt cắt không còn giọt máu, đứa thì mặt tái xanh như tàu lá chuối, các đề đốc thì mặt rầu rĩ như bánh tráng nhúng nước; trong nội địa, bọn công an hùng hổ với dùi cui, roi điện trong tay, chân đi bốt cao sẵn sàng tay vụt, chân đạp vào mặt những người dân la ó phản đối bọn giặc Tàu cộng.Và trên truyến hình, phát ngôn viên của chế độ mấp máy môi ” tàu lạ” …
    Trung Quốc ra lệnh cho tàu đánh cá nước ngoài ra khỏi vùng Biển Đông
    January 8, 2014
    Bill Gertz
    Trungg Quốc ra lệnh cho tàu đánh cá nước ngoài phải xin phép để được giới chức khu vực chấp thuận trước khi đánh bắt cá hoặc khảo sát trong hai phần ba của Biển Đông, có thể gây ra mâu thuẫn mới giữa Bắc Kinh và các nước láng giềng về những tranh chấp chủ quyền trên biển.
    Quyết định nói trên có hiệu lực từ đầu tháng Giêng 2014 đã được chính quyền tỉnh đảo Hải Nam ban hành vào cuối tháng mười một 2013.
    Theo quy chế mới, tất cả các tàu đánh cá nước ngoài quá cảnh vào khu vực hành chính biển của Hải Nam – chiếm 2/3 diện tích Biển Đông khoảng 1,5 triệu dặm vuông – phải được sự chấp thuận của nhà chức trách Trung Quốc.
    Biện pháp mới áp đặt được công bố ngày 29 tháng 11 và ngày 03 tháng 12 qua phương tiện truyền thông nhà nước như một phần của chính sách luật biển của Trung Quốc.
    Luật pháp Trung Quốc tuyên bố rằng bất kỳ tàu nào vi phạm các quy định khai thác đó sẽ được đưa ra khỏi khu vực – thủy sản bắt được sẽ bị tịch thu, và sẽ bị phạt lên đến $ 82,600. Trong một số trường hợp, tàu đánh cá có thể được bị tịch thu và thủy thủ đoàn bị truy tố theo luật pháp Trung Quốc.
    Đây là lần đầu tiên Trung Quốc đã tuyên bố rõ ràng về mặt pháp lý về những tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei, và các quốc gia khác trong khu vực.
  4. noileo says:
    “Và như vậy, thực sự Hoàng Sa vẫn đang là một vùng lãnh thổ tranh chấp.”
    Hoàng Sa là của VN, lãnh hải chung quanh Hoàng Sa là của VN, vùng biển quyền lợi kinh tế, vùng đánh cá chung quanh Hoàng Sa là của VN.
    HS, lãnh hải chung quang HS, vùng biển quyền lợi kinh tế, vùng biển đánh cá chung quang HS bị Trung quốc chiếm đóng bất hợp pháp kể từ 1954.
    Nhắc lại, sự chiếm đóng kể trên là bất hợp pháp, vì thế, dĩ nhiên Trung quốc không thể có chủ quyền trên HS, không cần biết là “quốc tế” có công nhận [chủ quyền TQ] hay không,
    và cũng dĩ nhiên chủ quyền trên HS vẫn thuộc về VN
    Cho nên không thể gọi đó là “vùng tranh chấp”.
    “Vùng tranh chấp” là vùng mà chủ quyền chưa rõ ràng thuộc về ai, và có 2 hay nhiều quốc gia tranh nhau chủ quyền
    Trong khi Hoàng Sa thì đã rõ ràng là thuộc chủ quyền của VN, bị Trung cộng chiếm đóng, do đó HS không thể bị gọi là “vùng tranh chấp”.
    Gọi đó là “vùng tranh chấp” là một bước lùi.
    Cho dù chỉ là một bài báo bình thường, cũng không nên có những sơ suất như vậy. Một sơ suất như vậy sẽ có thể bị kẻ địch khai thác gây thiệt hại cho quyền lợi VN.
    Chẳng hạn Trung quốc có thể đưa ra luận điệu “nhân dân VN, qua báo chí của họ, cũng đã nhìn nhận đó là “vùng tranh chấp”, không nhìn nhận đó là vùng thuộc chủ quyền VN…”
    *****
    Theo luật quốc tế, một sự chiếm đóng bằng bạo lực, một sự chiếm đóng về quân sự không bao giờ mang lại chủ quyền.
    Tuy nhiên, quốc gia có lãnh thổ bị chiếm đoạt phải thường xuyên lên tiếng, ít nhất là một năm một lần, hoặc bất cứ khi nào kẻ chiếm đóng lên tiếng “khẳng định” chủ quyền nhận vơ, thì quốc gia có lãnh thổ bị chiếm đóng phải lập tức phản bác, khẳng định chủ quyền hợp pháp của mình.
    Có như vậy, chủ quyền nguyên thủy mới đuọc duy trì, có như vậy “chủ quyền” nhận vơ mới bị bác bỏ, không đuọc công nhận.
    Có như vậy, quốc gia có lãnh thổ bị chiếm đóng sẽ có toàn quyền thi hành mọi biện pháp để lấy lại lãnh thổ của mình, ngay cả xử dụng biện pháp quân sự & chiến tranh, nếu có khả năng, mà cũng không bị coi là “gây chiến”.
    Ngược lại, nếu không làm như trên, không thường xuyên khẳng định chủ quyền của mình, thì sẽ rơi vào trường hợp mà luật pháp quốc tế về “công nhận” gọi là “mặc nhiên công nhận”.
    Đó là mặc nhiên từ bỏ chủ quyền trên vùng lãnh thổ bị chiếm đóng, mặc nhiên coi như vùng lãnh thổ bị chiếm đóng thuộc vào chủ quyền của kẻ đi chiếm đóng.
    VNCH, ngay từ tháng 1-1974, liên tục cho đến 1975 vẫn luôn luôn lên tiéng khẳng định chủ quyền của VN trên HS, liên tục tố cáo & lên án hành động xâm lăng của Trung cộng, liên tục & tức thời bác bỏ mọi tuyên bố của Trung quốc nhận vơ chủ quyền của chúng HS.
    Sau tháng 4-1975 trách nhiệm trên thuộc về nhà cầm quyền cộng sản, và nhà cầm quyền Việt cộng đã làm gì để bảo vệ chủ quyền của VN trên HS? Thật là tệ hại khi Phạm văn Đồng, THủ tướng cộng sản, chuyên gia ký văn tự bán nước, và thuộc cấp Nguyễn Mạnh Cầm, lên tiếng phân bua về bản văn tự bán nước 1958 rằng thì là mà “tại vì hoàn cảnh chiến tranh nên …”.
    Luật pháp đâu cần biết tại sao, [tại cần tiền cưới vợ bé hay tại cần tiền cho bồ nhí] mà Phạm văn Đồng bán nhà cho Chu Ân Lai. Luật pháp chỉ biết căn nhà hương hỏa đã bị Phạm văn Đồng bán cho Chu Ân Lai, thì có nghĩa là Phạm văn Đồng đã bán nhà cho Chu Ân Lại. Luật pháp không chấp nhận cho Phạm văn Đồng lấy lại căn nhà sau khi Phạm văn Đồng đã tiêu hết tiền bán nhà cho bồ nhí, sau khi đã tận hưởng bồ nhí.
    Hành động phân bua như trên của Phạm Văn Đồng & Nguyễn mạnh Cầm chỉ có tác dụng xác nhận VN cộng sản đã dâng HS cho quan thầy Trung quốc cộng sản.
    Việt cộng, từ Hồ chí minh & Võ NGuyên giáp rước tàu cộng vào VN năm 1950, cho đến 1990 NGuyễn văn Linh & Võ văn Kiệt quỳ gối ở Thành Đô, cho đến thế kỷ 21 NGuyễn Phú Trọng 6 sao, toàn một lũ phản quốc, hết sức đần độn & hèn hạ trước mặt quan thầy tàu cộng.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét