Thứ Sáu, ngày 09 tháng 1 năm 2015

Khi sống làm chó không nhà, chết đi làm chó giữ nhà bạo quan: Cái nhìn đúng về cơn sốt Khổng Tử hiện nay ở Trung Quốc

trungquoc
Lưu Hiểu Ba
Người Trung Quốc đang đẩy mạnh sự trỗi dậy của một siêu cường. Sự đi lên của nền kinh tế dẫn tới sự đi lên văn hóa, với túi tiền to mang đi rải khắp toàn cầu kèm theo việc xuất khẩu sức mạnh mềm. Trong nước thì sau khi người ta tiếp tục cơn sốt đọc kinh thư, thờ Khổng Tử, thờ Nho Giáo, bây giờ CCTV qua chương trình “Bách gia giảng đường” khơi ra cơn sốt đọc lại các tác phẩm của Khổng Tử nhằm phục hồi lại hệ thống đạo đức truyền thống; ở hải ngoại, Trung Cộng bỏ ra khoản tiền khổng lồ xây dựng hệ thống các học viện Khổng Tử nhằm quảng bá sức mạnh mềm ra thế giới. Tâm lí muốn làm bá chủ thiên hạ sau khi bị đè nén hơn trăm năm nay lại được dịp phát tiết ra ngoài, Khổng thánh nhân ở trong nước lẫn hải ngoại hợp lại làm một trận tuyến, cơn sốt Khổng Tử càng lúc càng nóng.
Đằng sau cơn sốt này, tôi không cho rằng đó là sự phục hưng của văn hóa truyền thống, mà là làm sống lại truyền thống sung bái thánh nhân, là một phần trong kế hoạch nhằm đẩy mạnh làn sóng dân tộc cực đoan trong nước. Nguyên nhân là từ sau vụ thảm sát Thiên An Môn ngày 4/6/1989, nhà nước một mặt chống lại xu hướng tự do hóa và chống “diễn biến hòa bình”, một mặt khác thì châm ngòi, chổng mông thổi bùng lên làn sóng dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã trở thành một trong những rường cột chính của chính quyền Trung Cộng về mặt ý thức hệ, phối hợp với “ngày hội của tầng lớp trung lưu” đã đẩy chủ nghĩa dân tộc dâng cao một cách tràn lan. Ví dụ, trong đoạn kết của “Khổng Tử đại điển tế văn” ở liên hoan văn hóa quốc tế Khúc Phụ năm 2005 có viết như sau: “Tiểu khang sơ thành, đại đồng tại mộng. Hân phùng thịnh hội, cường quốc uy phong” tạm dịch là “Việc xây dựng xã hội trung lưu bước đầu có thành quả, giấc mộng thế giới đại đồng đang được nuôi dưỡng. Vui mừng hân hoan vì gặp thời thế, thể hiện được uy phong nước lớn”. Đây chính là bản hợp tấu điển hình của chủ nghĩa dân tộc cực đoan với bản phúc âm của thời thịnh vượng.
Trong năm vừa rồi, việc quảng bá văn hóa truyền thống trên chương trình “Bách gia giảng đường” của CCTV đã tạo nên “cơn sốt Vu Đan” trên toàn quốc. Một mặt thì CCTV đã thành công trong việc đem Khổng Tử biến thành một món hàng thương mại thời thượng có sức hút cao (dùng theo từ ngữ của Lỗ Tấn là Modern Khổng Tử), cũng giống như việc đem Mao Trạch Đông biến thành một món hàng thương mại thời thượng mấy năm trước đây. Những sách vở, thư tịch có liên quan tới Khổng Tử đã trở thành những món hàng bán rất chạy, trên khắp cả nước cũng rộ lên phong trào mở ra những lớp học văn hóa truyền thống với lợi nhuận cao chót vót (tỉ như các “lớp quốc học” ở Đại học Thanh Hoa thu học phí là 26000 RMB/ học viên, Đại học Phúc Đán thu 38000 RMB/ học viên, những lớp dạy cho trẻ con lại càng có giá ở trên trời).
Một mặt khác thì Vu Đan đã trở thành hiện tượng với việc bán những lời giảng về Khổng Tử trên cơ sở sự kết hợp giữa lời của cổ nhân với ca từ của dòng nhạc thị trường hiện nay, cô ta diễn giải những lời của Khổng Tử một cách tùy tiện và nông cạn, như đang bơm một liều doping tinh thần cho việc thông tục hóa cơn sốt “phục hưng Nho Giáo”. Theo như những tinh hoa trong sự lý giải về Khổng Tử ở “Luận ngữ tâm đắc” của Vu Đan mà nói, ai ai cũng có thể có một tâm thái sống thoải mái cho dù có gặp chuyện gì đi nữa, chỉ cần không ôm hận trong lòng mà hãy bao dung yêu thương, biết thuận theo hoàn cảnh thì có thể chuyển nguy thành an, tìm được hạnh phúc.
Trong cơn sốt học tập theo Khổng Tử đang tăng nhiệt từng ngày thì giáo sư Lý Linh của Đại học Bắc Kinh xuất bản cuốn “Chó nhà có tang: tôi đọc Luận ngữ” với sự khảo cứu nghiêm túc về Khổng Tử, đã bóc tách những thứ huyễn hoặc và trả lại một Khổng Tử chân thực. Ông ở trong lời mở đầu có viết về thái độ của bản thân khi đọc Luận ngữ: “Sách của tôi được viết theo góc nhìn của bản thân tôi, tôi cũng không dựa theo người khác theo kiểu “quan một cũng ừ, quan tư cũng vậy”. Tôi cũng mặc xác cái gì là nhị thánh nhân, tam thánh nhân rao giảng cái gì. Cũng mặc kệ đại sư, tiểu sư nói cái gì, chỉ cần là không phải nguyên tác, tôi đều bỏ qua một bên. Tôi đọc “Luận ngữ” là tìm tới cái nguyên bản của nó. Muốn biết Khổng Tử nghĩ như thế nào thì phải xem nguyên bản. Tất cả những kết luận của tôi đề là từ những lời nói từ bản thân Khổng Tử, không tranh cãi cùng với giới trí thức, cũng không bợ đỡ, vỗ mông ngựa của đại đa số người đọc. “Sau khi đọc sách của Khổng Tử, không nên nâng bi, cũng không nên dìm hàng, nói một cách kĩ càng thì ông ta là một Don Quixote”.
Với thái độ thực sự cầu thị, không sung bái thánh nhân cũng không mị dân như vậy. Lý Linh đã phá thủng bức màn che của chủ nghĩa sùng bái đức thánh Khổng trong hơn 2000 năm qua. Ông viết: “Trong cuốn sách này, tôi muốn nói với mọi người rằng Khổng Tử không phải là thánh nhân. Khổng Tử mà đời đời nay các hoàng đế tôn sùng, phong thánh không phải là Khổng Tử thật, đó là một “Khổng tử do người ta tạo nên” mà thôi. Khổng Tử thật sống ngoài đời thực không phải là một vị thánh, cũng không phải là vương hầu gì cả, càng không đáng để nói tới cái gì mà “nội thánh ngoại vương” cả. “Khổng Tử chỉ là một con người, một người có xuất thân bần tiện, lại là tiêu chuẩn lập thân dựng sự nghiệp của giới quý tộc thời cổ đại (chân thiên tử); một người yêu chuộng tìm tòi những gì từ cổ xưa, học hành chăm chỉ, không nản chí, không mệt mỏi truyền đạt văn hóa truyền thống của người xưa và một người khích lệ học trò học tập kinh sách cổ; một người có đạo đức lẫn học vấn lại là một người không có chức có quyền, dám phê phán đám quý tộc đương thời; một người lang bạt tứ xứ du thuyết, lao tâm thay cho kẻ cai trị, liều mình khuyến dụ tầng lớp cai trị cải tà quy chính; một người nhiệt tình, ước mơ khôi phục xã hội theo lối cai trị của nhà Chu để thiên hạ thái bình; một người luôn bị giằng xé, hoang mang vô lực khi du thuyết tới rã bọt mép mà không ai nghe, nay đây mai đó không nhà cửa, giống hành trạng của một con chó vô chủ, lang bạt. Đó mới là Khổng Tử thật.”
Những nhận xét của Lý Linh về “Luận ngữ” trên phương diện khảo chứng hay là giải thích đều hơn xa những hiểu biết hời hợt nông cạn của Vu Đan. Càng quan trọng hơn, với tư cách là một phần tử trí thức đương đại, góc nhìn của ông có nhiều sự đồng cảm sâu sắc đối với một phần tử trí thức từ hơn 2000 năm trước là Khổng Tử. Lý Linh viết: “Khổng Tử tự nhận mình chính là một con chó nhà có tang. Ông ta tuyệt vọng với chính tổ quốc của mình, cùng đám đồ đệ phiêu bạt khắp nơi, gặp gỡ với tất cả đám chư hầu nhưng lại không có chút thành tựu nào, cuối cùng ông ta cũng quay về cố hương. Vào những năm cuối đời, sống trong cô độc và đau thương. Con chết, học trò yêu của ông cũng chết đã làm ông khóc cạn nước mắt. Ông đã nói tới sự đau thương của Kỳ Lân vốn ám chỉ ông ấy. Ông đã chết ở nhà mình nhưng ông lại không cảm thấy nơi nào là nhà cả. Cho dù tư tưởng của ông đúng hay sai thì chúng ta cũng có thể qua đó nhìn thấy được vận mệnh thu nhỏ của giới tri thức đương thời”.
Cuốn sách bình luận về chó nhà có tang của Lý Linh ra mắt, đã phê phán cơn sốt học tập khổng tử và cơn sốt học lại giá trị truyền thống giống như việc ném một tảng đá lớn vào mặt nước hồ đang lên, gây nên những cơn sóng phản đối dữ dội từ những kẻ bảo vệ đạo Nho. Bọn họ hợp công xúm vào chửi bới, nhục mạ Lý Linh tới nỗi nước miếng văn tung tóe khắp bốn phía. Ông bị tố cáo là người phao tin đồn nhảm về ngày tận thế, bị gọi là “phẫn thanh”, nhiều người chưa đọc qua sách của ông còn mạnh miệng cho đó là rác rưởi. Tất cả những chuyện này là do Lý Linh đã đặt tên cho cuốn sách bàn về Khổng Tử với cái tên “chó nhà có tang” . Từ đây có thể thấy được sự sùng bái của tầng lớp nhà nho mới đối với “Khổng thánh nhân” đã tới mức không ai có thể chạm tới. Chỉ tiếc là trong tay đám nhà nho mới nổi này trong tay không có bao nhiêu quyền thế, nếu không thì xã hội lại quay về cái thời đại “mở mồm ra mỗi câu đều là chân lý, một câu của lãnh tụ bằng ngàn vạn câu của kẻ khác” (thời Mao với tệ sùng bái cá nhân).
Lý Linh là một nhà lịch sử học nghiêm túc, ông đọc “Luận ngữ” không phải xem sách của thánh hiền, mà là để nghiên cứu lịch sử; từ lịch sử ông tìm ra một Khổng Tử không phải là thánh nhân mà là một phần tử trí thức không có nhà để quay về. Giống như trong lời tự bạch của tác giả: “Tôi đem “Luận Ngữ” để làm nghiên cứu lịch sử chứ không phải là công cụ để tôn sùng. “Thực ra cái mà Lý Linh nói trong “chó nhà có tang” là trả lại sự thật khi cho thấy tầng lớp trí thức sống trong nỗi bất an tinh thần triền mien khi không được sử dụng trong thời Xuân Thu. Ông đã đem chó nhà có tang biến thành chó lang thang không nhà, “bất cứ kẻ nào ôm hoài bão, trong đời thực không tìm được nơi chốn cho tinh thần của mình, đều là chó nhà có tang”. “Theo góc nhìn của tôi, dùng “mất đi quê hương tinh thần” để đánh giá Khổng Tử là hơi quá đề cao ông ta rồi. Trên thực tế thì Khổng Tử du thuyết thiên hạ không phải là để tìm kiếm quê hương tinh thần mà là để tìm một nơi cho ông ta thể hiện quyền lực của mình. Ông ta một lòng muốn làm quân sư cho các bậc đế vương mà không được, là một con chó lang thang không tìm được nơi chốn. Nếu như lúc đó có bậc đế vương nào dùng ông ta thì có lẽ ông đã sớm trở thành con chó gác cửa rồi.
Người đưa ra cái tên gọi “chó nhà có tang” để dành cho Khổng Tử cũng không phải là Lý Linh, mà cổ nhân từ xưa đã đánh giá như vậy. Bản thân Khổng Tử cũng tự nhận xét mình như vậy. Đi du thuyết khắp thiên hạ mong kiếm được chức quan, đến năm hơn 40 tuổi mà vẫn không có thành quả nào, lúc thất vọng tới cực độ, ông ta nói “Ta cùng đường rồi! Trong thiên hạ không có chỗ dung thân”. Chính từ việc này mà sau này hậu thế mới đánh giá ông ta là con chó nhà có tang. Nhưng đối với đám nhà nho vệ đạo đương thời mà nói, việc Khổng Tử tự nhận mình là chó nhà có tang chính là lời dặn dò của thánh nhân, bao hàm trong đó là bao nhiêu lời lẽ huyền diệu để trị quốc và giáo dục quốc nhân; mà Lý Linh gọi Khổng thánh nhân của họ là con chó nhà có tang chính là đại nghịch bất đạo, là một thứ rác rưởi không đáng để đọc. Thậm chí còn có những nhà nho phẫn nộ nói “Thầy Lý Linh điên rồi!”.
Bất kể cho bao nhiêu lời lẽ lăng mạ Lý Linh của đám nhà nho mới vì cuốn “Chó nhà có tang” thì tôi vẫn cho rằng cuốn sách mà ông viết, nhất là đoạn văn mở đầu rất chân thực mà xuất sắc, đã hơn hẳn rất nhiều những thứ nói về Khổng Tử của đám nhà nho mới như Tưởng Khánh… vậy nên có một số học giả nổi tiếng đánh giá rất cao cuốn sách này.
Nhà nghiên cứu lịch sử Ngô Tư trong bài viết “Tính khả thi của nhân nghĩa – bình luận về cuốn “Chó nhà có tang – tôi đọc Luận ngữ” của Lý Linh” có viết: “Tôi cho rằng Lý Linh đã làm một nghiên cứu tốt, không kể sau này chúng ta xây dựng nền văn hóa như thế nào, đều phải dựa trên những phiên bản thật đáng tin cậy. Với phiên bản Lý Linh thì tôi cho rằng nó còn lợi hại hơn cả của Chu Hy.”
Giáo sư Tiền Lý Quần ở khoa Trung văn Đại học Bắc Kinh trong bài viết “Phải làm gì với truyền thống từ Khổng Tử cho tới Lỗ Tấn – đọc “Chó nhà có tang – tôi đọc Luận ngữ” của Lý Linh” có nói: “Dưới góc nhìn của tôi, Lý Linh với tâm thế nghiên cứu từ trái tim tới trái tim và sự đồng cảm sâu sắc chính là đặc điểm lớn nhất của ông khi nói về “Luận ngữ”, cũng là một cống hiến của ông. Kết quả của quá trình này chính là tìm ra một Khổng Tử “là chó nhà có tang”… khi tôi đọc từ này, cảm giác có một chút châm biếm trong đó, nhưng càng có một cảm giác suy tư, một sự bi thương bao hàm ở bên trong.”
Trong một cuộc phỏng vấn ông Lưu Mộng Khê, giám đốc trung tâm nghiên cứu văn hóa Trung Quốc thuộc Viện Nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc đã tán dương Lý Linh đã có nghiên cứu công phu với lập luận vững chắc về Luận ngữ, đã trừ bỏ đi những thần thoại hóa cũng như tinh thần phê phán.
Giáo sư Tần Huy của Đại học Thanh Hoa trong bài viết “Luận ngữ – con đường trở thành kinh điển” đăng trên báo “Phương Nam cuối tuần” số ngày 12/07/2007 có đoạn viết: “Ngày nay có một bộ phận muốn đem “Luận ngữ” trở thành “Nho gia thánh kinh”, cũng giống như việc mấy mươi năm trước đem cuốn “Bản ghi chép những lời nói của Mao Chủ tịch (tức Mao tuyển) mỏng dính trở thành đỉnh cao của chủ nghĩa Mác. Ngày nay cuốn “Luận ngữ” cũng đang là món hàng bán chạy của Nho gia, so với việc tung hứng “Mao tuyển” thì kết quả thế nào? Là quảng bá hay là dẫm lên chủ nghĩa Mác?”
Với một Trung Hoa vốn có truyền thống sùng bái thánh nhân từ lâu, tự cổ chí kim trong mắt các nhà nho vệ đạo thì Khổng Tử là một thánh nhân không cần phải có chút hoài nghi bàn cãi nào cả, là người thầy đời đời của các đế vương, là đấng chí tôn với danh hiệu “Tố Vương”, là người mà mọi đế vương đều phải bái lạy với cái tên “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương”. Với Khang Hữu Vi (1858-1927, lãnh tụ phái duy tân ở Trung Quốc cuối thế kỷ 19) và giáo hội Khổng Giáo của ông ta thì Khổng Tử được tôn là giáo chủ vừa được tôn là thần thánh đầy quyền uy, ngày nay được tầng lớp nhà nho mới tôn làm biểu tượng văn hóa mới của Trung Hoa. Mỗi lời nói của Khổng Tử đều là những lời vàng trị nước cứu dân huyền diệu thâm thúy, cũng là đường lối tu thân dưỡng tính với mọi người. Lối bốc thơm phét lác nhất, ở thời cổ đại thì có câu “nửa bộ Luận ngữ cũng có thể trị được cả thiên hạ”. Ngày nay lại có thuyết “đạo lý của đức thánh Khổng trước quản cả 5000 năm, sau này cũng quản thêm 5000 năm nữa”. Lại có thuyết “không đọc sách Khổng Tử, không làm người nổi”. Đám học giả Nho Giáo đương thời còn không tiếc công sức bày ra tin vịt : vào năm 1988 có 75 người từng đoạt giải Nobel trên khắp thế giới tề tựu tại Pais, cùng bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng số một thế giới. Vãi quá!!!
Đối diện với những kẻ sùng bái thần thánh đã tẩu hỏa nhập ma như thế này, tôi chỉ muốn hỏi các nhà nho đương đại một câu phàm tục: “Trong mắt các vị thì Khổng Tử là thánh nhân, vậy lúc ngài đánh rắm thì có nhẹ nhàng êm đềm, mùi vị thơm ngát không? Những kẻ sùng bái thánh nhân đã mê muội tới mức không còn phân biệt nổi sự khác biệt giữa những câu nói hàng ngày và những lời đại nhân đại nghĩa nữa. Họ mang những câu nói thường ngày trong Luận ngữ trở thành những lời dạy tinh diệu của thánh nhân. Ví dụ trong Luận ngữ phần mở đầu: “子曰: 学而时 习之,不亦悅乎?有朋自远 方来,不亦乐 乎?” “Tử viết: Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ?” “Khổng tử nói: Học thì phải luyện tập, chẳng vui lắm sao? Có bạn hữu nơi xa đến thăm, chẳng mừng lắm sao?” Đây là những câu trong đời sống hàng ngày, có gì gọi là lời lẽ huyền diệu thâm ảo trong đó? Để mà lãng phí cả hơn 2000 năm với bao nhiêu trí tuệ để tìm hiểu, giải thích. Cho đến tận bây giờ còn đi giải thích sao? Giống như Chu Tác Nhân trong “Luận ngữ tiểu kí” đã nói: “Những cái Luận ngữ nói đa phần là đạo lý để con người tập làm người, hòa nhập vào xã hội… có thể giúp cho người đi sau có được những kinh nghiệm, nhưng không bao giờ được xem đó là những đạo lý kinh thiên nghĩa địa không bao giờ thay đổi giáo điều cả, càng không được xem đó là tinh hoa triết học chính trị có thể trị quốc bình thiên hạ được cả”. G.W.F. Hegel, triết gia lớn của Đức (được coi là người sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm Đức) cũng chỉ xem Luận ngữ như một cuốn sách ghi chép những đạo lý thường thức mà thôi.
Nếu như nói rằng vận mệnh của Khổng Tử trong thời Xuân Thu, giống như một con chó nhà có tang không đạt được tí quyền lực nào phải ngủ vùi thì chính Hán Vũ Đế với quyết định độc tôn Nho gia đã biến Khổng Lão Nhị thành Khổng Phu Tử, biến một bộ xương khô của chó nhà có tang thành con chó giữ cửa bảo vệ hoàng quyền cho chế độ độc tài chuyên chế phong kiến. Do Nho Giáo có lợi cho sự thống trị của giới cầm quyền, do nên địa vị của con chó giữ cửa cũng được tính là vững chắc, ngồi một mạch hơn 2000 năm. Được giới đọc sách tôn làm thần tượng, tung hô lên tận mây xanh, thậm chí làm bức tượng dát vàng trong tổ miếu hoàng gia. Đó cũng là lúc mà những trí thức và tư tưởng gia Trung Quốc khác rơi xuống địa ngục, biến thành nô tỳ của quyền lực. Giống như sử gia Tư Mã Thiên sau khi bị Hán Vũ Đế hoạn đã bi thống thốt lên: “Cha ta không lập công lao gì cũng được hoàng thượng ban cho phẫu phù và đan thư miễn tội. Chức quan quản lí sử sách và xem thiên văn, lịch pháp, cũng giống bọn thầy cúng tế trong cung, vốn là để hoàng thượng vui đùa, giống như bọn nhạc sư trong cung vậy, là nghề nghiệp mà ngay cả người thế tục cũng còn coi thường”.
Cho tới tận khi các cường quốc phương Tây mở ra cánh cửa Trung Quốc ra, thì những chế độ và hình thái ý thức truyền thống nhanh chóng bị vứt bỏ và suy vong. Các mạng Tân Hợi 1911 đã kết thúc thời đại phong kiến chuyên chế tập quyền, Nho gia cũng mất đi chỗ dựa chính trị. Từ đây chó giữ cửa lại quay lại làm chó nhà có tang. Cho dù cũng có một Viên Thế Khải cũng định mộng tưởng xưng đế với vở kịch tôn Khổng Giáo làm đầu, nhưng cũng chỉ là vở kịch ồn ào sớm chốc tan thành mây khói, bởi vì sự sụp đổ của chế độ phong kiến truyền thống và hình thái ý thức cũ là không thể tránh khỏi.
Theo tôi thì khi mất đi chỗ dựa quyền lực là một bất hạnh cho tầng lớp Nho gia truyền thống, từ con chó giữ cửa cho hoàng quyền lại quay về làm con chó lang thang. Tuy nhiên đối với quá trình chuyển hóa từ người đọc sách để trở thành tầng lớp trí thức mà nói thì đó lại là một vận may lớn cho giới trí thức Trung Quốc. Bởi vì khi không còn được nâng đỡ bởi quyền lực chuyên chế, cho dù là bị ép buộc hay tự nguyện thì họ càng có cơ hội nuôi dưỡng hình thành tinh thần phê phán độc lập. Điều đáng tiếc là số phận làm con chó lang thang của giới trí thức Trung Quốc chỉ kéo dài có nửa thế kỷ mà thôi. Với sự nắm quyền của chính quyền chuyên chế cộng sản ở Trung Hoa Đại Lục, giới trí thức đến làm chó lang thang còn không được. Đại bộ phận bị đàn áp, truy đuổi, đánh đập thành những con chó rơi xuống mương, một số may mắn hơn thì trở thành con chó giữ cửa trong chính quyền Mao Trạch Đông. Ví như Quách Mạt Nhược, ông ta thời Dân Quốc còn dám chửi cả Tưởng Giới Thạch, thế mà từ sau 1949 thì lại thành con chi chi trong tay Mao.
Khổng Tử trong lịch sử cận đại, hiện đại của Trung Quốc có một số phận hết sức quỷ dị bất thường, trước sau có hai phong trào “đánh đổ miếu nhà họ Khổng”. Lần đầu là phong trào Ngũ Tứ vào năm 1919, lần sau là phong trào phê Lâm phê Khổng vào năm 1974. Sau sự kiện 4/6/1989 thì giới trí thức Trung Quốc diễn ra phong trào tránh tiếp thu cái mới, họ xem hai phong trào Ngũ Tứ và phê Lâm phê Khổng đều là phản truyền thống và chối bỏ chúng, tuy nhiên thực tế thì hai phong trào này hoàn toàn khác nhau.
Đầu tiên, hai phong trào này có người phát động phong trào hoàn toàn khác nhau. Cuộc vận động Ngũ Tứ là được tiến hành từ dưới lên với sự vận động tự phát của văn hóa xã hội, nhất là đa phần người khởi xướng là tầng lớp trí thức mới hình thành, bọn họ tiếp thu những giá trị quan mới, tư duy mới, cách làm mới từ phương Tây, họ dùng những giá trị của Phương Tây để bàn thảo ngược trở lại những nguyên nhân làm cho xã hội Trung Quốc tụt hậu xa như thế. Bọn họ bất mãn với phái Dương Vụ cho rằng chỉ có sự tụt hậu về kĩ thuật cũng như phái Duy Tân với quan điểm chênh lệch về thể chế tụt hậu, họ cho rằng sự tụt hậu này do văn hóa gây ra. Ngược lại thì phong trào phê Lâm phê Khổng đượct tiến hành từ trên xuống nhằm khống chế các phong trào chính trị trong chế độ độc tài chuyên quyền. Nhất là người phát động ra nó là Mao không những dùng nó để nắm chắc tuyệt đối quyền lực, mà còn dùng tư tưởng Mao Trạch Đông đưa lên vị trí độc tôn thay thế tất cả những luồng tư tưởng khác, cho dù chúng đến từ bên ngoài hay từ chính nội tại Trung Quốc trước đây.
Thứ hai, trong hai cuộc vận động này thì tính chất phản Khổng cũng không giống nhau. Phong trào Ngũ Tứ với tầng lớp trí thức mới hình thành muốn đánh đổ miếu nhà họ Khổng, phát động một cuộc cách mạng văn hóa, đối tượng không phải là Khổng Tử thời Tiên Tần với âm thanh của trăm nhà đua tiếng, mà là Khổng Thánh Nhân đã độc tôn Nho học kể từ thời Hán Vũ Đế, muốn đánh đổ học thuyết độc quyền của con chó canh cửa cho hoàng quyền. Trong khi đó Mao Trạch Đông phát động phong trào “phê Lâm phê Khổng” lại không hề có tí gì gọi là động cơ cải cách văn hóa gì cả, mà hoàn toàn là một cuộc chiến tranh giành quyền lực chính trị. Ông ta đem việc đánh đổ Khổng Tử làm công cụ tranh giành chính trị trong nội bộ đảng. Ngoài việc triệt hạ triệt để Lâm Bưu, còn để cảnh cáo “nhà nho lớn trong nội bộ đảng” là Chu Ân Lai.
Nói một cách khác, hai cuộc vận động này về bản chất có sự khác biệt nhau rõ rệt: giai cấp trí thức mới trong tay không có tí quyền lực nào và lại quyền uy tuyệt đối trong tay như thời Tần Thủy Hoàng; cuộc vận động cách mạng tự phát và bàn tay khống chế phong trào cách mạng; cách mạng để tìm một lối thoát cho văn hóa Trung Hoa và một phong trào cách mạng để củng cố quyền lực tuyệt đối.
Cho nên đến nay, tôi vẫn tán thành chủ trương từ thời phong trào vận động Ngũ Tứ “đánh đổ miếu nhà họ Khổng” nhưng tôi cũng kiên quyết phản đối phong trào chính trị đánh đổ Khổng Tử trong thời kỳ Văn Cách.
Trong bài văn “Khổng Phu Tử ở Trung Quốc hiện đại” Lỗ Tấn có gọi Khổng Tử là Modern Khổng Tử, cũng là phê phán thói sùng bái thánh nhân trong chế độ phong kiến tập quyền truyền thống Trung Quốc. Ông viết: “Khổng Phu Tử ở Trung Quốc là kẻ được quyền thế nâng đỡ dậy, là thánh nhân của đám người cầm quyền hay đám đang muốn lên nắm quyền, giữa họ và dân chúng bình thường không có một chút quan hệ nào.” Với tôi mà nói, truyền thống tôn sùng thánh nhân ở Trung Quốc có thế nói là công trình văn hóa giả mạo lớn nhất từ trước tới nay, được các hoàng đế từ bao đời nay cùng đám văn nhân dưới trướng nhất tề dựng lên. Lại được đám đế vương cùng các nhà nho phong thánh cho Khổng Tử, một Khổng Tử đã sớm không còn là Khổng Tử thật, thậm chí còn được xem là món hàng giả mạo kém chất lượng nhất từ trước tới nay.
Kỳ thật, nếu chậm rãi đọc kỹ các tác phẩm của những triết gia thời Tiên Tần thì có thể thấy, học thuyết của thánh nhân Khổng Tử cũng chỉ là những lời rao giảng đạo đức bình thường nhất. So với Trang Tử thì Khổng Tử không có được cái tính nhẹ nhàng siêu thoát, phiêu diêu cũng như trí tưởng tượng kỳ vĩ đẹp đẽ, ngôn ngữ cũng không trôi chảy thanh thoát, một trí tuệ triết học và văn học chưa thoát tục. Càng không thể có chuyện nhắc nhở ý thức thanh tỉnh để thoát khỏi bi kịch của nhân loại. So với Mạnh Tử thì Khổng Tử thiếu mất cái khí độ của trang nam tử, khoáng đạt mà hoành tráng, lại càng thiếu thái độ tự tôn trước quyền lực, thiếu mất sự quan tâm, coi trọng dân chúng “Lấy dân làm đầu, xã tắc làm thứ, quân vương xếp cuối cùng”. So sánh với Hàn Phi Tử, Khổng Từ là kẻ hư ngụy, xảo trá, không có được cái tính thẳng thắn, tài hoa châm biếm sắc bén như vậy. So với Mặc Tử thì Khổng Tử không có một hệ thống tư tưởng đạo đức nào hướng tới sự bình đẳng của người dân và đám sỹ tốt, không có một lối logic cụ thể nào. Tất cả những gì Khổng Tử nói đều thể hiện sự thiếu sót một trí tuệ lớn mà chỉ có những lối tư duy khôn vặt, lại toàn hướng tới danh lợi công trạng, hết sức gian xảo, lại thiếu mất tính thẩm mỹ và sâu sắc của triết học, cũng không có cái nhân cách cao quý và bụng dạ khoáng đạt. Ông ta đi khắp thiên hạ để mong tìm được chức quan, sau khi thất bại không được gì bèn trở thành giáo chủ đi rao giảng đạo đức, cái đạo người thầy tốt, dạy người không mệ mỏi của ông ta là xuất phán từ nhân cách con người cuồng vọng và thiển cận. Cái đạo “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn – thời thịnh trị thì dấn thân với đời, thời loạn lạc thì lùi về quy ẩn” chính là điển hình của chủ nghĩa cơ hội, thể hiện sự vô trách nhiệm.
Càng đáng buồn hơn là Khổng Tử với tinh thần hết sức giảo hoạt, vô trách nhiệm và hết sức hám danh lợi này lại trở thành nền tảng, hình mẫu cho cả dân tộc Trung Hoa trong mấy nghìn năm qua. Dân tộc nào thì sẽ có thánh nhân đó, thánh nhân như thế nào thì sẽ nhào nặn ra dân tộc đó, đây chính là căn nguyên nô tính của người Trung Quốc bắt đầu từ đây, di sản văn hóa này từ khi sinh ra đã truyền lại cho đám con cháu tới tận ngày nay.
Ý nghĩa của Lý Linh khi bàn về Luận ngữ, một là nhắm đến những phần tử dân tộc chủ nghĩa cực đoan đang trỗi dậy. Cuốn sách này tuy là một tác phẩm nghiêm cứu học thuật nhằm trả lại chân diện cho Khổng Tử, bóc tách những điều giả dối hư ảo mà đời đời các nhà nho đã thần thánh hóa, đồng thời cũng thể hiện sự quan tâm của ông tới hiện thực xã hội thông qua những nghi vấn trực tiếp về cơn sốt học tập kinh sách cổ, sùng bái Khổng Tử, gián tiếp nghi ngờ cái gọi là “sự trỗi dậy của nước lớn”. Khổng Tử trong con mắt Lý Linh chỉ là “một con chó nhà có tang không tim được ngôi nhà tinh thần trong thế giới thực” mà thôi, ông phê phán lũ nhà nho rởm đời đem Khổng Tử biến thành cứu tinh của nhân loại. Giống như lời tự bạch của tác giả: “Giương cao ngọn cờ Khổng Tử đem ra khắp thế giới ư, tôi không quan tâm” “Khổng Tử không thể cứu rỗi được Trung Quốc, cũng không thể cứu cả thế giới”.
Thứ hai là phê phán truyền thống bợ đỡ quyền lực của giới trí thức Trung Quốc, hiện tại đám nhà nho mới đang câu kết với chính quyền, bọn họ muốn độc tôn Khổng học, hô hào Nho Giáo, lại không chú trọng tới ảnh hưởng của Nho Giáo trong việc xây dựng lại hệ thống đạo đức vốn đã tan rã từ lâu, mà chỉ chăm chăm vào bốn công năng chính trị của Nho Giáo là “tu tề trị bình (tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ), để thực hiện vương đạo là hợp nhất tôn giáo và chính trị; bọn họ muốn đẩy cho Khổng Tử cái địa vị “Đế vương sư” hay “Quốc sư”, hô hào đem Nho giáo trở thành Quốc giáo, họ hi vọng chính phủ có những chính sách đặc biệt để hỗ trợ nền quốc học, thực tế thì đám nhà nho này đang muốn làm quân sư của chính quyền đương đại, muốn được như Platon với quyền lực nằm trong tay nhà hiền triết vĩ đại. Thế là đám nhà Nho này nhào nặn lại Khổng Tử giống như thời Hán Vũ Đế, muốn một lần nữa thực hiện mô hình “Vứt bỏ tư tưởng trăm nhà, độc tôn Nho gia”, hết sức hà hơi tiếp sức cho hình thái ý thức hóa kiểu Khổng Tử, muốn đưa một người bình thường biến thành thần thánh kiểu truyền thống.
Lý Linh cho rằng, trong lịch sử Trung Quốc thì đám thành phần trí thức với nhiều tư tưởng kiểu Utopia chỉ thực sự hữu dụng khi trở thành một bộ phận độc lập với quyền lực và trở thành lực lượng đối lập với chức năng phê phán. Một khi những phần tử này nắm quyền lực trong tay thì lại trở thành mối nguy hiểm của quốc gia, thậm chí là thảm họa. Lý Linh viết: “Tầng lớp trí thức với đầu óc nhanh nhạy, tầm mắt sáng, họ chuyên chế hơn bất cứ ai. Nếu như trong tay họ có thanh kiếm thì những người mất mạng đầu tiên chính là những trí thức khác.” Nguyên nhân vì giới trí thức Trung Quốc đều rất cuồng vọng, tự cho bản thân là “có trí tuệ nhất, có đạo đức nhất, có lí tưởng nhất”. Tự cho phép bản thân “lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ” . “Có thể cứu cả thiên hạ thoát khỏi cái họa binh đao thiên tai, xây dựng thiên đường nơi hạ giới. “Nho gia đời Tống là Trương Tải có bốn câu nói: “Vì trời đất xây dựng tấm lòng, vì dân chúng lập mệnh, vì đức thánh nhân tiếp tục học tập, vì nghìn vạn thế hệ sau tạo dựng thái bình.” Đến tận ngày nay vẫn còn rất nhiều phần tử trí thức Trung Quốc khắc cốt ghi tâm điều này, cho thấy truyền thống cuồng vọng của tầng lớp sỹ phu Trung Quốc còn thâm căn cố đế.
Từ những cơ sở này, Lý Linh muốn cảnh cáo tới tầng lớp trí thức Trung Quốc đương đại hãy rút ra bài học từ những giáo huấn lịch sử trên, cần phải biết giữ khoảng cách với nhà cầm quyền, từ bỏ dã tâm “Đế vương sư”, chấm dứt việc chính trị hóa mớ kinh sách cổ điển, cần phải duy trì tính độc lập của kiến thức, tư tưởng và học thuật, kích thích tính sáng tạo của giới trí thức. Như trong lời mở đầu, Lý Linh có nói: “Đọc Luận ngữ thì tâm tình phải ôn hòa, một khi đã chính trị hóa, đạo đức hóa, tôn giáo hóa thì không còn là nó nguyên bản. Chúng ta cần tìm là một Khổng Tử thật, nhất là trong một thế giới mà lễ giáo băng hoại”. Nếu không thì giới trí thức Trung Quốc ngày nay sẽ giống như tầng lớp trí thức ngày xưa, không thể thoát khỏi vận mệnh cam tâm làm con chó săn cho kẻ khác. Sự khác biệt chỉ nằm ở chỗ khi không còn được sự sủng ái thì lại giống như con chó nhà có tang, khi được coi trọng thì lại giống con chó giữ cửa trúng xổ số vậy.
Tôi cho rằng bi kịch lớn nhất mà nền văn hóa Trung Quốc gặp phải không phải là việc Tần Thủy Hoàng đốt sách và chôn sống các nhà nho, mà là việc Hán Vũ Đế thi hành “cấm cửa trăm nhà đua tiếng, độc tôn Nho giáo”, sau khi được Đổng Trọng Thư sửa đổi học thuyết Nho gia, đã đưa một hệ thống được xây dựng dựa trên bạo lực của chế độ phong kiến chuyên chế miêu tả thành thiên đạo, “Thiên bất biến đạo diệc bất biến – Trời không đổi thì đạo lý cũng không thay đổi” đã trở thành lý luận căn bản nhằm hợp pháp hóa thể chế phong kiến tập quyền chuyên chế, cung cấp cho chế độ hoàng quyền ở nhân gian một vũ trụ luận tồn tại vĩnh hằng, khoác một tấm áo nhân nghĩa mềm mại lên tấm thân trần truồng của thể chế chuyên chế. Tất nhiên đám đế vương đã nhận ra tác dụng mị dân lừa bịp của tấm áo khoác ngoài này, dần dần xác lập nên hình thái ý thức độc nhất của giới quan chức, trở thành “con đường truyền thống” của đám học trò với mong ước an thân lập mệnh, cũng chính là truyền thống làm thế nào để biến thành “hảo nô tài” . Chính như Mao Trạch Đông đã có câu nói định vị giới trí thức: “Khi da không còn, long báo vào đâu? – Khi giới cầm quyền không còn, lũ trí thức dựa vào cái gì đây ? “
Đối với giới trí thức Trung Quốc đương đại, việc quan trọng đầu tiên cần làm không phải là bảo vệ một nền văn hóa sùng bái thánh nhân truyền thống dưới sự nâng đỡ của thể chế độc tài cầm quyền, mà là thoát khỏi vị trí phục dịch cho quyền lực, kế thừa truyền thống mới từ phong trào Ngũ Tứ: “Tự do về tư tưởng, độc lập về nhân cách”