Thứ Bảy, ngày 01 tháng 11 năm 2014

Thư giãn Chủ nhật - DƯƠNG THU HƯƠNG, NGƯỜI ĐI GIỮA HAI LÀN ĐẠN




Tôi có may mắn được con mắt xanh của nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến để ý, mời làm giảng viên chính Trường viết văn Nguyễn Du ngay từ khóa I, khóa của những người viết văn xuất thân quân ngũ vừa rời chiến trường trở về được dăm năm, những người năng khiếu văn chương nẩy nở cùng với quá trình đem sinh mạng mình cọ xát với cái chết, nhìn ngắm và chiểm nghiệm nó ở cự ly gần, nên gần như cả một thế hệ – chỉ dám thu hẹp trong phạm vi một khóa học – đều trở thành những cây bút có bản lĩnh và bản sắc. Trong số đó, Dương Thu Hương là một người nổi bật và trường sức. Trớ trêu cho tôi, khi giảng bài có chị ngồi ở dưới, tôi chưa kịp nhận ra điều này. Vào năm 1983, khi Viện Văn học tổ chức một hội thảo khoa học được coi là quan trọng “35 năm văn học cách mạng miền Nam” (tính từ 1959), tôi được phân công làm người ghi âm những bài phát biểu miệng, trao đổi ý kiến trực tiếp trên diễn đàn. Tôi đã ghi không sót bất kỳ ai, kể cả những người nói những lời nhàm chán nhất. Thế nhưng khi đến lượt Dương Thu Hương giơ tay, không hiểu sao tôi lại tắt công tắc. Một tâm lý coi thường học trò nằm trong vô thức chăng? Có lẽ. Thì có ngờ đâu đấy lại là diễn ngôn ứng tác xuất sắc nhất trong cả cuộc hội thảo. Nó cũng bộc lộ một cá tính mạnh, dám phơi trần sự thật, của cây bút Dương Thu Hương sau này. Tôi nhớ đinh ninh, đó là lần đầu, trên một diễn đàn chính thống và công khai, có những điều cấm kỵ được nêu lên thẳng băng không chút dè dặt; như việc chị nói: “đưa một nhà thơ lên giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách kinh tế thì tránh sao khỏi đất nước đói rã họng”... Sau cuộc họp tôi cứ tiếc ngẩn tiếc ngơ như người đánh mất một vật quý; tiếc vì bỏ qua đi một cơ hội để có được một bài nói xuất thần của người học trò mà đến lúc ấy mình vẫn chưa nhìn thấy hết tài năng. Nhân bài viết của Đỗ Trường đăng lại dưới đây, gọi là có mấy lời tạ lỗi với nhà văn.
Việc nghiên cứu Dương Thu Hương, đáng ra phải được coi là một trọng điểm của bộ môn nghiên cứu văn học đương đại, bởi do hoàn cảnh éo le, chị là một hiện tượng đặc thù có trong mình cả hai tiến trình từng diễn ra trong một thời đoạn đặc biệt của văn học Việt Nam – văn học miền Bắc sau chiến tranh và văn học lưu vong hải ngoại sau đó – có chỗ đồng điệu và cũng có chỗ khác với các nhà văn miền Nam sau 1975 ra định cư và sáng tác ở nước ngoài. Nói chị trường sức, vì cũng có người được bạn đọc gửi gắm rất nhiều hy vọng như Phạm Thị Hoài, Đỗ Hoàng Diệu... nhưng một ra đi là... ngừng sáng tác.
Rất tiếc, sự bứt phá của công cuộc đổi mới ở Việt Nam từ sau 1986 đã không đi đến đâu, hay đúng hơn là mới chỉ đi được một bước đã phải thụt lùi, nên những ý tưởng khoa học như nói ở trên không thể nào thực hiện được vì bị quy chiếu ngay vào chính trị (một quan điểm lầm lẫn tai hại của cả con mắt an ninh văn hóa lẫn con mắt tuyên huấn). Dù sao, trước sau thế nào lịch sử văn học dân tộc cũng phải làm việc đó. Không phải chỉ Dương Thu Hương mà các nhà văn hải ngoại khác, sớm muộn sẽ trở về ngồi đúng vị trí của họ trên văn đàn. Nếu có ai chê cười đi nữa thì người viết mấy dòng này vẫn giữ niềm tin vững chắc ở điều mình nghĩ, không ngại bị coi là dự báo vớ vẩn hay ảo tưởng.
Xin bạn đọc hãy gắng chờ xem.
Nguyễn Huệ Chi


clip_image001
Không hiểu thế quái nào, từ những thập niên cuối của thế kỷ hai mươi đến nay, văn chương đất Việt, lại mắc phải chứng bệnh lệch pha. Âm phần thịnh vượng khí xung. Dương phần sợ gió máy, đụng chạm chướng khí, đâm ra lại còi cọc. Điều này, càng rõ ràng hơn, ngay sau khi ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh hứa hẹn cởi trói, bóc keo dán miệng cho văn nghệ sỹ. Chúng ta thấy, đã xuất hiện một loạt tên tuổi của những văn nhân, nữ sĩ, từ Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, đến Phạm Thị Hoài… Sự can đảm, tiếp nối nhau ấy của họ, tuy ở những mức độ khác nhau, nhưng đã góp phần không nhỏ, cho sự hồi sinh dòng văn học hiện thực phê phán.
Cho đến tận hôm nay, vẫn có những ý kiến, đôi lúc còn khác nhau, nhưng có lẽ, không ai có thể phủ nhận, nhà văn Dương Thu Hương là người đã bập nhát cuốc đầu tiên, khơi thông dòng chảy này.
*Có một giai điệu lạ, lạc ra khỏi trong dàn đồng ca ấy.

Tôi không rõ, chính ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, hay văn kiện của Đảng, hoặc ai đó đã viết: TBT Nguyễn Văn Linh kêu gọi, hãy cởi trói cho các văn nghệ sĩ. (Như vậy, có sự khẳng định, từ trước đến nay, các văn nghệ sĩ đã bị trói tay, bịt miệng) Câu văn này, đã được nhắc lại nhiều lần, trong bài viết của các giáo sư, các nhà ngôn ngữ học và từ cả các văn nghệ sĩ ở trong nước. Đọc nó, tôi thấy rất mâu thuẫn và dường như có một chút hề hề. Bởi, Đảng Cộng sản là đảng cầm quyền. Từ trước đến nay, chính Đảng (mới đủ khả năng) trói tay, bịt miệng các văn nghệ sỹ và kiểm duyệt sách báo. Vậy, ông TBT đứng đầu đảng kêu gọi ai, cởi trói cho các văn nghệ sĩ? Khi chính ông thắt và đang cầm cái dây đó. Hay ông đang kêu gọi chính ông? Người bình thường, không ai, làm một công việc kỳ quái như vậy.

Vâng! Một lời kêu gọi, rặt tính vờ vịt, vô trách nhiệm, chạy tội này, không hiểu các giới trí thức trong nước, có suy nghĩ gì, khi sử dụng câu văn này?

Phải nói, đây là thời kỳ khởi sắc nhất của văn học trong nước, kể từ sau Nhân Văn - Giai Phẩm. Một loạt tên tuổi nhà văn và các tác phẩm của họ, đã tách hẳn ra khỏi dàn đồng ca, tụng ca, tìm một hướng đi, cách viết mới, rửa lại bộ mặt nhem nhuốc cho nền văn học trong nước. Những Thân phận tình yêu (Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh, Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp… gắn liền với tên tuổi của bà đỡ Nguyên Ngọc. Thiết nghĩ, dù có đổi mới, có cởi trói cho văn nghệ sĩ, nhưng nếu không có Nguyên Ngọc, [biết cách đáp ứng] khao khát cái mới của người đọc ở thời điểm ấy, thì những tác phẩm trên chưa chắc đã thành công đến như vậy. Bởi, đến nay, có nhiều tác phẩm, xét về nghệ thuật cũng như nội dung, không hề thua kém Nỗi buồn chiến tranh, hay Tướng về hưu, nhưng lại không được công kênh, chào đón nồng hậu như vậy, vì thiếu địa lợi, vắng nhân hòa và bàn tay bà đỡ như Nguyên Ngọc. Quả thực, văn chương thơ phú, cũng như con người, đều có số phận của nó.

Khi các nữ sĩ Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài… vẫn đủ can đảm và nội lực viết thẳng tưng về những vấn đề nhức nhối nhất của xã hội, con người, thì các đấng văn nhân dường như, ngòi đã bị xì, bị tịt. Người đọc, chờ cuốn tiểu thuyết kế tiếp của Bảo Ninh, đến nay, đã một phần tư thế kỷ, nhưng vẫn thấy tít tắp mù xa. Nguyễn Huy Thiệp lại chuyển sang (gam) truyện dài, tiểu thuyết lịch sử, nhưng anh đã thất bại, về cả nội dung, tư tưởng lẫn nghệ thuật viết. Gần đây, nghe nói, anh tuyên bố, rửa tay gác bút.

Thật là buồn thay! Các nhà văn thuở ấy, hồn khí ở nơi đâu bây giờ?

Nhà văn Dương Thu Hương, sinh năm 1947 tại Thái Bình, chị đã có những năm tháng dài là người lính, ở mặt trận ác liệt Bình Trị Thiên. Rất may mắn, chị còn sống và trở về, sau chiến tranh. Giải ngũ, chị vào học Trường viết văn Nguyễn Du và làm việc trong ngành điện ảnh. Và từ đây, chị chuyên tâm, và hoàn toàn dấn thân vào con đường văn chương đầy khổ ải này.

Có thể nói, trong chiến tranh, Dương Thu Hương đã mờ mờ nhận ra, không riêng thế hệ chị, mà cả một dân tộc bị dối lừa. Nhưng chỉ đến khi, kết thúc cuộc chiến, chị mới nhận thức được rõ ràng, đầy đủ. Đắng cay là như vậy, nhưng dường như, Dương Thu Hương đã kịp kìm lại nỗi đau ấy. Sự dồn nén, đợi chờ đó, nó chỉ phát nổ và cháy lên, khi chị đã có một chỗ đứng, và trở thành nhà văn Dương Thu Hương nổi tiếng.

Thật vậy, những bài văn chính luận, những trang sách hiện thực phê phán của chị đã phơi trần những sự thật, từ cung đình xuống đến đời sống dân cày. Để từ đó, Dương Thu Hương đã sổ toẹt Đảng, ly dị Hội nhà văn. Và cánh cổng nhà tù, đã mở ra cho chị từ đây…

Có một số nhà văn, nhà nghiên cứu cho rằng, những tác phẩm của Dương Thu Hương gây tiếng vang và đọng lại trong lòng người, phần nhiều do chính trị. Nhưng với tôi, không hẳn như vậy. Bởi, chị đã đứng hẳn về phía nhân dân để viết. Và chính sự thật trong những cuốn sách của chị, đã mở cửa, cho độc giả nước ngoài, tiếp cận và hiểu đúng về văn học Việt, cũng như nỗi thống khổ của con người. Từ đó, làm tên tuổi của chị gần gũi, và được người đọc trong, ngoài nước yêu mến nhiều hơn, là lẽ đương nhiên.

Tuy đến với văn chương hơi muộn, nhưng Dương Thu Hương viết nhanh và khỏe. Kể từ năm 1980, đến những năm cuối thập niên chín mươi, dường như năm nào chị cũng ra sách. Đặc biệt, năm 1985, chị cho in ba, bốn tập truyện ngắn và tiểu thuyết. Viết nhanh và khỏe như vậy, nhưng có thể nói, tập truyện nào của Dương Thu Hương cũng hay, nhiều người tìm đọc, kể cả những truyện ngắn đầu tay. Tư tưởng, cách viết của chị đã vượt ra khỏi cái dàn đồng ca, tụng ca ấy. Và cũng chính nó, đã xé toạc bóng tối của đời sống con người, xã hội, mà bấy lâu nay người ta cố tình che đậy. Thật vậy, nếu văn chương không đi thẳng vào đời sống xã hội, một cách trung thực nhất, thì nó chỉ là những trang viết chết.

Nếu như được phép lựa chọn, những cuốn sách đại diện cho sự nghiệp văn chương của Dương Thu Hương, thì chắc chắn, tôi sẽ nghĩ đến tiểu thuyết Những thiên đường mù và tập truyện Chân dung hàng xóm. Đây là hai cuốn sách điển hình về tư tưởng, nghệ thuật viết truyện của chị. Nhưng nhìn từ góc độ khác, Tiểu thuyết Vô đề (Khải hoàn môn), lại là cuốn sách tôi thích hơn cả. Bởi Dương Thu Hương rất can đảm, đánh giá lại, đưa ra cái nhìn rất mới về chiến tranh, ngoài ra còn nhiều chi tiết, tình huống phức tạp, dễ gây tranh luận với lối hành văn nhanh, sinh động, khác với cách viết thông thường của chị.


*Nhà văn phản kháng - Sự phản kháng trong văn chương

Cùng với Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tháng Ba gãy súng của Cao Xuân Huy, Tiểu thuyết Vô đề là cuốn sách viết về chiến tranh hay nhất mà tôi đã được đọc. Có thể nói, Tiểu thuyết Vô đề là cuốn tự truyện trong tiểu thuyết, mổ xẻ tâm lý người lính, trước sự tàn nhẫn man rợ của chiến tranh. Cuốn sách này, được xuất bản ở  Hoa Kỳ vào mùa hè năm 1991, khi Dương Thu Hương đang ngồi tù ở Việt Nam. Đặt bút viết Tiểu thuyết Vô đề, chắc chắn, chị đã lường trước được áp lực không chỉ của chính quyền trong nước, mà còn cả phần đông người Việt ở nước ngoài. Nhưng chị đã vượt qua cả hai làn đạn ấy, để có một tác phẩm văn học, hay đến như vậy. Thì quả thật, làm cho người đọc không chỉ yêu mến tài năng, mà còn cảm phục, tinh thần, lòng dũng cảm của chị.

Có thể nói, khuynh hướng mới, tự truyện trong tiểu thuyết gần đây, đã cho người đọc hiểu được tác giả và cuộc sống, thời đại đó, soi rọi qua chính những tình tiết, gắn liền cuộc đời hay những trải nghiệm thật của họ. Tiểu thuyết Vô đề cũng vậy, nhà văn Dương Thu Hương, đã dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất, thay cho Quân, thuật lại thân phận, cuộc đời người lính chiến. Tư tưởng, cảm xúc của tác giả, được thông qua sự hồi tưởng, hành động nhân vật, bằng thủ pháp bẻ đôi câu chuyện, cắt ngang cuộc đời Quân. Và lời tự thuật của người lính, được bắt đầu từ nhát cắt ấy.

Ngay những dòng đầu tiên, Dương Thu Hương đã dẫn người đọc vào cận cảnh rùng rợn của cuộc chiến. Dù không có tiếng bom rơi, đạn nổ, nhưng ta đã cảm được cái chết ở đâu đó, hoặc nó đang đến rất gần: “ Suốt đêm tôi nghe gió hú ngoài vực cô hồn. 

Tiếng rên rỉ triền miên, tiếng nức nở, đôi lúc tiếng rít hỗn hào như ngựa cái hí ngày động cỡn. Mái lán rung bần bật, những ống tre nứt thổi sáo từng hồi, tấu lên giai điệu thê lương của đám tang vùng thôn dã. Cây đèn chai của chúng tôi phập phù như muốn tắt. Tôi thò cổ khỏi chăn, thổi tắt ngọn lửa, mong bóng đêm sẽ bịt hết mọi giác quan…“ (chương1)

Vâng! Đó là cái chết tang thương của sáu cô gái ở binh trạm hay thanh niên xung phong, người miền Bắc, mà tác giả cho rằng, (có thể) do những người lính thám báo VNCH gây ra. Chi tiết này, gây ra phản ứng, tranh cãi cho người đọc, nhất là những người lính VNCH. Như có lần tôi đã viết, là người sinh sau đẻ muộn, rất may, tôi không phải tham gia, cuộc chiến huynh đệ tương tàn, đẫm máu và nước mắt này. Nhưng đọc và nghe, tôi cảm được quân kỷ, cũng như phẩm chất của người thám kích nói riêng và người lính VNCH nói chung. Cho nên, đến lúc ngồi viết những dòng chữ này, tôi vẫn không tin, hành động dã man bỉ ổi đó, do một số người lính thám báo gây ra. Nhưng, đọc Tháng Ba gãy súng của người sĩ quan  VNCH Cao Xuân Huy, viết về hành động giết chính đồng đội mình, của lính thủy quân lục chiến, rồi quăng xác xuống biển, chỉ vì chỗ ngồi trên tàu, khi di tản, rút chạy, làm tôi thấy khó hiểu. Buộc tôi phải hoài nghi: Sự quân kỷ của lính thám báo VNCH, có lẽ, nó lại nằm trong cái (xác suất) số dư như trong toán học chăng?

Sự giết chết đồng đội của nhóm lính thủy quân lục chiến, giữa chốn đông người, tôi cho rằng, còn dã man, tàn bạo hơn nhiều lần, so với những kẻ đã giết 6 nữ thanh niên xung phong, là người của phía bên kia.

Tôi hoàn toàn, không tìm ra lời giải đáp. Và tôi chỉ còn có thể an ủi mình: Chiến tranh điều gì cũng có thể xảy ra.

Vâng! Chúng ta nghĩ gì? Khi đọc đoạn trích hồi ký dưới đây:

“…Chưa kịp tìm chỗ ngồi, tôi nghe một tiếng súng nổ.
Hai người lính Thủy Quân Lục Chiến cúi xuống khiêng xác một người lính Bộ Binh vừa bị bắn chết ném xuống biển. Một người lính Thủy Quân Lục Chiến khác đang gí súng vào đầu một trung úy Bộ Binh ra lệnh:
“Ðụ mẹ, có xuống không?”
“Tôi lạy anh, anh cho tôi đi theo với”.
“Ðụ mẹ, tao đếm tới ba, không nhảy xuống biển tao bắn”.
“Tôi lạy anh mà, tôi đâu có gia đình ở ngoài này”.
“Ðụ mẹ, một”.
“Tôi lạy anh mà, anh đừng bắt tôi ở lại, anh muốn lạy bao nhiêu cái tôi cũng lạy hết. Tôi lạy anh, tôi lạy anh”.
“Ðụ mẹ, hai”.
“Trời đất, mình đồng đội với nhau mà, anh không thương gì tôi hết. Tôi lạy anh mà”.
“Ðụ mẹ, ba”.
Tiếng ba vừa dứt, tiếng súng nổ.
Người trung úy Bộ Binh ngã bật ngửa ra, mặt còn giữ nguyên nét kinh hoàng. Viên đạn M-16 chui vào từ đỉnh đầu. Xác của anh ta được hai người lính Thủy Quân Lục Chiến khác khiêng ném xuống biển.
Tên lính vừa bắn người thản nhiên tiếp tục chĩa súng vào đầu một thiếu tá Bộ Binh đang sợ hãi nằm mọp người ở cạnh đó, mặt lạnh băng đầy sát khí:
“Ðụ mẹ, tới thằng này, mày có xuống không?”
Ông thiếu tá Bộ Binh này hơi lớn tuổi, mặt cắt không còn hột máu, run lên cầm cập, năn nỉ:
“Anh tha cho em, anh tha cho em”.
“Ðụ mẹ, một….” ( Tháng ba gãy súng - chương 5 - Cao Xuân Huy)

Vâng! Tôi cũng định dừng sự việc đau đớn này ở đây, bởi tình tiết trên, không phải là điều chính, tôi muốn viết, muốn bàn trong bài này. Nhưng trời đã về khuya, màn đêm dày đặc trước ô cửa, không có gió, mà lòng cứ thấy nao xao, buộc tôi phải bật dậy. Tôi ngồi, viết những suy nghĩ của mình, gửi cho hai người anh văn chương lớn tuổi. Các anh là sĩ quan cấp tá quân đội VNCH, đều chỉ huy trung đoàn ngoài mặt trận. Rất may, cả hai anh đều viết, trả lời những thắc mắc, suy nghĩ của tôi. Tuy nhiên, là kẻ hậu bối, tôi không dám, không đủ khả năng kết luận đúng sai. Nhưng khi đi sâu vào phân tíchTiểu thuyết Vô đề, tôi giữ nguyên những tình tiết vốn có trong tác phẩm.

Và cũng xin phép các anh, tôi đưa nguyên văn bức thư ấy lên đây, để bạn đọc tự suy xét, có đánh giá của riêng mình vậy:

“1/- Lính thám báo (biệt kích) hầu hết đều được chọn lựa rất kỹ càng, sau đó cũng phải trải qua một thời kỳ huấn luyện nghiêm khắc. Không phài chỉ có khả năng tác chiến, mưu sinh giỏi mà quan trọng là tinh thần kỷ luật rất cao. Tất cả đều đáng tin cẩn. Vì các toán thám báo hoạt động đơn độc và hầu hết trong các công tác thật nguy hiểm, nếu không có kỷ luật, họ sẽ không thi hành nghiêm chỉnh mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhất là trong tình trạng sinh tử. Vì vậy, việc nhà văn Bảo Ninh (hay là Dương Thu Hương) kể về hành động của tham báo (biệt kích) trong các tác phẩm của họ, dưới con mắt của người lính miền Nam, sẽ trở nên quá cường điệu, nếu không nói là… không thể.
Điều nên nhớ là nhiệm vụ chính của lính thám báo hay biệt kích là đột nhập (âm thầm) vào vùng địch để ghi nhận tin tức, tình hình của quân địch, hay bắt sống địch mang về khai thác. Chỉ nổ súng khi thực sự cần tự vệ (nếu bị phát hiện), và nhanh chóng phân tán, tìm mọi cách thoát ra khỏi vùng địch. Với họ, nổ súng là điều tối kỵ và bất lợi nhất. Như vậy các sự kiện (theo Bảo Ninh và DTH) kể: các thám báo bắt địch quân (lính gái hay TNXP) tra khảo, hãm hiếp… (nhẫn nha ngay trong lòng địch một thời gian khá dài) là điều không đúng!

2/- Về chuyện đám lính TQLC bắn giết các quân nhân không cùng binh chủng trên các tàu di tản từ Đà Nẵng (theo Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy) là chuyện có thật. Là một vết nhơ đáng lên án. Nhưng bản chất sự việc khác hẳn với chuyện Thám Báo.
Vì đám lính này thuộc loại vô kỷ luật. (Có nhiều thanh niên du đãng, phạm pháp, sau thời gian thụ xong án, cũng được đưa vào lính, bổ sung cho một số đơn vị hao hụt quân số). Với bản chất (xấu) ấy, lợi dụng khi đơn vị gặp lúc xáo trộn, mạnh ai nấy sống, không còn được sự chỉ huy chặt chẽ nữa, thì những con người này trở về với bản chất xấu của họ, giết người, cướp bóc. Vì vậy, sau khi các chiếc tàu di tản từ miền Trung vào Nam, đã không cho cặp bến Vũng Tàu hay Sài Gòn, mà tất cả được lệnh cặp vào Đảo Phú Quốc. Một Tòa Án Mặt Trận đã được thành lập khẩn cấp tại đây, hầu hết những người lính TQLC phạm tội đều bị xử bắn.
Do đó, theo mình, những tên lính lưu manh. phạm tội này, không thể so sánh với những người lính thám báo hay biệt kích. Khác nhau rất xa, mà người sĩ quan miền Nam nào cũng nhận thấy khác biệt rất rõ ràng”.

Tuy có lần, nhà văn Dương Thu Hương đã tuyên bố, dùng văn chương để làm chính trị. Nhưng khi đọc, nghiên cứu, tôi thấy những tác phẩm của chị được chia thành hai mảng, chính luận và văn hiện thực phê phán nhân đạo, rất rõ ràng. Nếu như, văn chính luận của chị đanh thép, quyết liệt, hừng hực sức chiến đấu chống bạo quyền, làm nên tên tuổi nhà văn phản kháng Dương Thu Hương, thì văn học hiện thực, nhân đạo xoáy sâu vào nỗi đau của con người, xã hội, lại làm nên một nhà văn Dương Thu Hương can trường và tài hoa khác.

Phải nói thẳng, từ sau Nhân Văn - Giai Phẩm bị đàn áp, đến năm đầu đầu thế kỷ này, chưa có nhà văn nào, can đảm viết thẳng thắn, máu lửa như Dương Thu Hương. Những ngày tháng tù đày ấy, dường như càng làm cho tinh thần chị vững vàng và can đảm hơn lên. Những bài viết, những trang sách của chị, không chỉ còn là nhát dao chọc vào ung nhọt của xã hội nữa, mà nó như trái bom, dội xuống đầu chế độ và nhà cầm quyền. Do vậy, sách của chị, cho đến nay, hoàn toàn bị cấm xuất bản và phát hành trong nước.

Việc cấm xuất bản và phát hành, kể cả những cuốn sách văn học hiện thực nhân đạo, của những nhà văn Dương Thu Hương, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài… gần đây, cho thấy rõ một điều, nhà nước chưa bao giờ từ bỏ lý lịch hóa, chính trị hóa văn học. Với cách quản lý văn hóa, nhưng lại thiếu văn hóa, ích kỷ, thiển cận như vậy, gây thiệt thòi cho người đọc và tổn hại cho cả nền văn học, vốn dĩ đã èo uột.


*Hệ quả quái thai được sinh ra từ chiến tranh.

Ngược dòng lịch sử, đất Việt ta đã trải qua bao phen chống ngoại xâm và những năm tháng dài nội chiến, chém ngang hình đất nước, nhưng chưa cuộc chiến nào tàn nhẫn, man rợ như cuộc chiến huynh đệ tương tàn vừa qua. Chủ thuyết nào, ý thức hệ nào, đã ấn súng, ấn dao vào tay học sinh, sinh viên, và cả những người nông dân chất phác, hiền lành, để họ lao vào nhau chém giết, một cách thú vật, điên cuồng như vậy?

Một câu hỏi tưởng chừng đơn giản, vậy mà, trải qua mấy chục năm và bao thế hệ, không tìm ra câu trả lời. Bởi, lời giải đáp ấy, đã được che giấu, bằng họng súng và tù đày. Và chỉ đến khi, người nghệ sĩ, nhà văn Dương Thu Hương dám đánh đổi tù đày, thì sự thật mới được phơi bày. Một sự thật, ai cũng biết, nhưng không đủ can đảm nói và viết ra.

Để viết những trang sách này, Dương Thu Hương đã bước ra khỏi cuộc chiến, ra khỏi hận thù, để tìm góc nhìn trung thực nhất. Thông qua lời tự thú của Quân, nhà văn không chỉ vạch trần tội ác dã man tàn bạo, của người lính miền Bắc, mà còn vạch ra hành động vô nhân đối với đồng loại của người lính thám kích miền Nam. Chúng ta, đọc lại đoạn trích dưới đây, để thấy được cách giết người man rợ của người lính miền Bắc:

“…Hùng thường nghĩ ra những cách giết người đặc sắc trong các trận giáp lá cà. Và gã kể lại cho đồng đội nghe với khoái cảm không che đậy. Kẻ thì gã xọc lê từ họng xuống tim, – kẻ gã chọc từ nách bên phải qua bên trái, – kẻ gã lại đâm từ hạ bộ ngược lên ở bụng. Kỳ thú nhất là một lần đánh ấp, gã bò vào phòng riêng một tên sĩ quan nguỵ , chờ tên này dính chặt với cô vợ trắng phôm phốp của y như một cặp cá thờn bơn, gã mới phóng lê từ trên xuống “Một xọc xuyên hai, bảo đảm là sướng mắt…” (chương 11).

Khi người lính miền Bắc, đang sung sướng, vui mừng, tìm ra những kiểu giết người mới, thì người lính miền Nam lại điên cuồng với những với những kiểu hãm hiếp, giết người thời trung cổ:
  “…Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.
Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những người con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.
Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết! Những cái xác bầm dập méo mó! Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phung lở hay một con cóc chết! …“(chương 1)

Viết đến những hình ảnh man rợ này, chợt làm tôi nhớ đến câu chuyện, hơn bốn mươi năm trước. Tôi có người chị họ khá xinh đẹp, làm việc ở Hòa Bình. Đầu những năm 1969-1970, chị đang là đối tượng kết nạp Đảng. Thời kỳ đó, thương binh, bộ đội người miền Nam ra Bắc tập kết, an dưỡng khá đông. Thành phần này, rất được chính quyền ưu đãi. Bọn này, thường tụ tập bầy đàn, rượu chè, ăn nhậu, không chịu trả tiền, đập phá, đốt nhà, đánh người vô cớ… Nhưng chính quyền thường làm ngơ. Không hiểu sao, có một thương binh quê ở miền núi An Khê, Bình Định, đem lòng yêu người chị họ tôi. Lúc đầu, chị không chịu, nhưng có lẽ, do sắp xếp của tổ chức hay vì cái thẻ Đảng viên, nên chị gật đầu. Cưới được một thời gian, chị dẫn hắn về nhà tôi chơi. Bữa tối, mẹ tôi mua lòng lợn, đãi khách. Cả nhà đang ăn ngon lành, tự nhiên hắn kể chuyện chiến trường. Đến đoạn giết tù binh, lấy gan xào với rau rừng ăn, làm cả nhà buông bát đứng dậy. Lúc đó, tôi hơn chục tuổi, nhưng do tính tò mò, ngồi nghe hết câu chuyện ăn gan người của bọn hắn. Theo hắn, bọn hắn ăn thịt đồng loại, không hẳn là vì đói, mà cần cảm giác và ăn cho biết vậy thôi. Sau năm 1975, hắn cũng không chịu về quê Bình Định. Sau này, nghe nói hắn bị điên. Không rõ, bị điên vì bị vợ bỏ, hay bị vật, bởi những linh hồn người, hắn đã ăn gan xẻ thịt.

Không ai có thể giải thích được, những cái quái đản, mà người ta đã đưa vào cuộc chiến này. Nó như những thứ bùa ngải hận thù, không chỉ nhử một dòng họ, gia đình, anh em, mà cả dân tộc lao vào chém giết nhau.

Vâng! Một sự nhồi sọ của chủ thuyết quái thai, không tưởng, hay một học thuyết bán mua chiến tranh của những kẻ đến từ bên kia bán cầu. Chúng cùng nhau, đưa cả dân tộc đến tuyệt lộ. Đoạn văn diễn tả sự dã man, lòng hận thù đến mù quáng, lên tới tột đỉnh, dưới đây, là những tiếng kêu bi thảm, xót xa, hay là một lời ai điếu cho cả một dân tộc, của Dương Thu Hương?
“…Hai bên đều hò hét, cả hai bên đều điên cuồng chém giết, – cả hai bên đều rú lên khoái trá khi máu đối phương phụt khỏi tim, óc đối phương vọt khỏi não, – cả hai bên đều quằn quại như sâu bọ dưới những làn đạn lửa, – phần sống sót lê khỏi chiến địa để làm mồi dự trữ cho các mặt trận tiếp theo, – phần đã chết tự hiến nốt hình hài cho các loài ác thú và dòi bọ.
Cả hai bên đều yên trí là mình đã hy sinh xứng đáng cho lý tưởng. Than ôi, họ có chung một nòi giống, con của mẹ Âu Cơ và cha Lạc Long Quân. Họ là những hữu thể được tái sinh trong cùng một bào thai – không xứ sở nào có được cái huyền thoại mê ly đến thế!”(chương 13).


*Quan tài, đường đi đến của cuộc chiến huynh đệ tương tàn

Hành trình, dòng người cõng những cỗ quan tài, đi ra nơi có tiếng súng nổ, là biểu tượng, là con đường chết của cuộc chiến này. Và đó cũng là thông điệp nhà văn muốn gửi đến người đọc, về giá trị, kết cục của nó, trong tác phẩm Tiểu thuyết Vô đề. Chiếc quan tài đó, không chỉ chứa thể xác, mà nó còn là những nấm mồ chôn đi ham muốn, linh hồn khát vọng của con người.

Nếu ta đã đọc, Bên kia bờ ảo vọng, hay Những thiên đường mù, thì thấy tính ẩn dụ, so sánh trong Tiểu thuyết Vô đề, đã đạt đến mức độ cao hơn. Thủ pháp nghệ thuật này, được chiếu rọi từ những ký ức rời rạc, đứt quãng của Quân, (người thuật truyện) xuyên suốt tác phẩm.

Đọc đoạn văn dưới đây, ngoài cái quặn đau cho một kiếp nhân sinh, ta còn thấy được, trong binh đao khói lửa, còn đâu nữa cái đẹp, thanh bình từ tạo hóa sinh ra. Chiến tranh đã nhập đồng vào linh hồn, với người lính, vẻ đẹp chỉ còn hiển hiện trong cái chết, trong sự chém giết nhau điên cuồng. Đây là một trong những đoạn văn ẩn dụ, so sánh, hay và rung động nhất, mà tôi đã được đọc:“… Đoàn người mang những cỗ quan tài in hình trên đường viền của núi, giữa khung cảnh rạng đông. Bóng họ đi động chậm chạp nhưng kiên nhẫn, mê mải. Hành trình. Con người tự vắt kiệt sức mình để đem được quà dâng cho chiến trường. Trong các tặng vật ấy, biết đâu chẳng có một chiếc dành cho tôi?… Và tôi, và bất cứ người lính nào cũng đã sẵn sàng tiếp nhận món quà kì lạ đó… Trong cả hai hành động, có chung vẻ đẹp tuyệt vời của chiến tranh.

Bất chợt, tôi sực nhớ tiếng kêu xé ruột, man dại của mẹ tôi, gương mặt dầm mồ hôi, nỗi đau làm méo mó một cách kinh dị. Rồi cũng chính trên gương mặt méo mó kinh dị ấy, ngời lên nụ cười rạng rỡ hạnh phúc khi tiếng khóc oe oe của đứa con cất lên và đôi bàn chân đỏ hỏn của nó quẫy đạp trong không khí… Đó, vẻ đẹp mặn mòi của đời sống, vẻ đẹp của tạo sinh. Vẻ đẹp ấy đã xa vời. Nó lẩn khuất với những kỷ niệm vụn vặt thời thơ bé. Tôi bỗng kinh hoàng. Người ta không thể cùng một lần đắm mình vào hai dòng nước…” (chương 9).

Có người đã mạt sát, hành vi chủ động, van xin được làm tình với Quân là thú vật của Viếng, người nữ quân nhân, một mình quanh năm canh nghĩa địa, sống với xác chết, giữa rừng. Tôi cho đây là cái nhìn khắt khe, thiếu cảm thông. Bởi, hành động đó là bản năng, khao khát sống, khao khát yêu, khao khát làm tình của con người. Ai cho Viếng, một cơ hội, một ước vọng đó? Khi chiến tranh bom đạn và những xác chết đang bủa vây lấy cô. Nếu như, ta đã đọc những câu thơ của người lính VNCH Huỳnh Hữu Võ, chắc chắn sẽ có cái nhìn khách quan, cảm thông hơn về Viếng, về những người lính cả hai phía, nơi chiến trường: Anh phải ngủ thật nhiều ban ngày/để đêm từng đêm ngồi ôm súng gác/anh phải cười nơi đây thật to/để khỏi nghe tiếng súng/anh phải văng tục nơi đây cho đã/vì thiếu bóng đàn bà suốt tháng/anh phải thủ dâm.

Tôi nghĩ, nếu như nhà văn để Quân không từ chối cự tuyệt Viếng, thì tính nhân đạo sẽ nhân lên. Và chắc chắn, người đọc sẽ thỏa mãn hơn. Tuy nhiên, ý đồ của tác giả, muốn bật lên cái tàn nhẫn tận cùng của chiến tranh, sẽ phải giảm đi.

Đọc Tiểu thuyết Vô đề, ta không chỉ thấy được bản năng sống, khao khát yêu, nhu cầu sinh lý con người bị tước bỏ, để cho những người lính, như Biền phải làm tình với cả súc vật, một cách nhục nhã như vậy. Mà ta còn thấy được, sự giả dối lưu manh ngay trong chiến tranh, của những tướng lãnh, những kẻ chuyên giảng giải đạo đức. Hình ảnh so sánh dưới đây, cho ta thấy rõ điều đó:

“…Lũ dân thường như chúng ta, chịu cực đủ điều, bóp miệng bóp mồm, bóp cả đến con c… Tụi tướng lĩnh nó có khổ như thế đâu? Ra Bắc vào Nam, đâu đâu chúng nó cũng có đàn bà. Ngày xưa thì là phi là thiếp, giờ thì các đồng-chí-nữ phục vụ! Trò đểu, thời nào cũng giống nhau là thế!…” (chương 6).

Sự lưu manh, giả dối ấy, không dừng lại mức độ ăn chơi hưởng lạc, nó đã được đẩy lên mức giết người tàn nhẫn. Nhân danh đảng, cùng với sự dốt nát của mình, chính ủy trung đoàn đã đưa cả đại đội nướng vào cái cối xay thịt. Từ đây, ta thấy rõ hơn, sinh mạng người lính trong chiến tranh, dưới bàn tay của những kẻ cuồng vọng này, quả thật, chỉ là trò chơi, quá rẻ mạt:
“Lão Hữu muốn lập công với sư đoàn nên quyết định đánh lẻ. Bọn dưới nịnh lão, ủng hộ kế hoạch tác chiến vắng mặt sư trưởng. Lão lại là bí thư đảng ủy trung đoàn, toàn thể các đảng ủy viên nhất trí quyết định của ban thường vụ. Đại đội trinh sát vừa muốn lấy lòng lão Hữu, vừa lười nên báo cáo ẩu, đia hình địa vật hoàn toàn sai. Thế là đại đội B41 của thằng em tôi được lệnh tiêu diệt các hỏa điểm của địch, mở đầu trận F.E.18. Chúng nó bò tới trận địa, vừa rút xẻng ra đào hầm trú ẩn thì bị ngay. Ở đó, không phải loại đất pha cát như tụi trinh sát báo cáo, thuần một thứ đất sỏi pha đá ong già, lưỡi xẻng chọc xuống là lửa lóe lên. Các hỏa điểm địch cứ thấy đốm lửa lóe lên ở đâu là nã cối và các loại đạn nóng vào đó. Đại đội B41 phơi lưng, không một hòn đá, gốc cây ẩn núp. Địch trút cả núi đạn xuống. Hôm sau phải điều động ba đại đội tới đánh trả và lấy xác các tử sĩ ra. Lại thêm năm mươi nhân mạng hy sinh…”(chương12)


*Lời sám hối dưới cái nhìn nhân bản

Thật kỳ lạ, hai cuốn tiểu thuyết có cách viết và cái nhìn rất mới về chiến tranh lại thuộc về hai nhà văn nữ. Đó là Tiểu thuyết Vô đề của Dương Thu Hương và Dạ tiệc Quỉ của Võ Thị Hảo. Khi đọc, tôi có cảm giác khác hẳn, bởi nó đã giải mã được bản chất của sự việc, cùng bộ mặt thật của những kẻ đứng sau cuộc chiến vừa qua. Mà những cuốn sách khác chỉ mới dừng ở mức độ, bóc trần sự tàn nhẫn, khốc liệt và thân phận con người sau chiến tranh, kể cả Nỗi buồn chiến tranhcủa Bảo Ninh.

Thật vậy! Khải hoàn môn ấy, được tạo bằng xương máu của cả một dân tộc khổ đau, nhưng vinh danh lại thuộc về những kẻ bán mua chiến tranh. Những lý tưởng, những hình tượng thánh thần, chỉ là liều thuốc, ru người vào trong khói lửa binh đao. Từ cái nhìn ấy, Dương Thu Hương đã mỉa mai, điểm mặt chỉ tên, những kẻ đứng sau, thực sự là ông chủ của cái Khải hoàn môn đó:“Chúng tao thờ một chủ thuyết. Chúng mày cũng thờ một chủ thuyết. Vị thần chúng tao thờ tên là Mác, mũi lõ, mắt xanh, râu rậm. Còn vị thần chúng mày thờ tên là gì? Tóc thưa hay tóc rậm? Trán hói hay trán vuông? Để râu dê hay râu cáo?“(chương 12).

Và cũng chính cái chủ thuyết hoang tưởng đó, đã đẻ ra tầng lớp thống trị mới, với những phương thức cai trị quái đản, phi nhân. Nếu nhìn lại lịch sử, từ cải cách ruộng đất đến những gì đang xảy ra trên đất mẹ hôm nay, ta mới thấy được trái tim nhạy cảm trong con người nghệ sĩ, nhà văn Dương Thu Hương:
“ …Bây giờ, đa phần là bọn phong học cương thường đạo lý. Họ học luân lý Mác-lê. Cướp vườn cướp ruộng nhà người ta cũng là theo sách Mác. Lột quần vợ người ta mà ngủ cũng là vì lợi ích của đấu tranh giai cấp…” (chương 6).

Khi chưa tàn cuộc chiến, Dương Thu Hương đã nhận ra bộ mặt tráo trở của chế độ. Và đã vạch ra, sự coi thường, rẻ rúng con người, của những kẻ ngồi trên, sau cuộc chiến. Đây là cái nhìn sáng suốt, đầy ắp nhân bản của nhà văn. Sự đập phá kho hàng chiến lợi phẩm, không để rơi vào tay những kẻ có chức, có quyền của những người lính, tuy là hành động tiêu cực, nhưng nó lại là phát súng, báo hiệu sớm, cho sự phản kháng của người dân lương thiện với cường quyền, sau này. Rất cảm ơn, nhà văn Dương Thu Hương, đã sớm chỉ ra điều này, từ mấy chục năm về trước: “- Em nghĩ nhiều… Em cũng nghe chán vạn điều thiên hạ nói. Nhưng mà, nhân dân lúc có thật, lúc như bóng ma: Nếu cần lúa, nhân dân là con bò kéo cày. Lúc có chiến tranh, con bò ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi, khi mọi sự đã qua, vào những ngày lễ lạt, hội hè… người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng các hồn ma, tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, còn phần xôi thịt thì kẻ khác hưởng…”(chương 15).

Có thể nói, Tiểu thuyết Vô đề có lời văn đẹp và súc tích nhất, trong những cuốn sách của Dương Thu Hương, mà tôi đã đọc. Tâm trạng, cũng như cái nhìn của tác giả về chiến tranh và xã hội đương thời, đã hiện lên rõ nét, từ diễn biến nội tâm của (nhân vật) người lính. Và tác giả, đã giải quyết thành công mâu thuẫn nội tâm nhân vật. Tuy nhiên, không riêng Tiểu thuyết Vô đề, mà các tác phẩm khác, của Dương Thu Hương, có nhân vật và những câu thoại căng, khá lên gân làm cho người đọc, đôi khi cảm giác hơi bị hẫng.

Tôi không dám nghĩ, Tiểu thuyết Vô đề là kêu tiếng kêu đau đớn, lời sám hối chung cho một nòi giống, một cộng đồng, như có lần nhà văn Dương Thu Hương đã viết. Nhưng đọc nó, quả thật, tôi đã cảm được nỗi lòng người nghệ sĩ, nhà văn qua những hành động, hay giằng xé nội tâm nhân vật của mình. Và đây, là một trong ba cuốn sách viết về chiến tranh, mà tôi thích. Đọc xong, gấp cuốn sách lại, tôi vẫn cảm thấy thiêu thiếu, dường như có điều gì nhà văn chưa nói hết…
Đức quốc ngày 25-10-2014


Đỗ Trường