Thứ Ba, ngày 03 tháng 3 năm 2015

Vì sao lễ hội bát nháo chỉ có nhiều ở ngoài Bắc?


Sáng nay phóng viên báo Tuổi Trẻ phỏng vấn tôi về tình trạng nhiễu loạn của lễ hội ở Việt Nam. Trong những câu hỏi có câu này: “Vì sao những kiểu ứng xử kém văn hoá, những hành vi côn đồ có trong các lễ hội trong thời gian qua lại chủ yếu diễn ra ở ngoài Bắc mà ít thấy ở trong Nam và nhất là ở Huế?”
1
Đây là một câu hỏi không khó trả lời, nhưng để trả lời cho “tới đầu tới đũa” thì lại rất khó. Dẫu sao phóng viên đã hỏi thì cũng phải đáp.
Theo tôi, những ứng xử kém văn hoá, lệch lạc, những hành vi côn đồ diễn ra trong nhiều lễ hội ở ngoài Bắc thời gian qua là hệ quả của chính sách đối với văn hoá dân tộc mà chính quyền đã áp dụng trong suốt mấy chục năm qua. Những lễ hội truyền thống có lịch sử cả ngàn năm đã từng bị chính quyền miền Bắc trước đây “nhốt chung” vào cái “rọ” hũ tục phong kiến nên bị cấm đoán, thậm chí bị bài trừ triệt để và thay thế bằng một thứ văn hoá ngoại lai mang đậm màu sắc ý thức hệ. Do vậy mà mạch nguồn văn hoá truyền thống đã bị đứt gãy trong suốt mấy chục năm. Những thế hệ tiền bối không có cơ hội trao truyền tinh hoa văn hoá của cha ông cho hậu bối. Còn các lớp hậu bối thì không biết rõ mục đích, ý nghĩa, giá trị thực sự của lễ hội, của văn hoá truyền thống vì họ không còn cơ hội để tiếp nhận, tham gia và thực hành lễ hội.
Thế rồi, khi chính quyền cho phép những lễ hội này “sống lại” thì những thế hệ am tường gốc tích, ý nghĩa, giá trị của lễ hội truyền thống hầu như đã vắng bóng. Thay vào đó là một lớp hậu sinh vừa thiếu hiểu biết về lễ hội, về văn hoá truyền thống của làng, của nước; lại vừa “tinh nhạy” với những “lợi lộc” mà lễ hội có thể mang lại, nên đã phục hồi lễ hội một cách ồ ạt và hăng hái sáng tạo, bày vẽ thêm những cái mới để trục lợi khiến cho lễ hội bị biến tướng, lệch lạc. Đã thế nhiều vị lãnh đạo các cấp lại “xênh xang áo mão” tham gia, cổ xuý cho những lễ hội biến tướng, lệch lạc ấy nên sự thể càng ngày càng bi đát.
Ở miền Nam, mà tiêu biểu là ở Huế, thì do không bị cấm đoán nên nhiều lễ hội dân gian, lễ hội tôn giáo… vẫn được duy trì trong suốt mấy chục năm chiến tranh. Điều này đã tạo cơ hội cho các thế hệ tiền bối trao truyền tri thức, kỹ năng tổ chức, thực hành và tham dự lễ hội cho các thế hệ kế cận. Vì thế mà không có sự đứt gãy văn hóa truyền thống, hoặc có nhưng rất ít (chỉ những năm sau 1975), nhưng do nếp cũ vẫn còn lưu giữ khá đầy đặn nên các lớp hậu bối đã tiếp nhận nếp ấy một cách tự nhiên và học được cách duy trì nếp ấy. Và một khi đã am hiểu, tôn trọng những giá trị, những tinh hoa của văn hóa truyền thống thì người ta sẽ ứng xử có trách nhiệm với lễ hội, với văn hoá truyền thống hơn là những người thiếu am hiểu, thiếu tôn trọng những di sản văn hóa tinh thần ấy mà chỉ tìm đến lễ hội để cầu khấn tiền – tài – danh vọng.
Tôi nghĩ như thế, không biết có đúng hay không?
28/2/2015