Thứ Hai, ngày 16 tháng 2 năm 2015

Bình luận phim: Những ngày cuối cùng tại Việt Nam

Trọng Đạt
11-02-2015
Photo:  Photo by Juan Valdez/American Experience Films, via WGBH
Photo: Photo by Juan Valdez/American Experience Films, via WGBH
Phim mới, dài 1 giờ 38 phút, thực hiện năm 2014. Đạo diễn Rory Kennedy, truyện phim của Keven McAlester, âm nhạc của Gary Lionelli, kịch bản: Keven McAlester, Mark Bailey, nhà sản xuất: Keven McAlester, Rory
Last Days In Vietnam mới cho chiếu online chắc nhiều quí vị đã xem qua. Đây là cuốn phim tài liệu giá trị đã làm sống lại những trang sử bi thảm của miền Nam nước Việt sụp đổ vào tay CS. Nói chung những thước phim đã diễn tả chính xác lịch sử miền nam VN trong những ngày cuối cùng của tháng Tư đen 1975.
Nhà làm phim chủ trương diễn tả lại lịch sử khách quan nghiêng về khía cạnh nhân bản, đầy tình yêu nhân loại, khác với cuốn phim khuynh tả Vietnam, a Television History 1945-1975 dài 11 tiếng quay 1983, Last days in Vietnam 2014 đứng về phía chính nghĩa miền Nam tự do, kết án CS tàn ác, phần kết luận chê trách Hoa Kỳ thất hứa với đồng minh.
Trọng tâm của phim diễn tả kế hoạch của chính phủ vào những ngày cuối cùng tại Việt Nam để cứu cho được nhiều người Việt. Một chính phủ không có thực quyền, một ông Tổng thống bù nhìn trước sự thao túng của Quốc hội Dân chủ không làm gì hơn là cứu được nhiều nạn nhân của đất nước bị bỏ rơi, khả năng hữu hạn của ông chỉ làm được đến thế. Kinh Do Thái có câu: “Ai cứu được một mạng người thì cứu được cả thế giới”. Nguyên văn: Whoever saves one life, saves the world entire.
Giữa năm 1965, trước ngày miền nam VN sụp đổ đúng 10 năm, Tổng thống Dân chủ Johnson đưa đại binh vào miền nam để ngăn chặn CS chiếm Đông nam Á, nhưng đã thất bại. Bốn năm sau, họ để lại một gia tài đổ nát, tân TT Nixon phải lo hốt cái đống rác vĩ đại do Hành pháp tiền nhiệm để lại, đó là đưa về nước nửa triệu quân, lập lại hòa bình trong danh dự. Theo lời Kissinger trong White House Years, chính họ đã gây nên cuộc chiến sa lầy, thay vì giúp cho chính phủ mới gỉải quyết cuộc chiến, họ tiếp tay với phản chiến chống đối cuộc chiến kịch liệt, cương quyết cắt mọi khoản viện trợ để bỏ Đông Dương.
Cộng hòa bị tai tiếng vì vụ Watergate, đảng đối lập Dân chủ kéo nhau vào Quốc hội rất đông, họ chiếm 67% Hạ viện và 60% Thượng viện, nắm quyền sinh sát trong tay. Kissinger nói về thực trạng bi đát miền nam VN trong Years of Renewal: nước Mỹ tê liệt vì chia rẽ, đứng nhìn Cộng quân tiến vào Sài Gòn.
Cuốn phim cũng là một bất lợi rất lớn cho CSVN, hình ảnh bằng nghìn lời nói: không khí binh đao khói lửa máu chảy thịt rơi sẽ khiến người ta đặt câu hỏi “ai gây nên cảnh điêu tàn”, người dân chen chúc, hốt hoảng di tản tại Đà nẵng, Sài gòn cho thấy miền nam VN ghê tởm CS là nhường nào.

* * *
Sơ lược cuốn phim
Nhà đạo diễn kể sơ lại lịch sử Việt nam những năm cuối cùng. Trước đó hai năm (1973) TT Nixon tuyên bố đã thỏa thuận ký kết Hiệp định Paris, lấy tù binh và đem quân về nước.
Các nhân chứng kể lại quá khứ, một cựu đại úy MỹHerrington (sau này lên đại tá) hồi tưởng lại 40 năm trước ông đã giúp nhiều người bạn VN lên máy bay trốn thoát, ông nói về cảnh di tản hỗn lọan tại Đà nẵng, nguyên do người dân quá sợ hãi CS tàn ác. Đại sứ Martin nhiều cảm tình với VN không muốn nơi đây mất về tay CS. Nixon hứa với Nguyễn Văn Thiệu, ông sẽ oanh tạc BV nếu họ vi phạm, Hà Nội rất sợ Nixon, coi ông ta như một người điên rồ, nhưng năm 1974 ông từ chức vì vụ Watergate.
Cộng quân vi phạm Hiệp định Paris, tấn công Ban Mê Thuột ngày 10-3-1975 và đem đại binh nuốt chửng miền nam.
Đại úy Mỹ kết án CS tàn ác. Đại tá Hải quân VNCH Đỗ Kiểm nói về tình hình Đà Nẵng tháng 3-1975 bằng tiếng Việt cho biết ông Thiệu thay đổi ý kiến luôn, có khi ra lệnh giữ Đà Nẵng, hôm sau ra lệnh bỏ. Phim chiếu cảnh di tản hỗn loạn tại phi trường Đà Nẵng, người dân chạy ùa theo máy bay. TT Ford nói về cuộc chiến VN, ông cho biết khoảng từ 150 tới 170 ngàn quân CSBV chính qui được trang bị tối tân tiến chiếm miền nam VN, khoảng 500 ngàn người tỵ nạn đổ về Sài Gòn
Ngày 10-4-1975 TT Ford đề nghị Quốc hội chấp thuận ngân khoản 722 triệu khẩn cấp để cứu miền nam VN, ông nói chúng ta giúp cho VNCH 722 triệu, nếu không cứu được miền nam thì cũng cứu được những người bị đe dọa. Một bà dân biểu Mỹ cho biết ý kiến như sau: người Mỹ đã đưa vào VN nửa triệu quân, tiêu hàng tỷ, hàng tỷ đô la mà không thắng cuộc chiến bây giờ đưa thêm 722 triệu thì làm được trò gì? Một ông dân biểu khác cũng nói, người Mỹ chống đối cuộc chiến nên không hy vọng Quốc hội cấp. Chính Kissinger cũng nói 722 triệu không cứu vãn được tình thế, chỉ còn cách cứu cho nhiều người VN.
Phim nói về kế hoạch di tản, mới đầu họ chủ trương chỉ cho người Mỹ đi, không cho người VN theo. Ngày 24-4-1975 Sài Gòn đầy những tin vịt. Hiện còn khoảng 5,000 người Mỹ tại VN, một số có vợ Việt hay người yêu VN, họ được ưu tiên hàng đầu di tản ra khỏi nơi đây.
Lãnh sự Mỹ tại Quân khu IV nói về kế hoạch di tản. Cảnh xếp hàng xin di tản tại tòa Đại sứ Mỹ Sài gòn, họ nói cũng may dân chúng tại đây có trật tự, bình tĩnh không có chuyện gì đáng tiếc. Họ nói về việc sắp hạng các hồ sơ. Kế hoạch thứ tư được thực hiện, các trực thăng từ hạm đội sẽ bay vào Tòa Đại sứ Mỹ tại Sải Gòn bốc người đi. Tại Sài Gòn, các máy bay trực thăng đi bốc người tại các địa điểm trong thành phố rồi đưa về tòa Đại Sứ, tòa Đại sứ đầy những người chờ đợi trong sân.
Phía VN, đại tá Đỗ Kiểm nói về lệnh đưa các tầu chiến VN đi, dù chỉ có một máy cũng chạy, ông cho biết vào ngày cuối cùng ông đưa tất cả là 32 chiến hạm ra khỏi VN. Hai nhân chứng Việt Nam cũng kể lại chuyện tháng tư là trung úy Phạm Hữu Đàm, sinh viên Phó Đức Bình nói tiếng Anh về ngày di tản tại tòa Đại sứ Mỹ.
Ngoài hạm đội, cảnh trực thăng của VNCH đáp xuống tầu bị đẩy xuống biển lấy chỗ, lính Mỹ khám và tước khí giới người Việt vứt xuống biển để bảo đảm an ninh cho tầu, riêng tại tầu này tổng cộng có 17 trực thăng VN đáp xuống.
Trở lại cảnh di tản nhốn nháo tại tòa Đại sứ Mỹ Sài Gòn, trực thăng từ Sài gòn đáp xuống tầu ngoài hạm đội. Tại tòa Đại sứ, ông đại úy quả quyết với mọi người trong khuôn viên tòa như sau: “Không ai bị bỏ lại, mọi người đều sẽ được đưa đi”.
Phần cuối phim, người Mỹ chú trọng việc cứu thêm người, cả những người tỵ nạn ngoài biển, trên những con tầu lớn VN tràn ngập người tỵ nạn.
Chuyến trực thăng cuối cùng rời Tòa Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn, cảnh hôi của của người nghèo. Cộng quân tiến vào Sài Gòn, các ông Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu bị họ bắt lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng, cảnh lính vứt giầy, quân phục chạy.
Đỗ Kiểm nói về lễ hạ cờ VNCH cảm động trên các tầu chiến VN chạy sang Phi Luật Tân, chính phủ Phi Luật Tân sợ mất lòng CSBV, họ không cho tầu chiến VNCH vào nên phải hạ cờ VN treo cờ Mỹ.
Cảnh cuối 11 người lính TQLC còn lại của Mỹ hồi hộp chờ trực thăng tới đón vào lúc 7 giờ 50 sáng ngày 30-4-1975 họ giã từ VN. Có 420 người Việt bị bỏ lại trong khuôn viên tòa Đại Sứ.
* * *
Nhận định tổng quát: đây là một phim tài liệu hay, ngắn gọn, diễn tả lịch sử trung thực, bênh vực cho chính nghĩa miền nam tự do. Tôi xin so sánh hai cuốn phim cùng môt đề tài này Vietnam, a Television History 1945-1975 quay 1983 và Last Days In Vietnam quay 2014, thực ra đã có nhiều phim tài liệu về cuộc chiến VN nhưng hai cuốn trên được chú ý hơn cả.
Năm 1983 các ký giả, phóng viên Mỹ, Anh, Pháp đã hợp tác thực hiện phim tài liệu đen trắng dài 11 giờ Vietnam, A Television History 1945-1975, Việt Nam Thiên Sử Truyền Hình 1945-1975 đã được chiếu trên TV tại VN khoảng 1985 vì có lợi cho họ. Phim này có nhiều đoạn ca ngợi chính nghĩa của CS có phần phong phú hơn Last Days in Vietnam 2014 nhưng không khách quan cho lắm. Lối làm phim của cả hai gần giống nhau ở chỗ cùng diễn tả lịch sử Việt Nam qua những thước phim tài liệu và những cuộc phỏng vấn các nhân chứng, nhân vật lịch sử. Last Days In Vietnam là cuốn phim mầu ngắn ngủi, kết tội CS và ngụ ý chê trách người Mỹ bỏ miền nam rơi vào tay CS.
Như các phim tài liệu chiến tranh về Thế chiến, Triều Tiên, Iraq… nhà đạo diễn Rory Kennedy phỏng vấn các nhân chứng, nhân vật lịch sử rồi đưa diễn tiến lịch sử vào phim, nhưng vì được kể lại ngắn gọn trong vài phút thường khiến khán giả bối rối vì khó hiểu. Last Days In Vietnam cũng không tránh khỏi khuyết điểm này.
Các nhân vật lịch sử, nhân chứng kể lại quá khứ gồm Kissinger Bộ trưởng ngoại giao, Frank Snepp, phân tích gia CIA, cựu đại úy Mỹ Herrington (sau lên đại tá) phụ trách an ninh tòa Đại sứ 1975, một số quân nhân Mỹ canh gác tòa Đại sứ. Nhân chứng phía Việt Nam gồm đại tá Hải quân Đỗ Kiểm, trung úy Phạm hữu Đàm, sinh viên Phó Đức Bình… hai người này đã có mặt tại tòa Đại sứ vào những giờ phút cuối.
Một vài giai thoại cảm động có thật ở phần cuối như theo lời kể của đại úy Herrington, nhân chứng chính của phim cho biết ông được đưa tới VN năm 1973. Tại Sài Gòn vào những ngày cuối tháng 4-1975 ông đã lén lút đưa một số bạn hữu quân nhân VN vào phi trường Tân Sơn Nhất di tản cùng gia đình. Việc làm bị coi là sai phạm vì chính phủ VN buộc quân nhân phải ở lại chiến đâu, nếu bị lộ ông sẽ bị trừng phạt đuổi về nước. Herrington đã phát biểu như sau:
“Đôi khi có những vấn đề không phải là hợp pháp hay không hợp pháp, nhưng là đúng hay sai”(“Sometimes there’s an issue not of legal and illegal, but of right or wrong.”)
Ông ta nói cứu người vì nhân đạo là đúng cho dù vi phạm luật, nếu những người bạn lính VN của ông ở lại họ sẽ trở thành người chết biết đi – dead man walking.
Mang nhiệm vụ giữ trật tự trong khuôn viên tòa đại sứ Mỹ vào giờ chót, Herrington đã nói với những người Việt Nam đang vây quanh bằng tiếng Việt:“Không ai bị bỏ lại, mọi người sẽ được đưa đi, đừng có lo, trực thăng lớn sắp tới”.
Nhưng rồi tối ấy ông được lệnh phải lên sân thượng ra đi vì không còn trực thăng chở thêm người Việt, đại úy đành lòng nói dối họ vờ lấy cớ đi tiểu để lén vào tòa đại sứ rồi lên lầu bay ra hạm đội. Cho tới nay ông ta vẫn còn ân hận đã đánh lừa họ, một hành động trái đạo đức, tổng cộng có 420 người bị bỏ lại.
Trung úy Phạm Hữu Đàm và sinh viên Phó đức Bình cũng đã vào được khuôn viên nhưng thất bại không được đưa đi. Sau 30-4 Đàm bị đưa đi tù cải tạo 13 năm sau cũng đã tới Mỹ, Bình bị bắt giam một năm, anh vượt biên 1979 và đã tới Mỹ.
Trong phần kết luận, Herrington bằng giọng u sầu bảo: Con người (VN) bị tổn thương vì chúng ta chia rẽ (…because we did’nt acted together).
Hàng ngàn, hàng ngàn người Mỹ đã từng phục vụ tại VN, nay đang ngồi ở nhà theo dõi diễn biến với cõi lòng tan nát khi thấy tất cả trở thành hư không. (There were thousands and thousands of Americans who served in Vietnam, who is setting at home hearts broken at watching this whole thing comes to none)
Người Mỹ hứa thật nhiều và thất hứa cũng nhiều.
Những người chê trách Hoa Kỳ bỏ rơi đồng minh như Herrington rất hiếm, phần nhiều các nhà chính khách, học giả Mỹ cho rằng phải bỏ VN sớm hơn. Cựu bộ trưởng McNamara nói trong hồi ký, đáng lý chúng ta phải rút bỏ VN từ 1963, 1964, cuộc chiến VN là sai lầm (In Retrospect trang 320). Sử gia Walter Isaacson nói: đáng lý Nixon phải ký Hiệp định rút bỏ VN từ 1969 (Kissinger A Biography tr.484) chứ không phải đợi bốn năm sau. Ông chê trách Nixon đã làm chết thêm 20,000 người Mỹ để VNCH tồn tại thêm ít năm mà sự thực VN không đáng cho ta phải hy sinh như vậy.
Nhiều ngưởi Việt oán hận nhà lãnh đạo Nixon, Kissinger đã bắt ép VNCH ký hiệp ước bất bình đẳng đưa tới sự sụp đổ miền nam. Về điểm này, Nixon đã nói trong hồi ký No More Vietnams: trong khi Quốc hội phản đối ầm ĩ ông không làm gì hơn được, Kissinger cũng nói gần giống như vậy trong hồi ký Years of Renewal. Nixon cũng như Kissinger chỉ có thể giúp cho miền nam tồn tại thêm ngày nào hay ngày nấy, tháng 4-1975 là hạn chót.
Đa số các nhà chính khách Mỹ, các nhà nghiên cứu sử đã ngầm ủng hộ cái chiến lược “tẩu vi thượng sách, sống chết mặc bay”. Quốc hội Dân chủ, người dân, truyền thông báo chí, phong trào phản chiến, da trắng cũng như đen… đều muốn vứt bỏ cái miếng xương khó nuốt từ thập niên 1960, thì sự sống còn của miền nam chỉ trông vào phép lạ. Sự thật phũ phàng là Nixon-Kissinger chỉ giúp VNCH sống thêm vài năm và họ đã làm được, Gerald Ford chỉ giúp miền nam thêm được vài tuần hay một tháng, Đại sứ Martin chỉ kéo dài sự hấp hối một vài ngày… khả năng thiện chí của họ chỉ làm được đến thế.
Lúc vãn tuồng Last Days In Vietnam cũng là khi kết thúc vở tuồng hề chính trị miền nam VN, điệu nhạc đệm buồn thảm và du dương tuyệt vời nổi lên cùng những trang sử bi đát khiến người xem không cầm được nước mắt.
Nhà đạo diễn cho biết bằng số thống kê chính xác thực trạng kẻ ở người đi như sau: Trong ngày cuối cùng của VN, khoảng 130,000 người đã trốn đi, gồm cả 77,000 người được nói tới trong phim này. Về những kẻ ở lại, nhiều trăm nghìn người đã bị đưa đi trại tập trung, nhiều người chết vì bệnh tật, đói khát, số người bị hành hình không rõ là bao nhiêu. (…Of those left behind, hundreds of thousands were sent to re- education camp, many died of disease and starvation, an unknown number were excecuted).
Dưới con mắt kẻ ở, người đi năm 1975 được coi là vô cùng diễm phúc, họ không phải nếm mùi Cộng sản và được đưa tới xứ sở thần tiên bằng phương tiện an toàn nhanh nhất.
Gian khổ đã qua, hết cơn bĩ cực đến kỳ thái lai, mấy chục năm trôi qua, hầu hết những người này đã có cuộc sống ổn định sung túc, có phần huy hoàng hơn cả dân bản xứ. Con cháu họ rất nhiều người thành công làm trạng sư, bác sĩ, giáo sư, kỹ sư, dược sĩ…rất nhiều người trở thành thương gia, đại phú có cơ sở làm ăn lớn, một vài người là tỷ phú đô la…
Nhưng có mấy ai còn nhớ tới tấn thảm kịch này…
Trọng Đạt
Đón xuân Ất Mùi 2015
—–