Thứ Bảy, ngày 08 tháng 11 năm 2014

Bức tường Bá Linh dưới con mắt của trùm gián điệp Đông Đức (1)

“...tôi nghe một bà già nguyền rủa bằng tiếng địa phương của Bá Linh ‘chúng phóng được vệ tinh Sputnik, nhưng ngay giữa mùa hè chúng ta không có một cọng rau tươi. Đấy là xã hội chủ nghĩa’...”



LTS: Để tướng nhớ đến ngày Bức Tường Bá Linh sụp đổ, chúng tôi đăng lại Chương 7 của quyển hồi ký của trùm gián điệp Đông Đức nói về những sự việc xung quanh bức tường này sau khi nó được dựng lên cho đến ngày nó bị đập vỡ. Đây là cái nhìn của một giám đốc tình báo hải ngoại Đông Đức về biến cố lịch sử này.


Chương 7
Giải pháp bê-tông
Khi Chiến tranh Lạnh được nhắc đến như là một trong những xung đột của những đế quốc lớn, và nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức đã trở thành một lời ghi chú nhỏ trong các sách lịch sử, đất nước của tôi có lẽ sẽ được ghi nhớ là một nước đã dựng một bức tường để giữ chính công dân của mình không cho họ đào thoát. Hình ảnh của Bức Tường Bá Linh không những chia cắt một thành phố lớn mà cả hai ý thức hệ và hai khối quân sự tranh đua nhau vì tương lai của nhân loại, bức tường luôn mãi là biểu tượng hùng hồn nhất của sự chia rẽ hậu chiến của châu Âu và của sự tàn bạo và vô nghĩa của chính cuộc Chiến Tranh Lạnh.
Đối với tôi, một người đã sống và làm việc đàng sau bức tường sau khi nó được dựng vào ngày 13 tháng 8 năm 1961 và cống hiến sức lức cho nền an ninh và sự phát triển của hệ thống đã xây dựng nên nó, Bức Tường luôn luôn là biểu tượng của sức mạnh và sự yếu kém. Chỉ có một hệ thống với sự tin tưởng mãnh liệt vào hệ tư tưởng chỉ đạo mới có thể thu xếp để chia cắt một thành phố và tạo nên một biên giới gần kề giữa hai phần của một nước. Và chỉ có một hệ thống yếu kém và hư hỏng từ căn bản như hệ thống của chúng tôi mới phải làm như vậy trước tiên.
Vì vậy tôi biết trong thâm tâm, nước Cộng Hoà Dân Chủ Đức đã đến ngày tàn khi, vào đêm ngày 9 tháng 11 năm 1989, tôi bật máy truyền hình và nghe tin các công dân CHDCĐ được phép đi lại qua biên giới và thấy đám người đầu tiên đổ dồn về ngã biên giới thình lình được mỏ ngỏ. Một nước như nước chúng tôi, mà sự sống còn lệ thuộc hoàn toàn vào sự ổn định nội bộ, không thể nào tồn tại với biến cố chấn động này. Làm thể như thực tại đã ngưng động. Bàng hoàng, tôi ngồi với vợ tôi nhìn hình ảnh người Đông và Tây Đức ôm chầm lấy nhau trên vùng đất vô chủ (no man’s land) tại biên giới Bá Linh. Có vài người đi dép ngủ, làm như họ mộng du trong một đêm quyết định cho định mệnh của nước Đức và của châu Âu trong những năm tới.
Lẽ cố nhiên biên giới chưa bao giờ đóng cửa hoàn toàn. Nó được mở ngỏ cho những du khách Đông Đức thi hành công vụ. Họ là những người đã được rà soát và thích hợp với vai trò « cán bộ du lịch ». Điều này có nghĩa là họ đáng tin cậy về mặt chính trị, họ không có thân nhân ở Tây Đức. Kể từ khi có sự nới lỏng những hạn chế vào thập niên 1970, vào lúc mối giây liên lạc giữa hai nước Đức đã cải thiện, các người về hưu được phép du lịch dựa trên lý luận, tuy là lô-gíc nhưng không thiếu phần cay độc, nếu họ ở lại Tây Đức họ không phương hại đến nền kinh tế của Đông Đức và ngay cả việc từ bỏ tiền hưu trí. Và đương nhiên, các điệp viên của tôi làm việc tại chỗ và các tiếp liên trao đổi thư tín cho những nguồn cung cấp được phép du lịch sang Tây Đức với lý lịch giả.
Những ai có phép đi ra ngước ngoài rất được quần chúng thèm muốn; cơn sốt du lịch lên cao trong một quốc gia không có khách du lịch. Tôi đã du lịch không vì thú vị bản thân như phần đông các sinh viên trung lưu Hoa Kỳ. Mặc dù tôi có mọi đặc quyền, tôi chưa bao giờ viếng thăm Viện Bảo Tàng Prado, Viện Bảo Tàng Anh Quốc, hoặc Viện Le Louvre. Tất cả chúng tôi sống một cuộc đời thu hẹp, mặc dù cuộc sống của tôi ít hẹp hòi hơn vì công tác gián điệp đưa tôi đến Đông Châu Phi, các vùng hoang dã của Tây-bá-lợi-á, những bờ biển Hắc Hải, những cánh rừng Thuỵ Điển và sự dịu dàng của vùng nhiệt đới Cuba. Vì được ưu đãi nên tôi có một một căn phòng sinh sắn, một chiếc xe hơi và một tài xế, và được những ngày nghỉ thoải mái qua lời mời của các cơ quan tình báo khác trong khối Đông Âu. Những biệt đãi này luôn liên hệ đến công việc và trách vụ của tôi; xét ra cuối cùng thế giới rộng mở bên ngoài nhưng đối với tôi cũng như khép kín.
Mặc dù bọn chúng tôi không hưởng được sự thoải mái và tinh thần độc lập của một công dân tương đối khá giả của Tây Âu, tôi hoàn toàn cách biệt với những công việc cực nhọc chi phối một công dân thường ở nước tôi. Chúng tôi thụ hưởng từ nhóm Xô Viết hệ thống đặc quyền của giai cấp Nomenklatura. Sự việc khởi sự vào năm 1945, khi các công chức, các khoa học gia và những kẻ hữu dụng cho lý tưởng Cộng Sản nhận được một số ít phụ trội về lương thực, mà chúng tôi gọi là payoks, mượn từ tiếng Nga để chỉ phần chia lương thực. Sau đó thành thói quen, như mọi sự việc, và trở thành một định chế dưới danh nghĩa một phân cục gọi là « an ninh cá nhân » và đã đương nhiên trở thành một đội ngũ năm ngàn người. Rồi những đặc quyền của chúng tôi được hợp thức hoá trong hệ thống liên lạc với Bộ Thương Mại Hải Ngoại, để đảm bảo các đầy tớ tối cao của quốc gia không bị thu hẹp trong mớ sản phẩm thường là hạng nhì của chính quốc gia mình. Tất cả đều được phân chia tuyệt đối theo thứ bậc. Có những cửa hàng đặc biệt dành những món hàng của phương Tây để cung cấp cho Bộ Chính Trị. Sau khi họ đã chọn lựa, phần còn lại được giao cho chúng tôi ở trong những cơ quan tình báo và tại đây các bộ khác và cơ quan thương mại khác nhận phần của mình. Cuộc sống thật là đơn giản và thoải mái cuộc sống. Tôi quá yếu đuối để từ chối những đặc quyền này, và những năm sau tôi thú nhận điều này khi sinh viên hỏi tôi. Họ hài lòng với câu trả lời của tôi, vì họ hiểu những yếu đuối của con người trước những đặc quyền như vậy. Lẽ cố nhiện, nếu tôi không được sủng ái, những thứ này biến mất chỉ trong một đêm.
Ngoài những món ưu ái này và những nơi dừng chân đặc biệt, tôi sống một cuộc đời bàn giấy, kẻ thi hành lệnh của những chủ nhân ông chính trị của tôi. Đầu tiên chúng tôi làm việc về đêm - giờ làm việc của Stalin - giống hệt các thượng tầng cơ sở của giới thư lại Xô Viết. Sau khi Stalin chết, Mielke làm việc suốt ngày, bắt đầu từ 7 giờ sáng và thường kết thúc vào 10 giờ đêm, tuy nhiên sau này tôi nghĩ ông ta cố làm vẻ như ở trong văn phòng nhưng ông ta không ở. Tôi thường thèm muốn sự độc lập của những người làm việc trong cơ quan của tôi. Họ có thể đi công tác một cách thong dong và tự mình quyết định lấy giờ làm việc của họ, nhưng ngày làm việc của tôi dính liền với thời khoá biểu của cấp trên của tôi.
Tôi thức giấc vào lúc 6g30 sáng hoặc 7 giờ và tập thể dục cho cái lưng – tôi có vấn đề khi con nhỏ - và đến sở làm việc lúc 8g15 sáng. Trước tiên, tôi có tài xế và một thư kí và sau này hai thư kí và một người phụ tá đặc biệt, tiếng Đức gọi là người chỉ định. Các nhân viên trong văn phòng riêng của tôi rất gần gũi với tôi và hiếm khi thay đổi; người thứ ký chính của tôi bắt đầu làm việc với tôi năm 1954, vào năm thứ ba tôi làm Giám đốc Tình Báo Hải Ngoại, và ở lại đó ba mươi ba năm cho đến khi tôi về hưu.
Tôi khởi sự ngày làm việc của tôi với những giấy tờ quan trọng, những báo cáo từ các chủ nhiệm ngành và đôi khi từ các điệp viên. Vào mười năm cuối, giấy tờ trở nên quá nặng nề và tôi phải trông cậy bản tóm tắt của ban nghiên cứu trong đó gồm có những hồ sơ mật, tóm lược về những sự cố thường nhật và tài liệu của các thông tấn xã.
Cơ quan HVA được chia vào khoảng hai mươi ban, trong đó có cả những nhóm riêng biệt để giám sát các điệp viên và những thông tin tại các Bộ, các đảng phái chính trị, các công đoàn, các giáo phái và các định chế khác của Tây Đức; tình báo quân sự, Hoa Kỳ, Mexico và phần còn lại của thế giới; Liên Minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) và các tổng tham mưu của Công Đồng Châu Âu tại Brussels; phản gián; phản thông tin; thông tin khoa học và kinh tế của Tây Đức; ban gian điệp kỹ thuật chuyên về các hạ tầng cơ sở kỹ nghệ, những dụng cụ điện tử và khoa học, và hàng không học và không gian vũ trụ học; các sứ quán, các biên giới, huấn luyện và dịch thuật, và một ban để điều nghiên và đánh giá những thông tin thô vẹn đổ về từ các ban khác.
Cứ bốn hoặc ba ngày tôi họp với các phụ tá của tôi và với giám đốc của mỗi ban dưới sự điều khiển trực tiếp của tôi để thảo luận về những tiến triển của công tác và những dự án quan trọng. Tôi phải đọc tất cả những báo cáo gởi lên ban lãnh đạo. Mielke không cắt xén những báo cáo của tôi, nhưng giữ lại một vài bản không đưa cho Honecker, nói rằng « Họ không lấy gì làm thích thú lắm đọc những thứ này ». Tôi thường ăn trưa với các phụ tá của tôi cùng với thư ký của Đảng tại sân của văn phòng bộ trên đường Normannenstrasse , quận Lichtenberg. Chúng tôi trao đổi tin tức và những mẩu chuyện, nhưng ngay trong nơi kín đáo nhất của bộ chúng nói đến điệp viên của chúng tôi và ngay cả «người thường trú hợp pháp » trong toà Đại Sứ của chúng tôi, chúng tôi đều dùng bí danh để không tiết lộ danh tánh thật của họ và như vậy gây nguy hiểm cho họ nhiều hơn.
                              

Bộ Cộng An trên
đường Normannenstrasse
Phạm vi to lớn của công việc này rất là nhàm chán. Tình báo chỉ là việc buôn bán bình thường để sàng lọc mớ thông tin hỗn độn và tìm ra một viên đá quý hoặc một sợi giây liên lạc đáng giá, vì vậy tôi thay đổi lề thói hằng ngày của tôi bằng cách điều khiển mười hoặc mười hai điệp viên do tôi điều động trực tiếp. Theo như tôi được biết, tôi là một giám đốc duy nhất trong tất cả các cơ quan tình báo trên thế giới làm điều này. Việc này cho phép tôi đi ra ngoài và đôi khi gặp gỡ họ tại các nhà an toàn ở ngoại ô Bá Linh hoặc – điều mà tôi ưa thích – tại Dresden và các nơi khác, nơi không có nhiều người phía Tây để có thể chạm mặt với điệp viên đến đây.
Những tập quán này đương nhiên bị gián đoạn vì những sự việc bất ngờ, đặc biệt là việc bắt giữ những điệp viên của chúng tôi tại hải ngoại. Thông thường những tin tức mới nhất do báo chí loan tải, họ ít khi cho biết tên tuổi chính xác của điệp viên, vì vậy chúng tôi phải đoán mò có phải là điệp viên của chúng tôi hay là ai khác. Đôi khi tôi phải đến gặp giám đốc ban để đón nhận tin không tốt, đặc biệt nếu đó là một hành vi đào thoát. Chúng tôi phải tự huấn luyện nhắm mắt làm ngơ những mất mát này qua từng giai đoạn và cố gắng không loan truyền sự hoảng hốt; nỗi lo sợ đã quá đủ khi ông bộ trưởng đòi hỏi lời giải thích.
Thay vì khiển trách, điều quan trong hơn là tìm kiếm hoặc xét xem ai khác có thể bị đe doạ vì việc bắt giữ hoặc đào tẩu. Chúng tôi phải thông tin vô tuyến nhanh chóng cho điệp viên của chúng tôi bằng mật hiệu, nhưng vì điệp viên không phải lúc nào cũng bật máy vô tuyến để nghe mỗi ngày, chúng tôi có thể dùng điện thoại để trực tiếp báo động cho họ bằng mật hiệu. Nếu trong tường hợp điệp viên của chúng tôi là một doanh nhân, lời báo động có thể là « Cuộc gặp gỡ tới của chúng ta được rời sang ngày khác ». Chúng tôi tránh những chỉ dấu quá lộ liễu như « Bà cô ở Dresden bị bệnh nặng ». Chúng tôi có một số tín hiệu, chẳng hạn như đinh đóng trên thân cây hoặc dấu thập trên một họp thơ mà điệp viên đi qua mỗi ngày để anh ta kiểm chứng, nhưng không phải tất cả các điệp viên đều dùng cách này.
Trong thời gian mười năm cuối trong nghề, tôi thường làm việc đến 9 giờ tối, sáu ngày một tuần lễ, chỉ có Chủ Nhật là ngày nghỉ. Cuộc sống xã hội của tôi rất ít, mặc dù tôi cố gắng đi xem kịch hoặc dàn hoà tấu ít nhất hai lần trong một tháng. Những thăm viếng trao đổi với các cơ quan tình báo tại các nước bạn, hoặc phái đoàn của họ đến thăm viếng Bá Linh, cho chúng tôi những cơ hội hiếm có mà chúng tôi vui vẻ đón nhận để đi thăm viếng các viện bảo tàng và nhà hát. Vào những ngày cuối tuần, tôi tìm cách về dacha của tôi trong một ngôi làng nhỏ Prenden, cách xa Bá Linh hai mươi dặm về phía Đông Bắc. Và ở đây tôi tìm đủ mọi cách để bảo vệ đời tư của tôi để không bị công vụ xâm nhập. Khi những bàn bè tuổi thiếu thời ở Moscow, George và Louis Fischer ghé thăm Bá Linh năm 1985, họ lấy làm ngạc nhiên khi khám phá tôi không có người hộ về bám sát theo tôi và đi lại thong dong tự do. Mielke có người hộ tống bảo vệ và một lần ra lệnh bắt tôi phải có một người hộ tống, nhưng rồi tôi xoay sở để đuổi anh này đi. Anh tài xế của tôi được huấn luyện đặc biệt để bảo vệ tôi nhưng đương sự chẳng màng đeo súng. Súng của tôi tôi cất trong tủ kín.
Cho dù tôi có mối nghi ngờ về hệ thống tôi đang phục vụ, một cuộc đời được ưu đãi, có trách nhiệm và có lúc choáng ngộp sẽ khó lòng cho bất cứ ai từ bỏ việc vận động để thay đổi, đặc biệt một người như tôi tin rằng thay đổi chỉ đến từ cấp cao. Điều này nghe có vẻ lạ lùng đối với một người ở trong vị thế của tôi, tưởng chừng như có ảnh hưởng, nhưng ảnh hưởng của tôi chỉ giới hạn trong cơ quan của tôi, nơi đây phạm vi không gian không thuộc về tôi.
Günter Gaus, Đại Sứ Tây Đức đầu tiên tại Đông Đức, một người rất là thông minh, hiểu biết rất rõ những vấn đề của chúng tôi, gọi nước CHDCĐ là một cộng đồng những hang hốc. Phần lớn quần chúng không màng đến những vấn đề của đời sống công cộng, không để ý đến những vấn đề của chính sách nhà nước, miệt mài thực hiện những mục tiêu cá nhân và bảo vể không gian của bản thân. Tôi cũng có không gian riêng của tôi, và , xem như có vẻ mâu thuẫn, không gian riêng này chính là cơ quan của tôi. Tôi không thể làm khác hơn.
Việc mô tả đời sống chúng tôi có thể tạo nên cảm tưởng là tôi sống một cuộc đời tồi tan của một anh nô chức, chỉ thi hành nhiệm vụ để có những đặc quyền hiếm hoi. Thưa không phải như vậy.Tôi hài lòng với nhiệm vụ lãnh đạo cơ quan tình báo. Tôi thâm tín rằng công việc này cần thiết và tôi cống hiến bản thân tôi cho công việc này. Tôi đã thành công cố tình tránh né mọi cơ hội để leo lên những cấp bậc cao hơn và gần gũi với trung tâm quyền lực hơn. Tôi cũng đã từ chối lời đề cử tôi trở thành cấp lãnh đạo về truyền thông đại chúng, một chức vụ trông coi về tuyên truyền. Ngay cả các con tôi cũng xin tôi từ chối việc thăng chức này, vì việc này sẽ đưa tôi đến gần kề chức vụ lãnh đạo chính trị và chắc chắn sẽ tạo nên những mâu thuẫn.
Những ngày trước khi Bức Tường Bá Linh được dựng lên vào ngày 13 tháng 8 năm 1961, tôi cảm nhận có một biến cố quyết liệt sẽ diễn ra. Không khí của phiá Đông thành phố xem ra ảm đảm. Công ăn việc làm và thực phẩm mỗi tuần một khan hiếm. Một hôm, đi ngang qua một nhóm người xếp hàng trước một cửa hàng, tôi nghe một bà già nguyền rủa trong tiếng địa phương của Bá Linh « chúng phóng được vệ tinh Sputnik, nhưng ngay giữa mùa hè chúng ta không có một cọng rau tươi. Đấy là xã hội chủ nghĩa ».
Ai có thể khiển trách những thanh niên nếu họ đem tài năng của mình để làm việc bên kia biên giới, nơi đây họ có thể kiếm ra tiền và mua những sản phẩm mà những người ở lại mơ tưởng? Trong thâm tâm của họ, họ không phản bội một quốc gia, họ chỉ di chuyển sang phần bên kia của nước Đức, nơi đây phần lớn có bạn bè hoặc thân nhân sẵn sàng giúp họ lập nên sự nghiệp.
Từ ngày thành lập Đông Đức vào năm 1949, 2,7 triệu người đã bỏ trốn sang Tây Đức, hơn một nửa dưới 25 tuổi. Tôi cũng tự hỏi mấy đứa trẻ trong gia đình cũng bỏ đi nếu chúng không nằm trong nhóm nhừng người sống chết với xã hội chủ nghĩa. Ngày 9 tháng 8 năm 1961, con số tị nạn ghi trong sổ tiếp nhận của các trại ở Tây Bá Linh lên đến 1926 người, con số cao nhất trong một ngày. Nhà nước đang mất đi nhân lực, mất đi những người mà nhà nước đã bỏ tiền ra huấn luyện, không có sự đóng góp của họ mức sống sẽ xuống thấp hơn nữa. Tôi cảm nhận chúng tôi đang bơi lội trong bùn.
Nhà Nước của chúng tôi tố cáo phương Tây hút máu của phương Đông. Lột bỏ luận điều bệnh hoạn này, tôi biết điều này có nghĩa là sức thu hút của Tây Đức đang gia tăng vì những thịnh vượng mới và quần chúng sẵn sàng hy sinh những mối liên hệ huyết thống và nền an ninh êm ấm của nhà nước xã hội chủ nghĩa để đi đổi lấy những lời hứa hẹn bâng quơ của chủ nghĩa tư bản. Lẽ cố nhiên tôi chảng bao giờ tin lời giải thích của nhà nước về Bức Tường – rằng việc đóng biên giới của chúng ta là một biện pháp để chống lại sự tấn cộng hoặc xâm nhập của các điệp viên ngoại bang. Nhưng việc xây dựng cái mà Đông Đức gọi là « hàng rao bảo vệ chống phát-xít » và phương Tây gọi là « bức tường ô nhục » đã làm thay đổi cuộc sống của chúng tôi trong một đêm.
Tôi không những hiểu những nguyên nhân thật sự xây Bức Tường mà còn đồng tình ủng hộ chúng. Tôi tin rằng không có phương cách nào khác để cứu nước chúng tôi vào thời buổi đó. Chúng tôi thừa hưởng theo lịch sử phần yếu kém kinh tế của nước Đức và chúng tôi khởi sự từ một căn bản thật thấp, chưa kể những cách quản lý sai trái tạo nên những khó khăn. Thêm vào đó Tây Đức đã bị các lực lượng Xô Viết tước đoạt các máy móc kỹ nghệ và ngay cả những dụng cụ nằm ở hạ tầng cơ sở chẳng hạn như đường sắt xe hoả mà họ xem là lợi phẩm đền bù chiến tranh. Tây Đức ngược lại đã có khả năng xây dựng lại đất nước nhờ vào tiền của Kế hoạch Marshall. Tôi vẫn nuôi mộng tưởng - bây giờ tôi mới rõ là mộng tưởng - với những thay đổi tình hình quốc tế và những cải cách cần thiết trong nước, mức sống của chúng tôi sẽ từng bước một bắt kịp phương Tây. Tôi tin giá trị của chủ nghĩa xã hội, trong một nền kinh tế chỉ định, sẽ xác định chỗ đứng của mình cũng như chúng tôi thường nói với nhau, rồi sẽ có một ngày phương Tây sẽ chiếm đóng Bức Tường để đuổi không cho quần chúng tới gần! Thực ra vào cuối những thập niên 1970 và 1980, một vài điệp viên và cảm tình viên ở phương Tây đặt câu hỏi chúng tôi thực sự có cần hạn chế du lịch không bởi vì mức sống đã cải thiện đến độ những người du lịch từ CHDC Đức đã quay trở về. Nhưng vào năm 1961, chúng tôi phải lựa chọn giữa Bức Tường hay là đầu hàng.
                 

Ngày 13 tháng 8 năm 1961,
Bức Tường Bá Linh được dựng lên
Tôi phải thú nhần, với nguy cơ mất uy tín là người hiểu biết rõ những gì xảy ra tại Đông Bá Linh, việc xây dựng Bức Tường Bá Linh cũng gây ngạc nhiên cho tôi giống như mọi người bình thường vào tháng 8 năm 1961. Tôi chỉ đoán chừng Eric Mielke, người điều khiển kế hoạch bí mật này, không thông báo cho tôi vì muốn tinh nghịch chọc ghẹo tôi. Như hàng triệu người khác, tôi nghe tin một bức tường đã được dựng ngang Bá Linh trên đài phát thanh vào sáng ngày 13 tháng 8. Phản ứng đầu tiên của tôi là giận dữ vì nghề nghiệp. Đáng lý ra tôi phải được báo trước về việc này vì tôi phải tiếp tục điều khiển các điệp viên ở bên kia biên giới. Bản chất của biên giới này đã thay đổi toàn diện chỉ qua một đêm. Kế hoạch xây dựng bức tường quá bí mật nên chúng tôi không kịp phối hợp trước với tổng tham mưu quân đoàn biên giới để đảm bảo liên lạc viên vẫn tiếp tục qua được Tây Bá Linh để thu thập nhũng tài liệu mật của các điệp viên qua một biên giới thinh lình trở nên khó xuyên thủng.
Những ngày kế tiếp tôi bỏ hầu hết thời gian để kiểm soát xem nhân viên của tôi đã nhận giấy tờ được vội vã thảo và đưa qua các trạm kiểm soát để cho họ kịp thời nhận công tác bên Tây Đức. Đây không phải là một vấn đề tiện nghi. Mối giây liên lạc trong điệp vụ đặt căn bản trên sự tin tưởng tuyệt đối. Một khi sợi giây bị đứt, những điệp viên yếu đuối sanh ra lo sợ và guồng máy thu thập tình báo sẽ ngưng hoạt động.
Bây giờ chúng tôi phải dựng những câu truyện nguỵ trang cho những trạm tiêp liên để họ cung cấp những lời giải thích thích hợp cho lính gác ở bên kia biên giới để nói lý do tại sao họ được quyền đi qua phía Tây trong khi số còn lại không làm được. Đối với các cơ quan phương Tây, biên giới khép kín là một quà tặng bất ngờ vì nó ngăn lọc một số đông thường dân và cho phép phản gián của đồng minh tập trung sức lực vào một số nhỏ công dân bây giờ được phép qua biên giới, thường với tư cách là doanh nhân nhà nước, chẳng hạn như những viên chức thương mại nhà nước, các giáo sư hàn lâm và công dân bình thường lâu lâu được phép qua biên giới vì có việc gia đình khẩn cấp.
Khi tôi đi quanh Đông Bá Linh trên chiếc công xa, tôi đánh lạc hướng anh tài xế để tôi có thể nhìn việc xây dụng bức tường trong lòng pha lẫn khâm phục và kinh hãi. Tất cả gia đình thân thuộc nhất của tôi đều ở bên Đông, vì vậy tôi không mang vết đau thương của sự xa cách. Nhưng Bức Tường tạo nên vố số sự việc lạ lùng, một trong những sự việc này liên quan đến tôi và tên tuổi của cha tôi.


Con sông Spree tại Bá Linh
Trên một dải của con sông Spree, một đoàn những chiếc thuyền du ngoạn đi từ Treptow Park cho đến tận biên giới sát với vùng Neukölln của Tây Đức rồi sau đó ngoan ngoãn trở về bến tại Đông Đức. Những chiếc thuyền mang tên của các văn sĩ người Đức trong đó có cha tôi. Một hôm, đúng sau ngày Bức Tường được dựng, con thuyền Friedich Wolf vui vẻ đi về hướng Tây trong một trong những câu chuyện vượt biên lạ lùng vào thời đó. Nhân dịp một đêm chiếc thuyền rời bến, ông đầu bếp và gia đình đã phục rượu ông thuyền trưởng và xúi ông xả hết tốc lực đâm thuyền sang Tây Bá Linh trước sự kinh ngạc của lính gác. Đến đây họ nhảy tàu và bơi vào bờ để tìm tự do. Ông thuyền trưởng say gục trên boong tàu. Khi ông tỉnh giấc, ông thiểu não lái tàu trở về khiến cho lính gác biên giới càng ngạc nhiên hơn. Ông sẽ phải bị trừng phạt. Người vợ tuyệt vọng của anh thuyền trưởng điện thoại cho mẹ tôi, lúc ấy bà phụ trách Công khố Friedich Wolf , và van xin mẹ tôi giúp đỡ.
« Con có giúp được gì không?» mẹ tôi hỏi tôi trong bữa cơm tối hôm đó. Tôi biết cha tôi sẽ xem câu chuyện phiêu lưu của chiếc thuyền là một chuyện khôi hài, vì vậy tôi kêu gọi khoan hồng cho ông thuyền trưởng. Ông không bị vào tù nhưng tôi không cứu gỡ ông khỏi nỗi nhục nhằn bị thuyên chuyển ra khỏi Bá Linh. Cuối cùng ông làm việc trên một chiếc tàu hơi trong một vùng kỹ nghệ nằm ở vùng an toàn cách xa biên giới.
Tình hình thay đổi cũng gia tăng căng thẳng giữa cơ quan tình báo hải ngoại của tôi (Aufklarüng) và cơ quan phản gián (Abwehr) trách nhiệm về an ninh biên giới. Mối liên hệ giữa hai ngành tình báo không bao giờ đằm thắm cả, cũng như những ai theo dõi lịch sử cạnh tranh giữa CIA và FBI đều biết. Trường hợp của chúng tôi, mối liên hệ cũng lạnh lùng không ít. Tôi từ chối trao cho họ danh sách các điệp viên và các thông tín viên cần phải qua biên giới, vì điều này có thể gây tổn thất cho chúng tôi nếu không may các sĩ quan trong các cơ quan mà tôi không kiểm soát phản bội.
Chúng tôi phải mất nhiều tuần – có khi hàng tháng trong một vài trường hợp đặc biệt khó khăn – để đạt được một thỏa ước sống chung mới. Chúng tôi ở trong một vị thế mâu thuẫn là những kiểm soát bên phía chúng tôi có phần gắt gao và khó dàn xếp hơn là bên phía Tây Đức. Một trường hợp làm cho tôi nhức đầu là trường hợp của Freddy (không phải tên thật), một nguồn tin tức quan trọng nhất của chúng tôi nằm trong giới lãnh đạo của đảng Dân Chủ Xã Hội tại Bá Linh. Tôi không gọi đích danh tên ông để tránh tai tiếng cho gia đình ông, nhưng các đảng viên Dân Chủ Xã Hội vào thời đó sẽ nhận ra ông. Là một nhân vật khác thường, thích hưởng thụ, ông có giọng nói lớn và thuyết phục trong giới lãnh đạo đảng Dân Chủ Xã Hội (SPD) và có những mối giây liên lạc thân thiện với Bonn – một người phò vua hơn vua, nhưng không phải vì vậy mà kém phần hữu dụng đối với chung tôi. Ông trở về Đức mãi sau này khi chiến tranh chấm dứt sau thời gian bị Hoa Kỳ giam giữ. Ông không có một kỷ niệm tốt về việc này. Vào lúc thiếu thời ông đã là đảng viên, ông được đưa vào ngành tình báo. Thật ra, ông xâm nhập đảng SPD năm 1950 theo lệnh của một trong những giới chỉ huy kỳ cựu của chúng tôi, Paul Laufer, và sau này chính ông cũng điều khiển Günter Guillaume, gián điệp nằm trong Văn phòng của Thử Tướng Willy Brandt.
Freddy bảo vệ hăng say lý tưởng của SPD, và thất vọng vì những sự cố bên Đông Đức, không coi chủ nghĩa xã hội là biểu tượng nữa. Trong một thời gian dài, hầu như chúng tôi mất liên lạc với đương sự. Nhưng chúng tôi vẫn tiếp tục làm việc với những người chúng tôi muốn giữ. Tôi đặc biệt chú trọng đến trường hợp của đương sự trong mục đích gặt hái những tin tức có chất lượng cao mà tôi biết đương sự nắm giữ trong những cuộc bàn thảo nội bộ của SPD về chính sách của họ đối với Đông Đức. Tuy nhiên, đương sự một mực từ chối ghi âm hoặc nói bất cứ điều gì về các bạn đồng nghiệp làm việc tại Văn Phòng Nghiên cứu Đông Đức của đảng SPD, một tổ chức tại Tây Bá Linh với mục đích tái lập dân chủ xã hội bên Đông Đức – đối với chúng tôi đây là một cơ quan hắc ám nhất hoạt động ở bên kia Bức Tường. Những cố gắng để dẫn dụ đương sự vào những cuộc thảo luận chính trị hầu như luôn luôn kết thúc trong hãi hùng vì Freddy chửi Ulbricht là một thằng ngốc theo chủ nghĩa Stalin.
Trước tiên Freddy và tôi có ý định gặp gỡ nhau tại những căn phòng nhỏ dùng làm nhà an toàn cho cơ quan của chúng tôi tại vùng Bohnsdorf nằm về phía Nam của Đông Bá Linh. Nhưng tình thế lúc đó căng thẳng và năm 1955, tôi nảy sáng kiến thay đổi nơi gặp gỡ tại những căn nhà nhỏ kín đáo của những người quen khi tôi sống tại Moscow. Tôi lợi dụng tinh thần lạc quan do Đại Hội Đảng lần thứ 20 thổi tới để điều chỉnh mối liên hệ giữa chúng tôi. Freddy rất có ấn tượng với những lời bài bác của Khrushchev lên án Stalin và tội ác của ông. « Anh thấy chưa, » y nói với vẻ đắc thắng, « tôi có lý. Tôi đã nói với anh là tình thế phải thay đổi ». Tôi cũng chia sẻ nỗi vui với y về « Con Đường Mới » của Moscow – bây giờ chúng tôi được tự do nói về quá khứ và bàn thảo về những vấn đề của đảng, về tự do văn hoá, về kinh tế, vân vân… - và chúng tôi có thể ngồi hàng giờ trong căn phòng đầy khói thuốc thảo luận về tương lai của Liên Bang Xô Viết và đồng minh. Cuối cùng tôi đạt được một kết quả nào đó. Đối với tôi, Freddy chỉ chấp nhận vai trò điềm chỉ viên nếu mối liên hệ của chúng tôi đặt trên căn bản tình bạn. Đương sự cũng không từ chối việc lâu lâu nhậu nhẹt. Vì vậy trước ngày sinh nhật thứ 50 của y, tôi mời y đến gặp gỡ tôi tại một biệt thự nhỏ ở Rauchfangswerder bên cạnh một cái hồ, cái hồ mà chúng tôi đã dùng để dàn dựng cuộc du ngoạn malina một cách vô tích sự. Tại đây, không ai dòm ngó chúng tôi, chúng tôi buổi trưa ngồi nhâm nhi ly rượu long lanh với đá lạnh và, khi chiều về, một két bia. Tôi phải uống nhiều để bắt kịp anh bạn của tôi và báo cho người phụ tá của tôi, có trách nhiệm đưa chúng tôi tới đây và trở về,và bảo đảm chúng tôi không bị quấy rầy, phải tỉnh táo như một quan toà để khi chúng tôi đưa Freddy trở về Tây Đức, ít nhất có một người trong chúng tôi biết rõ đường đi nước bước của ông bạn.
Lúc này Freddy nói không ngững và thổ lộ hết những bực tức về tình trạng Mỹ Hoá của Công Hoà Liên Bang Đức và chửi rủa thậm tệ các chính trị gia và bơi móc đời tư của ngôi sao sáng đang lên tại Tây Bá Linh, Willy Brandt. Chúng tôi trở về thủ đô vừa đúng trước 12 giờ đêm. Tôi kêu anh tài xế đầu xe khá xa và hai đứa chúng tôi chập choạng đi ngang qua Công Viên Treptow đến gần cửa biên giới. Chúng tôi tiến gần đến tầm tai của anh lính gác thì Freddy thình lình nổi hứng hát những bài cách mạng và hát to « Khi chúng ta cùng nhau lên đường » và bài « Quốc Tế Ca ». Tôi tỉnh cơn say tức khắc, nói Freddy im miệng với giọng không thân thiện và kêu anh tài xế đưa chúng tôi tới điểm kiểm soát biên giới kế tiếp, nơi đây chúng tôi thả y xuống. Sau khi dặn dò y phải cúi đầu và nói tối thiểu khi qua biên giới, tôi nấp trong bóng tối nhìn y đi qua biên giới.
Tôi hầu như đứng tim, vì y đã say đến giai đoạn bất chấp hậu quả những gì mình nói hay mình làm. Mối lo sợ lớn nhất của tôi là một trong những cảnh sát bên phía Tây Đức sẽ nhận ra hắn là một nhân vật nổi tiếng trong vùng và để ý hắn đi qua biên giới trong lúc say tuý luý vào lúc giữa đêm – một vụ tai tiếng đủ để chấm dứt sự nghiệp mặc dù đương sự không bị tình nghi làm gián điệp. Bóng dáng lảo đảo của đương sự tiến về hướng trạm kiệm soát. Vào giờ phút chót, y quay ngược trở lại, vẫy tay hùng dũng và la lớn về phía tôi : « Chúng ta sẽ uống cạn một ngàn ly với nhau, anh và tôi ! »
Tôi chửi thầm, nhưng không làm gì khác hơn được nữa. Những ngày sau đó, tôi lo âu rà soát báo chí xem có âm hưởng gì không. Nhưng kẻ say sưa lại có trời độ và uy tín của Freddy vẫn còn nguyên vẹn.
Đối với những nhân vật có tiếng tăm, việc tham dự những buổi họp bên Đông Đức qua trung gian của chính quyền luôn luôn là một việc làm phiêu lưu. Freddy lần hồi xét lại ý kiến của y đối với Willy Brandt và trở nên một cộng tác viên thân cận của ông thị trưởng trẻ. Đương sự không thể mạo hiểm đến gặp gỡ chúng tôi một cách công khai, dù say hay tỉnh táo. Chúng tôi bó buộc phải tìm ra một giải pháp mới và áp dụng một kế hoạch dàn xếp tỉ mỉ và phức tạp để chúng tôi trao đổi quan điểm: Con đường thông quá của đồng minh phải đi ngang qua lãnh thổ của Đông Đức để tới Bá Linh.
Chúng tôi ước tính phản gián Tây Đức kiểm soát chặt chẽ con đường này, cũng giống như chúng tôi. Các sĩ quan kiểm soát ở cả hai phía ghi sổ ngày giờ mỗi chiếc xe đi vào và đi ra khỏi xa lộ, hoặc ở bên Tây Bá Linh hoặc ở biên giới Tây Đức. Vận tốc bị giới hạn ở 100 cây số một giờ một cách triệt để, do đó thời gian phỏng định đi hết con đường có thể tính ra khá chính xác, và không thể có khả năng ngừng lại để làm bất cứ chuyện gì ngoài trừ việc trao đổi mau chóng những tài liệu.
Hơn nữa, cảnh sát lưu thông kiểm soát các trạm dừng và đặt máy quay phim trên những tuyến đường ngoằn ngoèo. Tôi không thích cho cơ quan phản gián biết về những chi tiết công tác của tôi, vì vậy tôi quyết định không làm thủ tục xin họ ngưng quan sát khi tôi gặp gỡ điệp viên của tôi. Với sự đồng ý của Freddy, chúng tôi bày một phương kế hào hứng và thoải mái để gặp nhau. Tôi hồi hộp chờ đón việc này, và cho dù tôi có kinh nghiệm, một điệp viên vẫn luôn là một người phiêu lưu, và tôi vẫn thích thú sắn tay áo để đôi lúc mạo hiểm. Chúng tôi đồng ý với nhau là Freddy sẽ rời Tây Bá Linh vào xế trưa để khi chúng tôi gặp nhau trời đã chạng vạng. Y sắp xếp chuyến đi cho ăn khớp với buổi dạ tiệc kinh doanh tại Bonn để phù hợp với nguỵ trang.
Trước khi y rời Tây Bá Linh, tôi rời Đông Bá Linh trên một chiếc xe Mercedès xanh dương đậm với bảng số tỉnh Cologne và một anh tài xế với giấy tờ Tây Đức giả. Vì không ai bên Tây Đức biết rõ mặt mũi của tôi, tôi không cần phải cải trang và tôi đơn giản mặc y phục của một thương gia. Tại trạm xăng đầu tiên ngoài ô trên con đường thông quá Bá Linh – Munich, tôi kêu anh tài xế ngưng xe để đổ xăng và uống một ly cà-fê Đông Đức tại trạm xãng. Tôi ngôi ở đây chờ cho đến khi xe của Freddy đi ngang.
Việc này xem ra rất là thú vị. Các anh tài xê xe vận tải, nhìn lầm tưởng tôi là một người phương Tây sau khi tôi tặng họ thuốc lá phương Tây, bắt đầu than phiền tình thế ở bên Đông Đức. Đây là cơ hội hiếm có để nghe người bình dân thực sự nghĩ gì trong khi tôi ngồi cao chót vót trên cấp bậc kỳ cựu của Đông Đức. Nếu họ biết họ đang trực tiếp than phiền với một sĩ quan cao cấp của Stasi, họ sẽ hốt hoảng. Tôi nhớ một anh tài xế vận tải chửi rủa những đặc quyền của giới lãnh đạo Đông Đức sau khi tôi bịa chuyện tôi là một thương gia chào hàng dạo khá thành công xuất xứ từ vùng Ruhr. « Bọn đảng lại của chúng có lẽ cũng sống thoải mái như ông, sự khác biệt là ông thực hiện được một việc gì đó còn họ chẳng làm gì cả ». Markus Wolf chính hiệu cảm thấy hơi nhột vì lời nhận xét này, nhưng tôi gật đầu đồng ý.
Khi Freddy đi ngang qua trặm dừng với vận tốc giới hạn 100 cây số một giờ, chúng tôi móc một dấu hiệu đặc biệt cho phép chúng tôi, những giới chức cao cấp mà anh bạn tài xế vừa mới chửi rủa, chạy nhanh hơn vận tốc ấn định. Chúng tôi chạy vào khoảng tốc độ 150 cây số/giờ, thời gian và khoảng cách đã tính sẵn để phù hợp với tốc độ xe của Freddy chúng tôi đến một ngã rẽ trên xã lộ dành riêng cho xe vận tải gỗ rừng và cảnh sát. Chúng tôi lái xe vào trong rừng để tránh tai mắt của những ống kính kiểm soát quay phim và những tài xế khác. Lặng lẽ và nhanh nhẹn như thể xác đồ sộ của anh cho phép, Freddy chui vào xe của tôi và tài xế của tôi chạy qua của anh. Cả hai xe đều lên đường chạy ra khỏi nơi trốn, đèn tắt để tránh ống kính kiểm soát hoặc một đội tuần đi ngang. Chúng tôi cảm thấy sung sướng khi chúng tôi biết rằng chúng tôi đã thành công trong trò chơi này. « Việc này hay ho hơn cả chính trị » Freddy bâng quơ nói.
Có được giấy phép chạy nhanh cho phép chúng tôi có đủ thời gian để nói chuyện. Chạy xe trên xa lộ, chúng tôi nói chuyện thoải mái và Freddy trao cho tôi một vài tài liệu. Tôi cùng có cơ hội đưa ra một số chỉ thị hoàn toàn bí mật. Trước khi rẽ vào một lối ra xa lộ, chúng tôi ngừng tại một trạm dừng xe trong bóng tối và chờ xe của Freddy (có tái xế của tôi) đến. Freddy trở lại xe của mình. Điều phiền với mánh khoé này là chúng tôi không phải là những người duy nhất khám phá ra nó. Với thời gian, các cơ quan phương Tây cũng sử dụng nó và hàng chục những tổ chức giúp người Đông Đức giúp người trốn trong những vận tải cũng dùng đến nó. Những ngõ ra xa lộ bất hợp pháp và các trạm xăng trở thành trọng điểm kiểm soát của chính cơ quan phản gián của chúng tôi. Họ bắt đầu xiết mỗi lúc một chặt chẽ hơn và tôi lo ngại một ngày nào đó các bạn đồng nghiệp trong cơ quan phản gián sẽ khám phá một trong những cuộc gặp gỡ của tôi. Tôi phải duyệt xét lại những quyết định trước đây của tôi và yêu cầu các ống kính kiểm soát được tắt trong lúc chính tôi hoặc sĩ quan của tôi thi hành công tác với các điệp viên nước ngoài.
Việc này tiến hành một thời gian, nhưng tôi lo ngại tình báo Tây Đức đã khám phá ra phương cách kiểm soát chúng tôi, vì vậy nếu các ống kính bị tắt trong vòng mười phút hoặc hơn, điều này có nghĩa là một số hoạt động đáng nghi đang tiến hành và việc kiểm soát biên giới trở nên gắt gao hơn. Tôi trở lại với phương pháp cũ và liều làm việc không thông báo cơ quan phản gián. Vì tôi lanh lẹ và chuẩn mực nên tôi chưa hề bị hai bên bắt gặp. Phương pháp này thành công không những với Freddy mà cả với một thông tín viên chính trị ở Bonn, một chính trị gia thuộc phe cấp tiên tên là William Borm. Đương sự cung cấp tin tức trong quốc hội Bonn.
Freddy qua đời một vài năm sau, tim của đương sự không làm việc một vài ngày sau khi chúng tôi gặp nhau trên xa lộ. Tôi đoán chừng thể lực của đương sự không theo kịp cuộc sống chính trị sôi động, lối ăn uống vương giả và những cố gắng quá mức trong công tác nguỵ trang với chúng tôi của đương sự. Đương sự say mê với những kích thích và cảm giác đương sự đang tạo nên những ảnh hưởng đặc biệt. Với cương vị của một chủ nhân ông, chúng tôi luôn luôn giành tiền hưu trí cho những người vợ của các điệp viên, mặc dù là, trong trường hợp của Freddy, bà không được thông báo về việc làm của y. Bây giờ chúng tôi nằm trong một vị thế khó xử phải phái một sĩ quan đến báo cho bà biết là bà có quyền hưởng tiền hưu trí bởi vì chồng của bà đã làm việc cho Đông Đức. Tôi không rõ bà ấy có nghi ngờ chồng mình không, nhưng bà tiếp nhận tin tức rất là bình thản. Có một điều nghề nghiệp dạy tôi là đàn bà biết rõ về chồng mình nhiều hơn là các ông tưởng.
(Còn tiếp)
Markus Wolf
Trọng Khiêm 
dịch